Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

Tuần đầu năm 2012


            Chào mừng năm mới 2012

20:40 Dec 31 2011
Chep cho ngay mai:
Chúa Nhật: Đức Maria Mẹ Thiên Chúa
(18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.
22 Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: 23 "Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này:
24 "Nguyện Ðức Chúa chúc lành và gìn giữ anh (em)!
25 Nguyện Ðức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)!
26 Nguyện Ðức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)! (Ds 6, 22- 26) (lịch ghi 22- 27)
(4) Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, (5) để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. (6) Ðể chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Ápba, Cha ơi!" (7) Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.(Gl 4, 4- 7)

(16) Họ liền hối hả ra đi. Ðến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. (17) Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. (18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. (19) Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. (20) Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
(21) Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu; đó là tên mà sứ thần đã đặt, trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.(Lc 2, 16- 21)
- “Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên”. Các người chăn chiên đã thuật chuyện gì mà ai nấy đều ngạc nhiên? Xin mời đọc đoạn Tin Mừng liền trước bài hôm nay thì sẽ rõ (Lc 2, 8- 15): 
"8) Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. (9) Và kìa sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. (10) Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: (11) Hôm nay, một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ðavít, Người là Ðấng Kitô Ðức Chúa. (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ". (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
(14) Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
(15) Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: "Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết"
Chúa Jesus là Đấng Cứu Độ, Người là Đấng Kitô Đức Chúa, Người đã sinh ra cho muôn dân trong đó có tôi có bạn.
Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu tức là Mẹ Thiên Chúa 

Nghe bài hát: Dâng Mẹ 
 ________________

Tại sao mấy hôm nay sóng cứ chặn blospot và
một số trang khac... ?
__________________________


21:15 Jan 2 2012
Chep cho thu Ba ngay mai: kinh Danh Thanh Chua Jesus


Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người
là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn"
(29) Nếu anh em biết Thiên Chúa là Ðấng Công Chính,
anh em cũng phải biết rằng:
phàm ai sống công chính
thì đã được Thiên Chúa sinh ra.
(1) Anh em hãy xem
Chúa Cha yêu chúng ta dường nào,
đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa
mà thực sự chúng ta làcon Thiên Chúa.
Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta,
là vì thế gian đã không biết Người.
(2) Anh em thân mến,
hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa;
nhưng chúng ta sẽ như thế nào,
điều ấy chưa được bày tỏ.
Chúng ta biết rằng
khi Ðức Kitô xuất hiện,
chúng ta sẽ nên giống như Người,
vì Người thế nào,
chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
(3) Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Ðức Kitô
thì làm cho mình nên thanh sạch
như Người là Ðấng thanh sạch.
(4) Phàm ai phạm tội
thì cũng chống lại luật Thiên Chúa,
vì tội lỗi chống lại luật Thiên Chúa.
(5) Thế mà anh em biết:
Ðức Giêsu đã xuất hiện
để xóa bỏ tội lỗi,
và nơi Người không có tội lỗi.
(6) Phàm ai ở lại trong Người
thì không phạm tội.
Còn ai phạm tội
thì đã không thấy Người
và cũng chẳng biết Người.(1Ga 2, 29;3, 6)
(29) Hôm sau, ông Gioan thấy Ðức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian. (30) Chính Người là Ðấng tôi đã nói tới khi bảo rằng:
Có người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi,
vì có trước tôi.
(31) Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ítraen, tôi đến làm phép rửa trong nước." (32) Ông Gioan còn làm chứng: "Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. (33) Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Ðấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần". (34) Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn".(Ga 1, 29- 34)
- Ngày xưa người ta dùng chiên để tế lễ Javê Thiên Chúa (người ta đốt 1 phần cho hương  bay lên phần còn lại để ăn).  Lời tiên báo của ông Gioan rằng Chúa Jesus là Chiên Thiên Chúa đã thành sự thật: Chúa đã tự hiến tế  thành của lễ chuộc tội cho nhân loại. Người đã lấy chính mạng sống mình làm của lễ toàn thiêu.
Giờ đây, nơi này, tôi phải lấy gì làm của lễ dâng lên Thiên Chúa?  Tôi có thể từ bỏ ý riêng mình, tôi có thể hãm mình hy sinh và làm những việc lành phúc đức. Tôi có thể lấy mồ hôi nước mắt và cả máu cả con người mình làm của lễ, nếu cần thiết.
 “Máu chiên bò Chúa không ưa, của lễ toàn thiêu Chúa không nhận, thì nay con đến để làm theo ý Cha…” (lời 1 bài thánh ca)
_________
21:40 Jan 3 2012
Chep cho thu Tu ngay mai

"Các anh tìm gì thế?"

(7) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
đừng để ai làm cho anh em đi lạc đường.
Ai sống công chính, thì là người công chính,
như Ðức Giêsu là Ðấng Công Chính.
(8) Ai phạm tội, thì là người của ma quỷ,
vì ma quỷ phạm tội
từ lúc khởi đầu.
Sỡ dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện,
là để phá hủy công việc của ma quỷ.
(9) Phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra
thì không phạm tội,
vì mầm sống của Thiên Chúa
ở lại trong người ấy,
và người ấy không thể phạm tội,
vì đã được Thiên Chúa sinh ra.
(10) Căn cứ vào điều này mà người ta phân biệt
con cái Thiên Chúa với con cái ma quỷ:
phàm ai không sống công chính
thì không thuộc về Thiên Chúa;
ai không yêu thương anh em mình, thì cũng vậy.(1Ga 3, 7- 10)
(35) Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. (36) Thấy Ðức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa". (37) Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Ðức Giêsu. (38) Ðức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: "Các anh tìm gì thế?" Họ đáp: "Thưa Rápbi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?" (39) Người bảo họ: "Ðến mà xem". Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều.
(40) Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Ðức Giêsu. (41) Trước hết, ông gặp em mình là ông Simon và nói: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Mêsia" (nghĩa là Ðấng Kitô). (42) Rồi ông dẫn em mình đến gặp Ðức Giêsu. Ðức Giêsu nhìn ông Simon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha" (tức là Phêrô).(Ga 1, 35- 42)

 -Ai cũng muốn làm con cái Thiên Chúa, không ai muốn làm con cái ma quỷ.
Muốn làm con cái Thiên Chúa nhưng lại không chịu sống công chính! Muốn làm con cái Thiên Chúa nhưng lại không dứt khoát đoạn tuyệt với tội lỗi! Muốn làm con cái Thiên Chúa nhưng lại không  yêu thương anh em mình! Đó là vấn nạn của tôi và của mọi người,  làm sao để tôi vượt qua?
Nơi đây, lúc này đây nếu Chúa Jesus hỏi tôi và bạn: "Các anh tìm gì thế?", bạn và tôi có thể trả lời dứt khoát như ông Anrê: "Thưa Rápbi, Thầy ở đâu?". Và nếu Chúa nói: "Ðến mà xem" thì tôi và bạn có mau chân lên đường đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ?
_____________________

17:00 Jan 4 2012
Chep cho thu Nam ngay mai
"Ðây đích thật là một người Ítraen,
lòng dạ không có gì gian dối"

11) Quả thế, đây là lời loan báo cho anh em đã nghe
từ lúc khởi đầu:
chúng ta hãy yêu thương nhau;
(12) chúng ta đừng bắt chước Cain:
nó là người của Ác thần,
nên đã giết em mình.
Tại sao nó đã giết em?
Bởi vì các việc nó làm thì xấu xa,
còn các việc em nó làm thì công chính.
(13) Thưa anh em, anh em đừng ngạc nhiên,
nếu thế gian ghét anh em.
(14) Chúng ta biết rằng:
chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống,
vì chúng ta yêu thương anh em.
Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết.
(15) Phàm ai ghét anh em mình
thì là kẻ sát nhân.
Và anh em biết:
không kẻ sát nhân nào
có sự sống đời đời ở lại trong nó.
(16) Căn cứ vào điều này,
chúng ta biết được tình yêu là gì:
đó là Ðức Kitô đã thí mạng vì chúng ta.
Như vậy, cả chúng ta nữa,
chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em.
(17) Nếu ai có của cải thế gian
và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu,
mà chẳng động lòng thương,
thì làm sao tình yêu Thiên Chúa
ở lại trong người ấy được?
(18) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi,
nhưng phải yêu thương cách chân thật
và bằng việc làm.
(19) Căn cứ vào điều đó,
chúng ta sẽ biết rằng
chúng ta đứng về phía sự thật,
và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa.
(20) Vì nếu lòng chúng ta
có cáo tội chúng ta,
Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta,
và người biết hết mọi sự.
(21) Anh em thân mến,
nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta,
chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa.(1Ga 3, 11- 21)
(43) Hôm sau, Ðức Giêsu quyết định đi tới miền Galilê. Người gặp ông Philípphê và nói: "Anh hãy theo tôi". (44) Ông Philípphê là người Bétxaiđa, cùng quê với các ông Anrê và Phêrô.
(45) Ông Philípphê gặp ông Nathanaen và nói: "Ðấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nadarét". (46) Ông Nathanaen liền bảo: "Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?" Ông Philípphê trả lời: "Cứ đến mà xem!" (47) Ðức Giêsu thấy ông Nathanaen tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: "Ðây đích thật là một người Ítraen, lòng dạ không có gì gian dối". (48) Ông Nathanaen hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Ðức Giêsu trả lời: "Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi". (49) Ông Nathanaen nói: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ítraen!" (50) Ðức Giêsu đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa". (51) Người lại nói: "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người".(Ga 1, 43- 51)
 (13) Thưa anh em, anh em đừng ngạc nhiên,
nếu thế gian ghét anh em.
(17) Nếu ai có của cải thế gian
và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu,
mà chẳng động lòng thương,
thì làm sao tình yêu Thiên Chúa
ở lại trong người ấy được?

Tôi phải sống như thế nào để ai đó có thể giới thiệu: "Ðây đích thật là một người Việt Nam, lòng dạ không có gì gian dối"?
__________________________

17:05 Jan 5 2012
Chep cho ngay mai thu Sau dau thang:

Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
và sự sống ấy ở trong Con của Người.

(5) Ai là kẻ thắng được thế gian,
nếu không phải là người tin rằng
Ðức Giêsu là con Thiên Chúa?
(6) Chính Ðức Giêsu Kitô là Ðấng đã đến,
nhờ nước và máu;
không phải chỉ trong nước mà thôi,
nhưng trong nước và trong máu.
Chính Thần Khí là chứng nhân,
và Thần Khí là sự thật.
(7) Có ba chứng nhân:
(8) Thần Khí, nước và máu.
Cả ba cùng làm chứng một điều.
(9) Chúng ta vẫn nhận lời chứng của người phàm,
thế mà lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn,
vì đó là lời chứng của Thiên Chúa,
lời Thiên Chúa đã làm chứng về Con của Người.
(10) Ai tin vào Con Thiên Chúa,
thì có lời chứng ấy nơi mình.
Ai không tin Thiên Chúa,
thì coi Thiên Chúa là kẻ nói dối,
vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa
đã làm chứng về Con của Người.
(11) Lời chứng đó là thế này:
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
và sự sống ấy ở trong Con của Người.
(12) Ai có Chúa Con thì có sự sống;
ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống.
(13) Tôi đã viết những điều đó cho anh em
là những người tin vào danh Con Thiên Chúa,
để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời. (1Ga 5, 5- 13)
(6) Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. (7) Ông rao giảng rằng: "Có Ðấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. (8) Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần".

(9) Hồi ấy, Ðức Giêsu từ Nadarét miền Galilê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan. (10) Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. (11) Lại có tiếng từ trời phán rằng: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con." (Mc 1, 6- 11)
- (11) Lời chứng đó là thế này:
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
và sự sống ấy ở trong Con của Người.
(12) Ai có Chúa Con thì có sự sống;
ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống.
(13) Tôi đã viết những điều đó cho anh em
là những người tin vào danh Con Thiên Chúa,
để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời.(1Ga 5, 11- 13)
Tôi có được sự sống đời đời không? Tôi có muốn sự sống đời đời không? - Sự sống đời đời trong tôi tùy thuộc tôi có tin vào Con Thiên Chúa khôn 

 _________________

13:40 Jan 6 2012
Chep cho ngay mai, thu Bay dau thang

"Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo".

(14) Lý do khiến chúng ta được mạnh dạn
trước mặt Thiên Chúa, đó là:
Người nhậm lời chúng ta,
khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người.
(15) Nếu chúng ta biết rằng
Người nhậm mọi lời chúng ta xin,
thì chúng ta cũng biết rằng
chúng ta sẽ được những gì
chúng ta đã xin Người.
(16) Nếu ai biết anh em mình phạm thứ tội
không đưa đến cái chết,
thì hãy cầu xin,
và Thiên Chúa sẽ ban sự sống cho người anh em ấy;
đó là nói về những ai phạm thứ tội
không đưa đến cái chết.
Có một thứ tội đưa đến cái chết,
tôi không bảo phải cầu xin cho thứ tội ấy.
(17) Mọi điều bất chính đều là tội,
nhưng có một cái tội không đưa đến cái chết.
Tóm lược bức thư
(18) Chúng ta biết rằng
phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra,
thì không phạm tội;
nhưng có Ðấng Thiên Chúa đã sinh ra
giữ gìn người ấy,
và Ác thần không đụng đến người ấy được.
(19) Chúng ta biết rằng
chúng ta thuộc về Thiên Chúa,
còn tất cả thế gian
đều nằm dưới ách thống trị của Ác thần.
(20) Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến
và ban cho chúng ta trí khôn để biết Thiên Chúa thật.
Chúng ta ở trong Thiên Chúa thật,
ở trong Con của Người là Ðức Giêsu Kitô.
Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật
và là sự sống đời đời.
(21) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
hãy tránh xa các tà thần! (1Ga 5, 14- 21)
(1) Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Ðức Giêsu. (2) Ðức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự. (3) Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Ðức Giêsu nói với Người: "Họ hết rượu rồi". (4) Ðức Giêsu đáp: "Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến". (5) Thân mẫu Người nói với gia nhân: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo".
(6) Ở đó có đặt sáu chum bằng đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Dothái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. (7) Ðức Giêsu bảo họ: "Các anh đổ đầy nước vào chum đi!" Và họ đổ đầy tới miệng. (8) Rồi Người nói với họ: "Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc". Họ liền đem cho ông. (9) Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại (10) và nói: "Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến mãi bây giờ". (11) Ðức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người. (12) Sau đó, Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Caphácnaum và ở lại đó ít ngày.(Ga 2, 1- 12)
"Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo". Tôi có xác tín và làm theo những gì Chúa Jesus bảo? Tôi có luôn cậy nhờ Đức Maria cầu thay nguyện giúp với Chúa Jesus mỗi khi tôi gặp khó khăn?   
Tôi có dùng trí khôn Thiên Chúa ban cho để nhận biết Thiên Chúa thật? Tôi có biết tôi được ở trong Thiên Chúa thật?
(20) Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến
và ban cho chúng ta trí khôn để biết Thiên Chúa thật.
Chúng ta ở trong Thiên Chúa thật,
ở trong Con của Người là Ðức Giêsu Kitô.
Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật
và là sự sống đời đời. (1Ga 5, 20)

Cau chuyen dau tuan

Trung Quốc: Chính quyền thừa nhận dân làng Ô Khảm bị cướp đất

Theo báo chí chính thức, cuộc phản kháng của dân làng Ô Khảm là có giá trị. Đơn kiện cán bộ địa phương cướp đất đã được ủy ban điều tra chấp thuận và chính quyền đã trả tự do cho ba nông dân lãnh đạo cùng với thi hài của ông Tiết Kim Ba, thiệt mạng trong lúc bị giam cầm.
clip_image001
Dân làng Ô Khảm, Lục Phong, Quảng Đông, Trung Quốc biểu tình ngày 21/12/2011. REUTERS

Tân Hoa Xã trích nguồn tin điều tra công nhận rằng việc dân làng Ô Khảm, tỉnh Quảng Đông than phiền “những vụ sai trái liên quan đến sử dụng đất và bồi hoàn tài chính” là “chính đáng”.
Trưởng ban điều tra, cũng là đương kim Phó chủ tịch Ủy ban địa ốc và Tài nguyên Thiên nhiên của tỉnh Quảng Đông thừa nhận, một công ty quản lý đất đai đã sử dụng một diện tích đất nhiều hơn là quyết định của chính phủ, trong khi cơ quan đặc trách bồi thường đã không tôn trọng kỳ hạn.
Một “sai trái” khác là một cựu Bí thư xã đã dùng tiền hối lộ để mua xe cho cá nhân mình.
Thông tin dân làng Ô Khảm chống tham nhũng từ 10 năm nay hoàn toàn không được báo chí chính thức đề cập. Đến tháng 9 năm nay, tình hình trở thành nóng bỏng với nhiều cuộc biểu tình và đàn áp biểu tình.
Khi bốn dân làng bị bắt giam và một trong những người lãnh đạo là ông Tiết Kim Ba chết trong lúc bị bắt thì toàn bộ dân làng nổi dậy đuổi toàn thể cán bộ chính quyền ra khỏi làng và bầu ban đại diện mới.
Chính quyền Quảng Đông đã tăng viện hàng ngàn công an vũ trang bao vây làng, cắt đứt internet, nhưng không làm nao núng những nông dân đã mất hết ruộng cày.
Cho đến khi dân làng đe dọa kéo lên huyện và phóng viên quốc tế đến tận nơi thì lúc đó chính quyền mới nhượng bộ, gởi cán bộ xuống hòa giải và thu thập nguyện vọng của dân bị chà đạp suốt 10 năm qua.
T. A.
Nguồn: Viet.rfi.fr

  Cau chuyen giua tuan

Nền văn hóa của tự do       (bai kha dai)

Mario Vargas Llosa

Phạm Nguyên Trường dịch từ foreignpolicy.com
clip_image002
Những cuộc công kích hiệu quả nhất nhằm chống lại quá trình toàn cầu hóa thường lại không phải là những cuộc công kích liên quan tới kinh tế học. Mà là những cuộc công kích về mặt xã hội, đạo đức, và trên hết là lĩnh vực văn hóa. Những luận cứ này từng nổi lên trong những vụ lộn xộn ở Seattle vào năm 1999 và lại vang lên ở Davos, ở Bangkok, và Prague trong thời gian gần đây. Họ nói như sau:
Sự biến mất của các đường biên giới quốc gia và giới quyền uy trên thế giới gắn bó với thương trường sẽ giáng những đòn chí tử vào nền văn hóa khu vực và quốc gia, vào truyền thống, thói quen, truyền thuyết và tập tục, tức là những thứ quyết định bản sắc văn hóa của đất nước và khu vực. Vì đa số các nước và các khu vực trên thế giới không đủ sức chống lại sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa từ các nước đã phát triển – mà cụ thể là từ siêu cường Mỹ – nước chắc chắn sẽ mở đường cho các công ty đa quốc gia cực kỳ lớn, nền văn hóa Bắc Mỹ cuối cùng sẽ buộc người ta phải chấp nhận nó, nó sẽ định ra tiêu chuẩn cho thế giới và xóa sổ sự đa dạng của những nền văn hóa khác nhau.

Theo cách này, tất cả các dân tộc, chứ không chỉ các dân tộc nhỏ và yếu, sẽ đánh mất bản sắc, sẽ đánh mất tâm hồn mình và chỉ còn các thuộc địa trong thế kỉ XXI – những thây ma hay những hình nộm được làm theo những tiêu chuẩn văn hóa của chủ nghĩa thực dân mới, đấy là chủ nghĩa thực dân mà ngòai việc cai trị thế giới bằng đồng vốn, sức mạnh quân sự và kiến thức khoa học của nó, còn áp đặt cho người ta ngôn ngữ, cách tư duy, niềm tin, thú vui và ước mơ của nó nữa.
Cơn ác mộng hay là điều hoang tưởng theo nghĩa tiêu cực về một thế giới mà do toàn cầu hóa đang đánh mất dần sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, đang bị Mỹ xâm lược về mặt văn hóa không chỉ là địa hạt của các chính trị gia tả khuynh, luyến tiếc Marx, Mao hay Che Guevara. Cơn mê sảng về việc bị ngược đãi – do lòng thù hận người khổng lồ Bắc Mỹ mà ra – còn được thể hiện rõ ở cả những nước đã phát triển và những dân tộc có nền văn hóa cao, được cả các nhóm tả, trung dung và hữu khuynh chia sẻ nữa.
Khét tiếng nhất là nước Pháp, ở đây chúng ta thường thấy chính phủ tung ra những chiến dịch nhằm bảo vệ “bản sắc văn hóa Pháp”, một nền văn hóa được cho là đang bị quá trình toàn cầu hóa đe dọa. Một loạt các nhà tri thức và chính trị gia Pháp lo lắng về khả năng là cái vùng đất từng sinh ra Montaigne, Descartes, Racine, và Baudelaire – và đất nước đã có một thời gian dài từng là người đưa ra tiếng nói cuối cùng về thời trang, tư duy, nghệ thuật, ẩm thực và về tất cả những lĩnh vực tinh thần khác – có thể bị những McDonald’s, Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken, rock, rap, và phim ảnh của Hollywood, quần bò, bánh sneakers, áo T-shirts xâm lấn. Nỗi sợ này đã dẫn tới, thí dụ, những khoản tài trợ rất lớn của Pháp cho ngành công nghiệp điện ảnh và đòi hỏi các rạp chiếu bóng phải chiếu một số lượng phim trong nước và hạn chế nhập phim Mỹ. Nỗi sợ này còn là lý do vì sao các chính quyền địa phương ban hành những quy định xử phạt nặng những băng rôn quảng cáo làm ô uế ngôn ngữ của Molière bằng những từ ngữ tiếng Anh (mặc dù, nếu nhìn vào vỉa hè các đường phố ở Paris thì thấy rằng những quy định như thế cũng không được người ta tôn trọng cho lắm). Đấy là lí do vì sao José Bové, một điền chủ có thái độ bài xích các món ăn tạp nham (ngụ ý thức ăn nhanh của Mỹ – ND), trở thành một nhân vật nổi tiếng ở Pháp. Và việc ông ta bị bắt giam ba tháng trong thời gian gần đây có vẻ như chỉ làm cho ông ta nổi tiếng thêm mà thôi.
Nhưng tôi tin rằng luận cứ chống toàn cầu hóa như thế là không thể chấp nhận được, chúng ta phải công nhận rằng nó ẩn chứa một sự thật không thể bác bỏ được. Trong thế kỷ này, cái thế giới chúng ta sống sẽ kém sinh động và không có nhiều màu sắc như là cái thế giới mà chúng ta đã bỏ lại phía sau. Những buổi lễ hội, đồ trang sức, phong tục, nghi lễ, nghi thức và tín ngưỡng, tức là những thứ đã tạo cho nhân loại sự khác biệt mang màu sắc dân tộc và văn hóa dân gian, đang dần dần biến mất hoặc sẽ thu mình vào trong những nhóm thiểu số, trong khi phần lớn xã hội từ bỏ chúng và chấp nhận những thứ khác, phù hợp hơn với thời đại của chúng ta. Tất cả các nước trên thế giới đang trải qua quá trình này, nhanh chậm khác nhau, nhưng đấy không phải là do toàn cầu hóa. Mà đấy là do quá trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa là kết quả chứ không phải là nguyên nhân. Có thể khóc than, dĩ nhiên là như thế, rằng quá trình này đang diễn ra và có thể nuối tiếc về cuộc sống của một thời đã qua, mà với những tiện nghi của ngày hôm nay dường như đấy là cuộc sống vui vẻ, độc đáo và đầy màu sắc. Nhưng đây là quá trình không thể nào tránh được.
Những chế độ toàn trị như Cuba hay Bắc Hàn sợ rằng mở cửa sẽ là tự sát, họ tìm cách bế quan tỏa cảng, ban hành đủ thứ quy định kiểu cấm đoán và chỉ trích hiện đại hóa. Nhưng ngay cả những nước đó cũng không ngăn cản được sự thẩm thấu một cách từ từ của quá trình hiện đại hóa và nó sẽ gặm nhấm dần cái gọi là bản sắc văn hóa của họ. Về lý thuyết, một đất nước có thể giữ được bản sắc của mình, nhưng với điều kiện là họ phải sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn, chấm dứt mọi trao đổi với các dân tộc khác và thực hiện một nền kinh tế tự cấp tự túc – giống như một vài bộ lạc ở Châu Phi hay những bộ lạc sống trong rừng già Amazon vậy. Bản sắc văn hóa dưới hình thức như thế sẽ đưa xã hội trở lại với cách sống của thời tiền sử.
Đúng là hiện đại hóa làm cho nhiều lối sống truyền thống không thể tồn tại được. Nhưng đồng thời nó lại mở ra cơ hội và làm cho cả xã hội tiến những bước quan trọng về phía trước. Đấy là lý do vì sao khi có cơ hội tự do lựa chọn quần chúng lại ủng hộ hiện đại hóa mà không hề có chút lưỡng lự nào, đôi khi họ còn phản đối điều mà các nhà lãnh đạo hay những người nệ cổ ủng hộ.
Những luận điệu nhằm chống lại toàn cầu hóa và ủng hộ bản sắc văn hóa tiết lộ cho ta thấy quan niệm tĩnh về văn hóa, một quan niệm không có cơ sở lịch sử. Nền văn hóa nào đã từng giữ mãi bản sắc và không thay đổi theo thời gian? Muốn tìm được những nền văn hóa như thế, chúng ta phải thâm nhập vào những cộng đồng tôn giáo ma thuật nguyên thủy và nhỏ bé, tức là những cộng đồng sống trong hang hốc, thờ thần sấm và thú dữ; và vì tính chất nguyên thủy như thế mà họ càng ngày càng dễ bị bóc lột và hủy diệt. Tất cả những nền văn hóa khác, nhất là những nền văn hóa có quyền được gọi là hiện đại và sống động đều tiến hóa đến mức mà chúng chỉ còn là cái bóng mờ của nền văn hóa từng hiện diện cách đây vài ba thế hệ mà thôi. Sự tiến hóa này thể hiện rõ nhất ở các nước như Pháp, Tây Ban Nha và Anh, nơi đã diễn ra những thay đổi cực kỳ ngoạn mục và sâu sắc đến mức Marcel Proust, Federico García Lorca, hay Virginia Woolf khó mà có thể coi đây là những xã hội nơi họ đã ra đời – những xã hội mà tác phẩm của họ đã có đóng góp rất lớn trong việc làm cho chúng thay da đổi thịt.
Khái niệm “bản sắc văn hóa” là khái niệm nguy hiểm. Từ quan điểm xã hội thì đấy có thể chỉ là quan niệm nhân tạo và đáng ngờ, nhưng từ viễn cảnh chính trị thì nó đe dọa ngay thành tựu quí giá nhất của nhân loại: quyền tự do. Tôi không phủ nhận rằng những người nói cùng một ngôn ngữ, sinh ra và sống trên cùng một vùng lãnh thổ, phải giải quyết những vấn đề giống nhau, theo những phong tục và tôn giáo như nhau, có những đặc điểm như nhau. Nhưng tính chất chung đó không bao giờ có thể xác định được đầy đủ đặc tính của từng người, nó chỉ xóa bỏ hoặc đẩy tất cả những tính chất và đặc điểm đơn nhất, tức là những đặc điểm làm người nọ khác biệt với người kia, xuống hàng thứ yếu mà thôi. Quan niệm bản sắc, khi không được áp dụng cho từng cá nhân riêng biệt, là một quan niệm đã được đơn giản hóa và phi nhân tính, nó là sự trừu tượng hóa mang tính ý thức hệ và tinh thần tập thể của tất cả những gì là độc đáo và sáng tạo trong mỗi con người, của tất cả những gì không được áp đặt bởi di sản, nơi sinh hay áp lực xã hội. Mà sự thật là, bản sắc xuất phát từ khả năng của con người trong việc chống lại những ảnh hưởng đó và phản công lại với chúng bằng những hành động tự do theo sáng kiến của riêng mình.
Khái niệm “bản sắc tập thể” là khái niệm hư cấu mang tính ý thức hệ và là nền tảng của chủ nghĩa dân tộc. Nhiều nhà nhân chủng học và nhân loại học cho rằng ngay cả các cộng đồng cổ xưa nhất cũng không có bản sắc tập thể. Những thói quen và phong tục được nhiều người chia sẻ có thể là những điều tối cần thiết đối với việc bảo vệ cả nhóm người, nhưng sự cách biệt về khả năng sáng tạo và sáng kiến giữa các cá nhân – điều kiện để họ tách biệt khỏi nhóm – bao giờ cũng khá lớn, và khi các cá nhân được thử thách theo những khả năng của riêng họ thì những khác biệt của từng người sẽ lấn át những đặc tính chung, chứ không chỉ là những thành tố ngoại vi của tập thể nữa. Toàn cầu hóa mở rộng một cách căn bản khả năng của tất cả các công dân trên hành tinh này, nó tạo điều kiện cho họ thông qua những hành động tự nguyện mà tạo dựng bản sắc văn hóa của riêng mình, phù hợp với sở thích và động cơ thầm kín của họ. Bây giờ người công dân không phải lúc nào cũng phải - như trong quá khứ và ở nhiều nơi hiện nay – tôn trọng bản sắc nhưng trên thực tế là làm cho họ mắc kẹt vào trại tập trung không thể nào thoát ra được – đấy là bản sắc được áp đặt lên mỗi người thông qua ngôn ngữ, dân tộc, nhà thờ, thói quen của vùng đất nơi họ ra đời. Theo nghĩa này thì ta phải hoan nghênh toàn cầu hóa vì nó mở rộng một cách đáng kể chân trời cho tự do cá nhân.
Hai lịch sử của cùng một lục địa
Châu Mỹ Latin có thể là thí dụ tốt nhất của những thủ đoạn và sự phi lý của việc cố tình thiết lập bản sắc tập thể. Cái gì có thể là bản sắc văn hóa của Châu Mỹ Latin? Phải đưa những gì vào cái tập hợp những tín điều, phong tục, truyền thống, thói quen và những câu chuyện cổ tích để thể hiện rằng khu vực này có một tính cách duy nhất, không ai có và không chuyển nhượng được? Lịch sử của chúng ta được trui rèn trong những cuộc tranh luận trí tuệ - đôi khi quyết liệt – nhằm tìm cho ra đáp án cho câu hỏi đó. Đáp án nổi bật nhất là đáp án của những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm (*) đưa ra trong cuộc đấu trí với những người ủng hộ văn hóa bản địa và có ảnh hưởng trên khắp lục địa ngay từ những năm đầu thế kỉ XX.
Đối với những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm như José de la Riva Agüero, Victor Andrés Belaúnde, và Francisco García Calderón thì Mỹ Latin hình thành khi – nhờ quá trình phát hiện và chinh phục – nó gặp ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chấp nhận Thiên chúa giáo và trở thành một phần của nền văn minh phương Tây. Những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm không coi thường những nền văn hóa tiền-Tây Ban Nha, nhưng họ coi đấy chỉ là một lớp chứ không phải là cốt lõi của hiện thực xã hội và lịch sử, phải nhờ ảnh hưởng của phương Tây mà nó mới hoàn thiện được bản chất và tính cách của mình.
Mặt khác, những người ủng hộ văn hóa bản địa lại cực lực bác bỏ những lợi ích mà có người cho rằng người châu Âu đã mang tới Mỹ Latin. Theo họ, bản sắc của chúng ta có nguồn gốc và linh hồn trong nền những nền văn hóa và văn minh tiền-Tây Ban Nha, quá trình phát triển và hiện đại hóa của nó đã bị kìm hãm bằng bạo lực và là đối tượng của kiểm duyệt, đàn áp và đẩy ra ngoài lề không chỉ trong suốt ba thế kỉ thuộc địa mà còn cả sau này, tức là sau khi có chế độ cộng hòa nữa. Theo những tư tưởng gia ủng hộ văn hóa bản địa thì “Biểu hiện Mỹ” (tên một tác phẩm của José Lezama Lima) nằm ở tất cả những biểu hiện mang tính văn hóa – từ ngôn ngữ bản xứ tới đức tin, nghi lễ, nghệ thuật và tập tục của nhân dân – nhằm chống lại sự áp chế về mặt văn hóa của phương Tây và còn tồn tại cho đến ngày nay. Ông Luis E. Valcárcel, một nhà sử học nổi tiếng của Peru, thậm chí còn khẳng định rằng cần phải đốt bỏ tất cả các nhà thờ, các nhà tu và tượng đài theo phong cách kiến trúc thuộc địa vì chúng thể hiện tinh thần “bài-Peru”. Chúng là những kẻ giả hình, là sự phủ nhận bản sắc nguyên thủy của châu Mỹ, một bản sắc có nguồn gốc hoàn toàn bản địa. Và ông José María Arguedas, một trong những tiểu thuyết gia độc đáo nhất của Mỹ Latin đã xây dựng được – trong những câu chuyện cực kì duyên dáng và đầy tinh thần phản kháng – bản anh hùng ca về tàn tích của nền văn hóa Cuechua trong dãy núi Andes, mặc dù đã bị phương Tây chẹn họng và làm cho méo mó đi.
Những người thân Tây Ban Nha cũng như những người ủng hộ văn hóa bản địa đã viết được những tác phẩm lịch sử tuyệt vời và những cuốn tiểu thuyết đầy tinh thần sáng tạo, nhưng nếu xét theo bối cảnh của chúng ta ngày hôm nay thì cả hai học thuyết này đều là những học thuyết mang tính bè phái, giản lược và sai lầm. Không bên nào đủ sức nhồi nhét sự đa dạng đang gia tăng của châu Mỹ Latin vào những khuôn khổ ý thức hệ của họ, và cả hai bên đều sặc mùi phân biệt chủng tộc. Hiện nay ai còn dám tuyên bố rằng chỉ có những cái mang “phong cách Tây Ban Nha” hoặc “da đỏ” mới có quyền đại diện hợp pháp cho Mỹ Latin? Thế mà hiện nay những cố gắng nhằm trui rèn và phân lập “bản sắc văn hóa” đặc thù của chúng ta vẫn được tiếp tục thực hiện với lòng nhiệt tình chính trị và tri thức đáng lẽ nên dành cho những công việc xứng đáng hơn. Tìm cách áp đặt bản sắc văn hóa cho quần chúng nhân dân cũng chẳng khác gì nhốt họ vào tù và không cho họ được hưởng một trong những quyền tự do quý giá nhất – đấy là quyền lựa chọn: họ muốn thành người như thế nào, và bằng cách nào? Châu Mỹ Latin không có một mà có nhiều bản sắc văn hóa, không có bản sắc nào có thể tuyên bố là hợp pháp hơn hay trong sạch hơn những bản sắc khác.
Dĩ nhiên là Mỹ Latin bao hàm trong nó cả thế giới tiền-Tây Ban Nha lẫn các nền văn hóa của nó, những nền văn hóa đó còn giữ được sức mạnh xã hội đáng kể ở các nước như Mexico, Guatemala, và các nước vùng Andes. Nhưng Mỹ Latin còn là rất đông người nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, với truyền thống của năm thế kỉ ở sau lưng, sự hiện diện và hành động của họ có ý nghĩa quyết định trong việc định hình những đặc điểm hiện nay của châu lục. Và chả lẽ Mỹ Latin không phải là một phần của châu Phi, châu lục đã đến bến bờ của chúng ta cùng với châu Âu hay sao? Không phải sự hiện diện của châu Phi đã tạo ra làn da, âm nhạc, khí chất và xã hội của chúng ta hay sao? Những thành tố mang tính xã hội, sắc tộc và văn hóa làm nên Mỹ Latin đã liên kết chúng ta với hầu như tất cả các khu vực và các nền văn hóa trên thế giới. Chúng ta có nhiều bản sắc văn hóa đến nỗi tưởng như chẳng hề có một bản sắc nào hết. Thực tế đó – trái ngược với niềm tin của những người dân tộc chủ nghĩa – là tài sản quí báu nhất của chúng ta. Đấy cũng là phẩm chất tuyệt vời, làm cho chúng ta cảm thấy mình là những công dân đầy đủ tư cách trong thế giới toàn cầu hóa này.
Giọng điệu địa phương, lan tỏa toàn cầu
Sợ Mỹ hóa toàn bộ hành tinh là hoang tưởng mang tính ý thức hệ chứ không phải là thực tế. Dĩ nhiên là không nghi ngờ gì rằng cùng với quá trình toàn cầu hóa, tiếng Anh sẽ trở thành ngôn ngữ phổ biến trong thời đại của chúng ta, cũng như tiếng Latin trong thời Trung Cổ vậy. Nó sẽ còn tiếp tục vươn lên vì đấy là phương tiện không thể thiếu được trong giao dịch và thông tin quốc tế. Nhưng điều đó có nghĩa là tiếng Anh nhất thiết sẽ phát triển, sẽ gây thiệt hại cho các ngôn ngữ lớn khác hay không? Hòan toàn không. Trên thực tế, ngược lại mới đúng. Sự xóa nhòa các đường biên giới và thế giới ngày càng tương thuộc lẫn nhau hơn đã và đang khuyến khích các thế hệ trẻ học và đồng hóa với những nền văn hóa khác, đấy không chỉ là sở thích mà còn là điều cần thiết, vì nói được vài thứ tiếng và thích ứng một cách dễ dàng trong những nền văn hóa khác nhau đã trở thành yếu tố quyết định cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp. Hãy xem xét trường hợp tiếng Tây Ban Nha. Nửa thế kỷ trước những người nói tiếng Tây Ban Nha là cộng đồng hướng nội, chúng ta cho rằng mình chẳng có mấy cơ hội ở bên ngoài biên giới ngôn ngữ truyền thống. Hiện nay tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ năng động và có nhiều người dùng, nó đã chiếm được những thành tựu ban đầu hay thậm chí những vùng đất rộng lớn trên cả năm châu lục. Sự kiện là có từ hai mươi lăm đến ba mươi triệu người nói tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ là nguyên nhân vì sao hai ứng viên Tổng thống Mỹ gần đây - Thống đốc Texas là George W. Bush và Phó tổng thống Al Gore – tiến hành vận động tranh cử không chỉ bằng tiếng Anh mà còn dùng cả tiếng Tây Ban Nha nữa.
Có bao nhiêu triệu thanh niên nam nữ trên khắp hoàn cầu đã và đang phản ứng lại những thách thức của toàn cầu hóa bằng cách học tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Quan thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Nga hay tiếng Pháp? May thay, xu hướng này sẽ gia tăng trong những năm sắp tới. Đấy là lí do vì sao cách bảo vệ tốt nhất nền văn hóa và ngôn ngữ của chúng ta là nỗ lực quảng bá chúng trên khắp thế giới chứ không phải cứ vờ vịt tìm cách làm cho nó miễn nhiễm với sự đe dọa của tiếng Anh. Những người đưa ra những biện pháp như thế là những người nói rất nhiều về văn hóa, nhưng đấy là những kẻ dốt nát, họ đang che dấu ý định thật sự của mình: chủ nghĩa dân tộc. Đấy không phải là họ đang tranh luận về những xu hướng phổ quát của văn hóa, đấy là những cách nhìn thiển cận, lầm lẫn, biệt lập, mà những người có quan điểm dân tộc chủ nghĩa tìm các áp đặt lên đời sống văn hóa. Bài học tuyệt vời nhất mà văn hóa dạy cho chúng ta là nó không cần những quan chức hay các chính trị viên bảo vệ, cũng không cần che chắn sau song sắt hay dùng lực lượng hải quan để cách li nhằm giữ cho nó sống và đơm hoa kết trái; ngược lại, những cố gắng như thế chỉ làm cho nó khô kiệt hoặc trở thành tầm thường mà thôi. Văn hóa phải sống một cách tự do, phải thường xuyên va chạm với những nền văn hóa khác. Điều đó sẽ làm cho nó luôn luôn đổi mới, luôn luôn tái tạo, làm cho nó tiến hóa và thích ứng với dòng chảy liên tục của cuộc đời. Ngày xưa tiếng Latin đã không giết chết tiếng Hy Lạp; ngược lại, sự độc đáo và chiều sâu trí tuệ của nền văn hóa Hy Lạp đã thẩm thấu vào nền văn minh La Mã và nhờ nó mà những bản trường ca của Homer và triết lí của Plato và Aristotle mới vươn ra khắp thế giới. Toàn cầu hóa không xóa bỏ các nền văn hóa khu vực, trong không gian bao la của cả hoàn vũ, tất cả những gì có giá trị và đáng sống trong những nền văn hóa khu vực sẽ tìm thấy những mảnh đất màu mỡ để có thể đơm hoa kết trái.
Điều đó đã diễn ra trên khắp Châu Âu. Đặc biệt đáng ghi nhận là ở Tây Ban Nha, ở đây những nền văn hóa địa phương đang tái xuất hiện với một sức mạnh đặc biệt. Dưới chế độ độc tài của tướng Francisco Franco, những nền văn hóa địa phương bị đàn áp và buộc phải sống trong vòng bí mật. Nhưng cùng với sự trở về của chế độ cộng hòa, sự đa dạng của nền văn hóa đã được cởi trói và được tự do phát triển. Ở những khu vực tự trị, văn hóa địa phương càng phát triển mạnh, đặc biệt là ở Catalonia, Galicia, và xứ Basque; các khu vực khác ở Tây Ban Nha cũng đều như thế cả. Nhưng dĩ nhiên là chúng ta không được đánh đồng sự hồi sinh của văn hóa khu vực – một hiện tượng tích cực và làm cho đời sống ngày càng phong phú thêm – với chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc sẽ tạo ra những mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền văn hóa của tự do.
Trong tác phẩm nổi tiếng: Góp phần định nghĩa văn hóa (Notes Towards the Definition of Culture) xuất bản năm 1948, T.S. Eliot đã dự đoán rằng trong tương lai, nhân loại sẽ được chứng kiến sự phục hưng của những nền văn hóa địa phương và khu vực. Lúc đó, đấy là một lời tiên đoán quá táo bạo. Nhưng toàn cầu hóa có vẻ như sẽ làm cho nó trở thành hiện thực trong thế kỉ XXI và chúng ta nên vui mừng vì chuyện đó. Sự phục sinh của những nền văn hóa nhỏ bé, mang tính khu vực sẽ trả lại cho nhân loại sự đa dạng trong cách thể hiện và hành vi mà cuối thế kỉ XVII và đặc biệt là trong thế kỷ XIX các quốc gia - dân tộc đã từng hủy bỏ nhằm tạo ra cái gọi là bản sắc văn hóa (Sự kiện này đã dễ dàng bị lãng quên hay chúng ta tìm cách lãng quên vì những ẩn ý mang tính đạo đức sâu sắc của nó). Các nền văn hóa dân tộc thường được trui rèn trong máu lửa, nó cấm đoán giảng dạy và xuất bản các tác phẩm viết bằng thổ ngữ hay cấm đoán thực hành các tôn giáo và tục lệ khác biệt với những tôn giáo và tục lệ được quốc gia - dân tộc coi là lí tưởng. Bằng cách đó, các quốc gia - dân tộc tại nhiều nước trên thế giới đã áp đặt nền văn hóa ưu trội lên các nền văn hóa địa phương, văn hóa địa phương bị đàn áp và bị loại bỏ khỏi đời sống chính thức. Nhưng, trái ngược với những cảnh báo của những người sợ toàn cầu hóa, không dễ gì xóa bỏ một nền văn hóa – dù nó có nhỏ đến đâu – nếu đằng sau nó là một truyền thống phong phú và có những người thực hành nó, dù là thực hành một cách bí mật. Và hôm nay, nhờ có sự suy yếu của quốc gia - dân tộc, chúng ta mới được nhìn thấy sự tái xuất hiện của những nền văn hóa đã từng bị lãng quên, bị đẩy ra bên lề và vị bóp nghẹt và thể hiện một đời sống năng động trong sự hài hòa vĩ đại của hành tinh toàn cầu hóa này.
M. V. L.
Mario Vargas Llosa là tiểu thuyết gia và trí thức nổi tiếng thế giới. Năm 2010 ông được trao giải Nobel Văn chương vì “những thành tựu trong việc mô tả cơ cấu của quyền lực và những hình tượng sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất bại của cá nhân con người”. Ông là tác giả của những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng như: Bữa tiệc của con dê (The Feast of the Goat), Cuộc chiến của ngày tận thế (The War of the End of the World), Cô Julia và người viết kịch bản (Aunt Julia and the Scriptwriter), Cô gái không ra gì (The Bad Girl), Cuộc đời thực của Alejandro Mayta (The Real Life of Alejandro Mayta), và nhiều cuốn khác.

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.
(*) Dịch thoát ý từ Hispanists, thực ra là nói về cả Tây Ban Nha lẫn Bồ Đào Nha.
____________________

Hồ Cẩm Đào : nguy cơ "Âu hoá" văn hoá Trung Hoa

cần phát huy văn hóa Trung Hoa để đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của dân chúng trong nước.

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (REUTERS /H. Prammer)

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cảnh báo điều ông gọi là “ tây phương hóa” nền văn hóa Trung Quốc.
 Lời tuyên huấn này được đưa ra trong bối cảnh Bắc Kinh sử dụng ngôn ngữ điện ảnh cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác để tạo ảnh hưởng “quyền lực mềm” ra thế giới.
 Trên tạp chí của đảng Cộng sản Trung Quốc “Cầu Thực” số mới nhất, chủ tịch Trung Quốc cho rằng “các thế lực thù địch gia tăng gấp đôi nỗ lực để tây phương hóa và chia rẽ chúng ta”.

Theo AFP thì Ông Hồ Cẩm Đào không tuyên bố một cách chính xác mà chỉ đề cập chung chung hai lãnh vực “ý thức hệ và văn hóa” kèm theo lời khẳng định là (đảng Cộng sản) “ý thức mối hiểm nguy này cũng như tính phức tạp của vấn đề và đã ban hành nhiều biện pháp mạnh để ngăn chặn”.

Cũng theo lời chủ tịch Trung Quốc thì cần phát huy văn hóa Trung Hoa để đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của dân chúng trong nước.

Về đối ngoại, ông cho rằng “ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc còn yếu, chưa thật sự tương xứng với quy chế quốc tế của Trung Quốc” trái với văn hóa tây phương phát triển rất mạnh”.

Theo AFP, những lời tuyên bố của lãnh đạo Trung Quốc được công bố vào lúc Bắc Kinh tăng cường kiểm duyệt internet và truyền thông để chỉ có “hình ảnh tích cực” của chế độ là được phô trương ra nước ngoài.

Mặc khác, Trung Quốc cũng sử dụng “ngân quỹ chiến tranh ” để tài trợ cho các cơ quan tuyên truyền nhắm vào đối tượng ngoại quốc như Tân Hoa xã, Đài phát thanh quốc tế China Radio International đang phát triển cơ sở một cách nhanh chóng tại nhiều nước
(Nguon: saigonecho)
___________________

Cau chuyen cuoi tuan

Thư thông cáo của Đức TGM Los Angeles về vụ GM phụ tá Gabino ZavalaTGM José H. Gomez1/5/2012

_________________________________________________
Los Angeles, ngày 4.1.2012Anh chị em thân mến:
Tôi có tin buồn và khổ tâm muốn chia sẻ với anh chị em. Đức cha Gabino Zavala, giám mục phụ tá đặc trách miền San Gabriel, vào đầu tháng 12 mới đây đã cho tôi biết là ngài là bố sinh ra 2 trẻ em nay đã đến tuổi vị thành niên, hiện đang sống với mẹ tại một tiểu bang khác.

Giám mục Zavala cũng cho tôi biết là ngài đã nộp đơn xin từ chức với Đức Thánh cha ở Roma, và việc từ chức đã được chấp thuận. Từ đó ngài không thi hành mục vụ nữa và sẽ sống tự lập riêng.

Tổng giáo phận Los Angeles đã tiếp xúc với mẹ của 2 trẻ em để chăm sóc tinh thần cũng như tài trợ chánh cho tốn phí học đại học của họ. Danh tính của gia đình không tiết lộ với công chúng, và tôi tôn trọng quyền riêng tư của họ.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng bởi tình trạng này và cầu nguyện cho nhau khi chúng ta suy tư về lá thư này.

Cầu mong Chúa Giêsu, qua lời bầu bầu của Đức Maria, ban cho anh chị em ơn an bình.

Giám mục José H. Gomez,

Tổng giám mục Los Angeles

(Nguon: vietcatholic.net)
______________________

Thông báo về Tiến trình Phong Á Thánh và Hiển Thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Kính gửi : Các linh mục, tu sĩ nam nữ,
và anh chị em giáo dân trong gia đình giáo phận
1. Ngày 22 tháng 10 năm 2010, tại Rôma, Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã chính thức bắt đầu tiến trình xin phong Á thánh và Hiển thánh cho Tôi Tớ Chúa, Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Đức Cố Hồng Y Phanxicô đã từng được Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm làm Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Sàigòn từ ngày 24 tháng 4 năm 1975. Ngày mùng 9 tháng 4 năm 1994, ĐGH Gioan-Phaolô II bổ nhiệm ngài vào chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công Lý và Hòa Bình, và tiếp theo đó, vào ngày 24 tháng 11 năm 1994, ngài chính thức từ chức Tổng Giám mục Sài Gòn để thi hành nhiệm vụ tại Giáo triều Rôma. Vì thế, sự kiện lập án phong thánh cho ngài là niềm vinh dự lớn lao cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói chung và cho Tổng giáo phận Sài Gòn nói riêng.
2. Theo quy định của Giáo Hội, để được tuyên phong Á Thánh và Hiển Thánh, vị Tôi Tớ Chúa phải được Giáo Hội nhìn nhận là người có danh thơm tiếng tốt về sự thánh thiện và những nhân đức anh hùng. Vì thế, Giáo Hội muốn lắng nghe, tìm hiểu và nghiên cứu những chứng từ chính thức của các chứng nhân, là những người đã biết Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê và có thể cung cấp chứng từ cụ thể sống động về những nhân đức của ngài.
3. Trong thời gian qua, Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã cử phái đoàn đến nhiều nước trên thế giới như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Úc châu, để gặp gỡ và lắng nghe các chứng nhân. Nay chúng tôi được thông báo là phái đoàn sẽ đến Việt Nam từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 2012. Phái đoàn sẽ ở Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 24 đến 27 tháng 3 năm 2012, để gặp gỡ và lắng nghe những chứng nhân trong Tổng giáo phận nhà.
4. Vậy tôi viết thư này để xin tất cả mọi người trong gia đình giáo phận, sốt sắng cầu nguyện cho tiến trình tuyên phong á thánh và hiển thánh cho Đức Cố Hồng Y thân yêu của chúng ta sớm được hoàn thành. Ngoài ra, các linh mục, tu sĩ nam nữ, cũng như anh chị em giáo dân nào đã từng biết Đức Cố Hồng Y, và muốn làm chứng trước phái đoàn của Hội Đồng Tòa Thánh về sự thánh thiện và nhân đức của ngài, xin vui lòng viết thành văn bản và gửi về địa chỉ sau (hạn chót là ngày 1 tháng 3 năm 2012):
Linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng
Đại chủng viện Thánh Giuse
6 Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. HCM.
Email : petrustung@gmail.com
Theo lời kêu gọi của Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi lời cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
là Cha và Con và Thánh Thần,
chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh
mẫu gương và chứng tá anh dũng
của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Ngài đã liên kết những đau khổ phải chịu trong cảnh ngục tù
với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Và dưới sự che chở đầy tình mẫu tử của Rất Thánh Trinh Nữ Maria,
những kinh nghiệm khổ đau ấy đã rèn luyện ngài
nên một chứng nhân sáng ngời cho Hội Thánh và toàn thế giới,
về sự hiệp nhất và tha thứ,
cũng như về công lý và hòa bình.

Con người hiền hòa và giàu tình thương
cùng với sứ vụ giám mục của ngài,
đã tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng của đức tin,
nhiệt tâm của đức cậy,
và sự nồng nàn của đức ái.

Giờ đây, nhờ lời chuyển cầu của ngài và theo thánh ý Chúa,
xin Chúa ban cho con được ơn lành con đang cầu khẩn,
với niềm hi vọng thấy ngài
sớm được vinh hiển trên bàn thờ. AMEN.

Lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, 1.1.2012
Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Hồng y Tổng Giám Mục

Ghi chú :
- Tất cả những ân huệ hay phép lạ nhận được qua lời cầu xin với Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, xin vui lòng báo cho linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng (theo địa chỉ trên).
- Để tìm hiểu thêm về đời sống của Đức Cố Hồng Y, xin mời đọc bài “Cuộc đời và sự nghiệp vị Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận” trên trang tin điện tử của Tổng giáo phận, địa chỉ : http://www.tgpsaigon.net/

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011

Tuan sau Chua Nhat Giang Sinh

Chua Nhat Giang Sinh

(9) Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người.


7 Ðẹp thay trên đồi núi
bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an,
người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ
và nói với Xi-on rằng: "Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị."
8 Kìa nghe chăng quân canh gác của ngươi
cùng cất tiếng reo hò vang dậy;
họ sẽ được thấy tận mắt Ðức Chúa đang trở về Xi-on.
9 Hỡi Giê-ru-sa-lem điêu tàn hoang phế,
hãy đồng thanh bật tiếng reo mừng,
vì Ðức Chúa an ủi dân Người, và cứu chuộc Giê-ru-sa-lem.
10 Trước mặt muôn dân,
Ðức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người:
ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta,
người bốn bể rồi ra nhìn thấy (Is 52, 7- 10)

(1) Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; (2) nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Ðấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. (3) Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Ðấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Ðấng Cao Cả trên trời. (4) Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại trổi hơn họ bấy nhiêu.(Dt 1, 1- 16)

(1) Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
(2) Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
(3) Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.
(4) Ðiều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
(5) Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,
và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
(6) Có một người được Thiên Chúa sai đến,
tên là Gioan.
(7) Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng,
để mọi người nhờ ông mà tin.
(8) Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
(9) Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người.
(10) Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Người mà có,
nhưng lại không nhận biết Người.
(11) Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
(12) Còn những ai đón nhận,
tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
(13) Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.
(14) Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người,
là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.
(15) Ông Gioan làm chứng về Người, ông tuyên bố:
"Ðây là Ðấng mà tôi đã nói:
Người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi."
(16) Từ nguồn sung mãn của Người,
tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.
(17) Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê,
còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Ðức Giêsu Kitô mà có.
(18) Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ;
nhưng Con Một là Thiên Chúa
và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,
chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.(Ga 1, 1- 18)

- (11) Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
(12) Còn những ai đón nhận,
tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
Chúa đến với nhà tôi, đến với gia đình tôi nhưng tôi có sẵn sàng đón nhận, tôi có sẵn lòng mời gọi tiếp rước Ngài vào nhà, vào tấm lòng, vào tâm hồn? Hay tôi chỉ mượn cớ- mượn danh Chúa Hài Đồng Giáng Sinh để hát hò để nghe hát hò và chỉ trỏ, để chen chân ngắm xem và khen chê đẹp xấu; Hay tôi chỉ mượn cớ để mua sắm trang hoàng cho cho nhà cửa cho bản thân mà tâm hồn thi trống rỗng hay tệ hơn trống rỗng là ganh ghét tị hiềm- là hằn thù; Hay tôi chỉ  mượn cớ để trang hoàng cho có vẻ an bình mà tâm hồn luôn vọng động hay bình an giả tạo?   
 ___________________

21:1 Dec 25 2011
Chep cho thu Hai ngay mai

Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng,
kẻ ấy sẽ được cứu thoát 
Ông Stêphanô được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân. Có những người thuộc hội đường gọi là hội đường của nhóm nô lệ được giải phóng, gốc Kyrênê và Alêxanria, cùng với một số người gốc Kilikia và Tiểu Á, đứng lên tranh luận với ông Stêphanô. Nhưng họ không địch nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông.

Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Stêphanô.

Ðược đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông nói: “Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.” Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông và lôi ra ngoài thành mà ném đá. Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Saolô. Họ ném đá ông Stêphanô, đang lúc ông cầu xin rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con.” Rồi ông quỳ xuống, kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” Nói thế rồi, ông an nghỉ. (Cv 6, 8-10; 7, 54-60 )

17"Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. 18Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết. 19Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: 20thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em. 21"Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. 22Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát. (Mt 10,17-22 )
- Đường theo Chúa không phải lúc nào cũng bằng phẳng êm đềm. Đường đó nhiều lúc có sóng có gió, có quanh co khúc khủy, đá sỏi nhấp nhô. Theo Chúa không phải là tìm hạnh phúc đời này, không phải tìm sung sướng nhàn hạ, không để được yêu mến, không để được lợi danh, cũng không có hoa thơm hoa đẹp mà chẳng có gai.
Tôi có chấp nhận theo Chúa dẫu mất mát thiệt thòi? Tôi có sẵn sàng và luôn mở rộng lòng, luôn tha thứ để đón Chúa và theo Chúa?
______________________________

21:15 Dec 26 2011
Chep cho thu Ba ngay mai: kinh thanh Gioan tong do thanh su

Khăn này không để lẫn với các băng vải,
nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi

Bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu." 3Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. 5Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. (Ga 20,2-8)
- “ 8Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. (9) Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Ðức Giêsu phải chổi dậy từ cõi chết. (10) Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà.” (Ga 20, 8- 10)
Trước khi đến mộ Chúa,  ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến (ông Gioan) chưa hiểu rõ Kinh Thánh và cũng chưa tin là Đức Kito sẽ sống lại. Dên khi hai ông thấy ngôi mộ trống không của Chúa, hai ông mới tin.
__________________________

17.10 Dec 28 2011
Chep cho hom nay: kinh cac thanh Anh Hai tu dao
(Toi hom qua( Dec 27) mang blogspot bi truc trac nen khong vao chep duoc)

Bấy giờ vua Hêrôđê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa
Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì kìa sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai Cập.”
Bấy giờ vua Hêrôđê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh. Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia:
“Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ:
tiếng bà Rakhen khóc thương con mình
và không chịu để cho người ta an ủi,
vì chúng không còn nữa...” (Mt 2, 13-18)
Hôm nay đây, lúc này đây, tôi có gì để dâng Chúa Hài Nhi? Có một bài hát có câu “ … Vàng con không có, nhũ hương cũng không, mộc dược cũng không-mộc dược cũng không. Nhưng con chỉ có tấm thân hòa bình, từ khi Ngài đến… Chúa Hài Đồng ơi..”
Hôm nay đây, lúc này đây, tôi phải làm gì để bảo vệ mầm sống- bảo vệ sự sống cho biết bao bào thai khỏi bị cha mẹ và các người liên quan sát hại?
Tại sao vua Hêrode biết mình bị các nhà Chiêm tinh, hay còn gọi các nhà Đạo sỹ hay ba Vua, đánh lừa? Xin hãy đoc đoạn Tin Mừng ngay trước bài hôm nay:
(1) Khi Ðức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Ðông đến Giêrusalem, (2) và hỏi: "Ðức Vua dân Dothái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Ðông, nên chúng tôi đến bái lạy Người." (3) Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. (4) Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Ðấng Kitô phải sinh ra ở đâu. (5) Họ trả lời: "Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: (6) Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,
ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa,
vì ngươi là nơi
vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta
sẽ ra đời".
(7) Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. (8) Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người." (9) Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Ðông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. (10) Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. (11) Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. (12) Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.(Mt 2, 1- 7)
____________________

Dec 29 2011

Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ

(22) Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, (23) như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa", (24) và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. (25) Và này đây, tại Giêrusalem, có một người tên là Simêon. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ítraen, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. (26) Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Ðấng Kitô của Ðức Chúa. (27) Ðược Thần Khí dun dủi, ông lên Ðền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, (28) thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:
(29) Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
(30) Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
(31) Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
(32) Ðó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ítraen Dân Ngài.
Ông Si-mê-on nói tiên tri
(33) Cha mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simêon vừa nói về Người. (34) Ông Simêon chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen phải vấp ngã hay được chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng (35) còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra.
- 25) Và này đây, tại Giêrusalem, có một người tên là Simêon. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ítraen, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. (26) Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Ðấng Kitô của Ðức Chúa. (27) Ðược Thần Khí dun dủi, ông lên Ðền Thờ 
Bây giờ đây, lúc này đây tôi đang mong chờ niềm an ủi gì? Tôi đã được trở nên công chính nhờ vào giá máu chuộc tội của Chúa Giêsu Kitô và nhờ tôi tin vào điều đó. Nếu giờ đây, lúc này đây Chúa gọi thì tôi có an bình ra đi như ông cụ Simêon không? 
 ________________________

7:15 Dec 30 2011
Chép cho thu Sáu hôm nay le kính Thánh Gia

40Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa

22Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, 23như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa", 24và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. 25Hồi ấy ở Giêrusalem, có một người tên là Simêôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ítraen, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. 26Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Đức Chúa. 27Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, 28thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:
29 "Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi. 30 Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31 Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
32 Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ítraen Dân Ngài."
33Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simêôn vừa nói về Người. 34Ông Simêôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; 35và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà." 36Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là Anna, con ông Pơnuên, thuộc chi tộc Ase. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, 37rồi ở góa, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. 38Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem. 39Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Nadarét, miền Galilê. 40Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.(Lc 2,22-40)
 
Tin Mừng không nói rõ ông Simeon bao nhiêu tuổi, có lẽ đã già. bà Anna thì được 84 tuổi, lấy chồng được 7 năm thì ở góa. Ông Simeon là người công chính và sùng đạo. Bà Anna không hề rời bỏ Đền Thờ, luôn ăn chay cầu nguyện và thờ phượng Thiên Chúa. Ông Simeon đã ãm Chúa Hài Nhi để chúc tụng Thiên Chúa và  nói những lời tiên tri,  bà Anna cũng cảm tạ Thiên Chúa và nói cho mọi người biết về Chúa Hài Nhi. Chúa Hài Nhi đã được 2 người từ mấy thế hệ trước chào đón chúc mừng.
Hơn 2000 năm trước, toàn dân Ítrael ngày đêm trông ngóng Vị Cứu tinh xuất hiện và khi Vị Cứu Tinh xuất hiện cũng chỉ có 1 số người vui mừng chào đón. Hôm nay, sau hơn 20 thế kỷ, nhân loại đang mong chờ điều gì? Chúa Hài Nhi là Chúa tình thương, Chúa bình an nhưng rất nhiều người không đi theo, không làm theo và không cộng tác với Chúa Hài Nhi. Thiên tai, xung đột và thù hận vẫn còn đó, tôi và mỗi người phải thực hiện những điều Đức Kito dạy như thế nào để tình thương và bình an được hiển trị? Điều trong tầm tay với là tôi phải nhìn, phải chiêm ngắm mẩu gương Thánh Gia để xây dựng gia đình mình  theo và nếu có thể góp phần khuyến khích các gia đình cùng học theo mẫu gương Thánh Gia.
___________



19: 05 Dec 30 2011
Chép cho thứ Bảy ngày mai

còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Ðức Giêsu Kitô mà có.

(18) Hỡi anh em là những người con thơ bé,
đây là giờ cuối cùng.
Anh em đã nghe biết
là tên phản Kitô sẽ đến;
thế mà giờ đây
nhiêu tên phản Kitô đã xuất hiện.
Do đó chúng ta biết được rằng
đây là giờ cuối cùng.
(19) Chúng xuất thân từ hàng ngũ chúng ta,
nhưng không phải là người của chúng ta;
vì nếu là người của chúng ta,
chúng đã ở lại với chúng ta.
Nhưng như thế mới rõ:
không phải ai ai cũng là người của chúng ta.
(20) Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Ðấng Thánh,
và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết.
(21) Tôi đã viết cho anh em,
không phải vì anh em không biết sự thật,
nhưng vì anh em biết sự thật,
và vì không có sự dối trá nào
phát xuất từ sự thật.(1Ga 2, 18- 21)
(1) Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.
Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa,
và Ngôi Lời là Thiên Chúa.
(2) Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.
(3) Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành,
và không có Người,
thì chẳng có gì được tạo thành.
(4) Ðiều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống,
và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.
(5) Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối,
và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
(6) Có một người được Thiên Chúa sai đến,
tên là Gioan.
(7) Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng,
để mọi người nhờ ông mà tin.
(8) Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
(9) Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người.
(10) Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Người mà có,
nhưng lại không nhận biết Người.
(11) Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
(12) Còn những ai đón nhận,
tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
(13) Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.
(14) Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người,
là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.
(15) Ông Gioan làm chứng về Người, ông tuyên bố:
"Ðây là Ðấng mà tôi đã nói:
Người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi."
(16) Từ nguồn sung mãn của Người,
tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.
(17) Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê,
còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Ðức Giêsu Kitô mà có.
(18) Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ;
nhưng Con Một là Thiên Chúa
và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,
chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.(Ga 1, 1- 18)
- Theo Bài đọc 1 thì tên phản Kitô là những người chối bỏ sự thật, là những người dối trá. Họ không tin, họ chối Chúa Cha và Chúa Con. Họ không xa lạ, họ gần chúng ta và họ cũng là người của chúng ta.
Lời mở đầu của Tin Mừng thánh Gioan nói tới Ngôi Lời. Ngôi Lời là sự sống, Ngôi Lời là sự sáng-là ánh sáng thật, Ngôi Lời đã nhập thể và trở nên người phàm cư ngụ giữa nhân loại. Ngôi Lời, tức là Ðức Giêsu Kitô đã cứu chuộc tội lỗi cho nhân loại, đã giao hòa đất với trời - giao hòa Thiên Chúa với loài người. Ðức Giêsu Kitô đã làm cho những ai tin vào Người được trở nên công chính.

Câu chuyện giữa tuần: 
(Bài khá dài, đọc cho biết tấm lòng nhân ái của những con người....)
  
Tài liệu hay, xem cho biết Tổ chức từ thiện ở Mỹ Tài liệu hay, xem cho biết Tổ chức từ thiện ở Mỹ
Tác Giả: Saigon Echo sưu tầm   
Thứ Tư, 28 Tháng 12 Năm 2011 13:51

Việc làm từ thiện tại Hoa Kỳ !
Nước Mỹ đứng đầu trên thế giới trong công tác tham gia, đóng góp và tình nguyện cho các cơ quan từ-thiện để giúp đở người nghèo, bệnh tật, vô gia cư, bị xã hội bỏ quên, v.v... trên khắp thế giới. Không phaỉ vì moị ngươì Mỹ đều giaù; nhưng vì dân tộc Mỹ được khai sáng vì lòng từ thiện.Khi trí tuệ con người được khai sáng, khi đó con người sẽ nhận thức được rằng: Cho đi thì hạnh phúc hơn là nhận lấy !

Việc làm từ thiện tại Hoa Kỳ !

Khắp nơi trên thế giới, ở đâu cũng có những người làm việc từ thiện, những người có lòng nhân từ bác ái muốn giúp đỡ những người khốn cùng nghèo đói bệnh tật hoặc đang gặp tai họa kém may mắn hơn mình....Nhưng không có một quốc gia nào mà có nhiều người làm việc từ thiện như ở Hoa Kỳ và hơn thế nữa Hoa Kỳ đã có những nhà đóng góp vào quỹ từ thiện với số tiền kếch sù nhiều nhất không có một ai ở nước khác sánh bằng.
Những ngày tháng đầu tiên ở Mỹ, tôi thường được người bảo trợ chở đi đây đó khắp thành phố Houston để tìm việc làm. Nhớ có một lần chúng tôi đi trên đường phố gặp một người ăn xin, tôi liền lấy một đô la ra cho. Người bảo trợ có vẻ không vui, tôi đưa mắt hỏi, ông ta giải thích: “Cho tiền người ăn xin này có thể xúi dục anh ta lười biếng, muốn làm việc từ thiện xin hãy góp tiền cho xã hội để xã hội có phương tiện ngăn chận không có một kẻ ăn xin nào.” Một tuần sau tôi có công việc làm tại đại học, người bảo trợ hỏi ý kiến tôi và trừ ngay 2% lương hàng tháng của tôi, trong suốt 30 năm, để đóng góp vào quỹ U.W. cơ quan từ thiện giúp người vô gia cư; người bảo trợ chính là viên chức cao cấp tại đại học này.

Từ thiện là nét đẹp lương tâm cộng đồng Hoa Kỳ, từ thiện là triết lý công bằng xã hội của quốc gia có một nền tự do dân chủ tiền tiến nhất trên quả đất này. Sau hơn 34 năm ở Hoa Kỳ dành nhiều thì giờ hoạt động trong công tác từ thiện, tôi nhận thấy nhiều người Hoa Kỳ đều cho rằng làm việc từ thiện là món trang sức đẹp nhất của con người và hầu hết người Hoa Kỳ đều hân hoan công nhận: thước đo giá trị của con người là lòng từ thiện.

Có hơn một triệu tổ chức, cơ quan hội đoàn từ thiện lớn nhỏ khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ, hoạt động quanh năm. Theo tài liệu của Hội Cố Vấn Gây Quỹ Hoa Kỳ (American Association of Fundraising Counsel) năm 2005 người Mỹ đã đóng góp vào quỹ từ thiện hơn 261 tỷ đô la, trong số này tư nhân đã đóng góp 200 tỷ đô la, ước lượng mỗi gia đình đóng góp 2.2% số lương bổng mang về nuôi sống gia đình, sau khi đã khấu trừ tiền bảo hiểm và thuế. Hoa Kỳ thật là một xã hội đầy những người có tấm lòng quảng đại nhân ái!

Đại học John Hopkins trong một nghiên cứu về nhóm các nước giàu nhất trên thế giới, nhóm G7; đã đưa ra những con số so sánh về tiền đóng góp cho công tác từ thiện với Tổng sản lượng nội địa (Gross Domestic Product = GDP) của mỗi quốc gia để có một ý niệm về tấm lòng rộng lượng bác ái. Hàng năm trung bình dân chúng Hoa Kỳ đóng góp cho các tổ chức từ thiện bằng 1.85% Tổng sản lượng Nội địa, người Đức tệ nhất trong nhóm chỉ 0.13%, người Nhật 0.22%, người Pháp 0.32% và đứng thứ nhì là người Anh quốc tương đương 0.84% Tổng sản lượng Nội địa, vẫn thua xa dân tộc Hoa Kỳ.

Theo tài liệu tạp chí Forbes phát hành đầu năm 2008, hai người giàu nhất Hoa Kỳ là ông Bill Gates người sáng lập hãng Microsoft có tài sản 57 tỷ đô la và ông Warren Buffett sáng lập công ty Bershire Hathaway với 50 tỷ đô la. Cả hai ông đều là những nhà làm việc từ thiện vĩ đại nhất trên hành tinh này; triết lý và quan niệm nhân sinh của hai ông đáng để cho tất cả những kẻ giàu có trên thế giới noi theo.
Thượng tuần tháng 9 năm 2007, đài truyền hình CNBC thực hiện một cuộc phỏng vấn ông Warren Buffett (WB) cuộc phỏng vấn thật dài và tiết lộ nhiều điều lý thú.

Warren BuffettTừ thuở ấu thơ, WB đã cố gắng dành nhiều thì giờ cho việc học hành và làm việc cật lực để kiếm tiền bằng cách đi bỏ báo. Số tiền kiếm được ông chỉ trích ra một ít để mua sách vở, còn dư ông tính toán để dành. Với số tiền đi bỏ báo dành dụm, năm 11 tuổi ông đã khởi sự tập đầu tư bằng cách mua cổ phiếu. Ba năm sau lúc 14 tuổi ông mua một trang trại nhỏ, học kinh nghiệm trong thương trường địa ốc. Năm 20 tuổi ông đậu bằng cử nhân và năm 21 tuổi ông tốt nghiệp bằng cao học MS tại đại học Columbia. Năm 1970 khi 40 tuổi WB nắm cả hai chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Điều hành Công ty Bershire Hathaway; đại công ty đầu tư này đến ngày nay đã sở hữu 63 công ty khác như: Coca-Cola, Gillette, American Express, Wells Fargo, US Air Group, v…v… Một cổ phiếu loại A của Bershire Hathaway đã có trị giá 151 ngàn đô la vào ngày 11 tháng 12-2007.

Mỗi năm WB chỉ nhắc nhở 63 Tổng Giám đốc điều hành của 63 công ty trực thuộc luôn luôn nhớ hai nguyên tắc chính:
Nguyên tắc 1: Phải làm lợi cho cổ đông, đừng làm mất tiền cổ đông.Nguyên tắc 2: Phải luôn luôn thuộc lòng nguyên tắc số 1.Văn phòng làm việc của ông rất đơn giản, không có điện thoại di động, không có máy computer, nhưng ông có đầu óc bén nhạy quyết định sáng suốt hiệu quả. Cuộc sống của ông càng giản dị hơn, ông tự lái xe không có tài xế riêng, không có nhân viên bảo vệ an ninh. Ông không có máy bay riêng và cũng không bao giờ dùng máy bay riêng để đi công tác xa, dầu ông làm chủ một công ty hàng không lớn. Dầu là người giàu thứ nhì trên thế giới với tài sản 50 tỷ đô la, ông vẫn sống trong căn nhà chỉ có 3 phòng ông mua khi cưới vợ hơn 50 năm về trước, không có hàng rào bao bọc chung quanh, giá mua lúc năm 1958 chỉ có 31,500 đô la. Một tỷ phú giàu có và quyền lực như vậy, nhưng ông sống một cuộc đời giản dị nhất, không giao tiếp bạn bè với giai cấp thượng lưu, thú vui của ông là làm một túi bắp rang và đọc sách hoặc xem TV tại nhà.

Warren Buffett quan niệm con người làm ra của cải tiền bạc, nhưng của cải tiền bạc không tạo ra nhân cách con người. Ông cho rằng để tiền bạc cho con cháu chỉ làm cho con cháu ỷ lại không giúp ích gì cho chúng, còn làm chúng mất ý chí động lực thúc đẩy tiến lên. Ông phát biểu:
“Nếu ba đứa con của ông họ Buffett chỉ vì tình cờ may mắn được sinh ra trong gia đình Buffett mà lại có số tiền hàng chục tỷ Mỹ kim di sản để hưởng thụ cuộc đời, thì đó là điều vô cùng bất công, xã hội không còn công lý nữa.”
Năm 2002, ông Bill Gates tỷ phú giàu nhất thế giới mới 47 tuổi quyết định xin diện kiến bậc tiền bối Warren Buffett 72 tuổi người giàu thứ hai thế giới. Bill Gates con người thiên tài điện toán vi tính nghĩ rằng cuộc hội thoại viếng thăm sẽ nhạt nhẽo buồn chán vì hai cuộc sống trái ngược nhau, cuộc đàm luận nhiều lắm sẽ chỉ kéo dài khoảng nửa giờ. Nhưng bất ngờ cuộc trò chuyện thân mật tâm sự lý thú của hai tri kỷ một già một trẻ tuy tài năng trên hai lĩnh vực khác nhau, nhưng cùng một tấm lòng từ thiện bác ái bao la, họ nói chuyện quên ăn quên uống, cuộc tiếp xúc kéo dài 10 tiếng đồng hồ.


Warren Buffett and Bill Gates
Đông phương chúng ta cách nay hơn 1600 năm có hai nhân vật tài trí lừng danh nhưng chống đối lẫn nhau là Châu Du và Khổng Minh Gia Cát Lượng. Châu Du hộc máu vì tức giận đã lầm kế Gia Cát Lượng, trước khi chết Châu Du oán thán kêu trách trời cao:
“Trời đã sinh ra Du còn sinh chi ra Lượng.”
Năm 2002 sau 10 giờ đàm đạo, Bill Gates đã ngẩng đầu lên trời, cảm tạ Thượng Đế:
“Thượng Đế đã sinh ra Bill, còn sinh ra Warren Buffett nữa, tri kỷ tương phùng.” 
Bill Gates đã hoàn toàn kính phục WB về mọi phương diện: tài đầu tư, cuộc sống giản dị, đạo đức nhân cách và làm việc từ thiện.
Năm 2006 ông Warren Buffett hứa tặng 35 tỷ Mỹ kim vào Quỹ Bill & Melinda Gates cơ quan từ thiện khắp thế giới này nhằm mục đích chống nghèo đói, phát triển y tế chữa trị bệnh tật và gia tăng giáo dục cấp học bổng cho sinh viên nghèo hiếu học, do vợ chồng ông Gates thành lập năm 2000. Số tiền khổng lồ này cộng với số tiền Bill Gates tặng vào Quỹ trước đây sẽ vượt quá 70 tỷ Mỹ kim, đây là Cơ quan từ thiện có ngân quỹ hoạt động lớn nhất trên hành tinh này.
Trên thực tế, ông bà Warren Buffett cũng đã lập ra Quỹ từ thiện mang tên Susan Thompson Buffett Foundation từ năm 1966 với số tiền hiện có trong quỹ khoảng 275 triệu và ông Buffett sẽ tặng thêm 3 tỷ đô la nữa trong năm 2006. Nhưng vì sao ông lại đem thêm 35 tỷ đô la nữa tặng vào Bill & Melinda Gates Foundation?

Bill & Melinda Gates
Những người làm việc từ thiện vĩ đại sớm nhất của Hoa Kỳ như ông Andrew Carnegie năm 1919 đã hiến tặng 350 triệu Mỹ kim tương đương 7.2 tỷ hiện nay, ông John D. Rockefeller tặng 450 triệu Mỹ kim năm 1937 trị giá bằng 7.1 tỷ đô la hiện nay; hai vị này đều cho rằng rất khó để điều hành một quỹ từ thiện to lớn tránh khỏi phí phạm, lạm dụng và có khi gây ra tình trạng tham nhũng.

Một Hội từ thiện hoạt động tốt và hiệu quả nhất, chi phí điều hành và nhân viên phải dưới 1% số tiền quyên góp được, như Hội Bác sĩ không biên giới, Hoa kỳ (Doctors Without Borders, USA) mà tôi thường tham dự.
Ông Warren Buffett đã quan sát nghiên cứu phương pháp điều hành quản trị của ông Bill Gates tại công ty Microsoft và tại Bill & Melinda Gates Foundation, ông tin tưởng rằng khi Bill Gates dùng toàn thời gian cho Quỹ từ thiện, Bill Gates sẽ cống hiến sự quản lý khoa học chặt chẽ tốt đẹp nhất trong việc điều khiển 686 nhân viên làm việc cho Quỹ từ thiện này để công tác đạt được hiệu quả tối đa với chi phí điều hành hạn chế tối thiểu. Với lý do này Warren Buffett đã không ngần ngại tặng 35 tỷ đô la vào Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation.

Bill & Melinda Gates and Warren Buffett
Làm việc từ thiện ở Hoa Kỳ không những chỉ có người giàu, người khá giả dư tiền mà ngay trong thành phần người nghèo nữa, bởi vì họ là những người đi tìm hạnh phúc trong việc làm từ thiện, một hạnh phúc ý nghĩa lâu dài hơn những nguồn vui ngắn ngủi vật chất. Theo tài liệu nghiên cứu của công ty Justgive.org, những gia đình nghèo ở Hoa Kỳ lợi tức khoảng 10 ngàn đô la mỗi năm, trung bình đã đóng góp từ thiện 520 đô la, nghĩa là bằng 5.2% lợi tức, một tỷ lệ cao nhất nếu đem so sánh với bất cứ thành phần nào trong xã hội.

Ngoài công việc đóng góp tiền bạc để làm việc từ thiện, người Hoa kỳ còn đóng góp thì giờ không đòi trả lương để làm công tác thiện nguyện. Theo thống kê năm 2005, đã có 65.4 triệu người Hoa Kỳ tự nguyện cống hiến trung bình hơn 50 giờ làm việc thiện nguyện trong năm này. Xã hội Hoa Kỳ đua nhau làm việc từ thiện bằng mọi cách, mọi hình thức, đây là một quốc gia giàu lòng từ thiện quảng đại nhất, chẳng những giúp người kém may mắn trong nước mà còn viện trợ nhân đạo khắp cả hoàn cầu.

Cuối thế kỷ 20, Viện Gallup đã nhiều lần làm những cuộc thăm dò, nhất là cuộc nghiên cứu thăm dò vào năm 1999 để xem nhân loại bình bầu chọn ai là người làm việc từ thiện đáng ngưỡng mộ kính phục nhất của thế kỷ hai mươi. Kết quả cuộc nghiên cứu thăm dò thật khoa học đúng đắn này, người được bình chọn không phải là người Hoa Kỳ, mà là Mother Teresa sinh ra đời năm 1910, cha mẹ là người Albania, nhưng Mẹ Teresa mang quốc tịch Ấn Độ, theo đạo Công giáo. Năm 1950 Mẹ Teresa được Giáo hội Vatican cho phép thành lập Hội từ thiện Missionaries of Charity, hội chuyên lo giúp đỡ những người nghèo khó khốn cùng, những người mắc bệnh cùi hủi, bệnh AID/HIV, bệnh ho lao, những cô nhi quả phụ không nơi nương tựa. Cho đến ngày 5 tháng 9 năm 1997 khi Mẹ Teresa mất, Hội Từ thiện Missionaries of Charity đã có 610 cơ sở gồm 400 thầy tu, 4000 tu nữ và gần 100 ngàn nhân viên thiện nguyện hoạt động trong 123 quốc gia để cứu người giúp đời.

Công việc làm từ thiện của Mẹ Teresa đã được nhiệt liệt hoan nghênh cùng khắp thế giới. Năm 1962 quốc gia Phi Luật Tân trao tặng cho bà giải thưởng Ramon Magsaysay về những công tác nhân đạo của bà ở Đông Nam Á. Năm 1971 Đức Giáo hoàng Paul VI tặng thưởng cho bà Giải thưởng Pope John 13 Peace Prize. Năm 1973 Mẹ Teresa nhận giải thưởng Templeton Prize, giải thưởng giá trị kim ngân lúc nào cũng cao hơn giải Nobel, vì nhân cách đạo đức của bà cùng những việc làm từ thiện trên thế giới. Năm 1979 Mẹ Teresa được trao tặng giải thưởng Nobel hòa bình, bà đến nhận giải thưởng để lấy tiền giúp người nghèo tại Ấn Độ nhưng bà từ chối tham dự bữa tiệc sang trọng tiếp sau lễ trao giải thưởng.

Một phóng viên báo chí hỏi bà:“Chúng ta có thể làm gì để cổ võ hòa bình trên thế giới?”Bà mỉm cười hóm hỉnh:“Hãy đi về nhà và yêu thương gia đình của bạn.” (Nguyên văn: Go home and love your family).

Năm 1985, Tổng thống Hoa kỳ Ronald Regan trao tặng cho Mẹ Teresa huy chương President Medal of Freedom, một trong những huy chương cao quý nhất của quốc gia này. Những năm trong thập niên 1980, Hội Từ thiện Missionaries of Charity hoạt động mạnh tại Hoa Kỳ và có trên 19 cơ sở, từ khu nghèo nàn Harlem của thành phố New York đến Trung tâm săn sóc bệnh nhân AID/HIV tại San Francisco. Trong thời gian này Mẹ Teresa thường đi gây quỹ kêu gọi lòng hảo tâm của những người Hoa Kỳ thích làm việc từ thiện.Năm 1984 tôi được thành phố Houston bầu vào chức vụ Houston’s Poet Laureate, nhà thơ Công huân Danh dự của thành phố Houston. Trong ba năm 1984-1987 tôi được mời làm diễn giả chính, keynote speaker của các buổi lễ văn hóa, xã hội từ thiện. Một lần trong năm 1986 để chuẩn bị đón tiếp Mẹ Teresa trong buổi lễ gây quỹ từ thiện cho Missionaries of Charity, tôi đã chuẩn bị soạn sẵn một bài diễn văn thật ý nghĩa cảm động chào mừng bà và để gây cảm hứng cho những tấm lòng quảng đại từ tâm.Mẹ Teresa đã đến hơi trễ và bất ngờ bà đến thẳng bục cao, cầm micro hướng về quan khách, bà dịu dàng nhỏ nhẹ:“Tôi đã chọn những kẻ nghèo đói khốn cùng, những kẻ cùi hủi, bệnh AID/HIV, những kẻ tàn tật đui mù vô gia cư, những kẻ bị xã hội ruồng bỏ để phục vụ và tôi vô cùng biết ơn lòng từ thiện rộng lượng của quý vị để giúp chúng tôi theo đuổi công tác nhân đạo này. Xin lỗi tôi không có thì giờ nghe diễn văn cùng theo đúng chương trình sắp đặt của quý vị và xin vui lòng nhớ rằng ngay trong giờ phút này hàng triệu cặp mắt của những kẻ khốn cùng đang mở to cầu cứu hướng về quý vị.”

Mẹ Teresa đã phá lệ không theo chương trình của ban tổ chức, nói xong bà tiến đến bắt tay từng người để từ giã ra đi. Khi bà đến chỗ tôi đứng, tôi giơ cao hai tay lên ôm lấy bà, hôn lên khuôn mặt đầy những nét nhăn nheo của bà, khuôn mặt mẹ hiền nhân loại, khuôn mặt đạo đức đẹp nhất của loài người. Hôm ấy một số tiền lớn được quyên góp và trao tặng cho người đại diện của Missionaries of Charity. Cho đến cuối năm 2007, dân chúng Hoa Kỳ từ người trung lưu đến các tỷ phú đã đóng góp một phần lớn cho ngân sách hoạt động từ thiện của hội này.

Hoa kỳ cùng thế giới đang tiến vào thời gian cuối của thập niên đầu thế kỷ 21 và đang trải qua cơn khủng hoàng tài chánh, đời sống phải đương đầu với nhiều khó khăn. Nhưng dầu trong hoàn cảnh nào, xin lấy câu châm ngôn:
 
“If you are not poor enough to take charity, you are rich enough to give it”Nếu bạn không nghèo đủ để xin tiền từ thiện, như vậy bạn giàu đủ để đóng góp làm việc từ thiện. 


____________________________

Câu chuyện cuối tuần 
  
Học viện Khổng Tử ở Việt Nam: những gì 
cần cân nhắc?
Nhân chuyến công du vừa qua, Phó chủ tịch nước Trung Quốc, ông Tập Cận Bình, nhắc Việt Nam mau chóng thành lập “Học viện Khổng Tử” để tăng cường hợp tác trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Việc này sẽ đem lại những gì cho Việt Nam?

Wikimedia Commons
Ảnh minh hoạ Khổng Phu Tử trong cuốn Thần thoại và Truyền thuyết Trung Hoa, 1922, của E.T.C. Werner
 Hối thúc
Trong cuộc hội đàm ngày 21/12/2011 của ông Tập Cận Bình với các nhà lãnh đạo Việt Nam, vị Phó Chủ tịch nước Trung Quốc cho biết mong muốn “thúc đẩy quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện tiến lên 5 phương diện”. Một trong những phương diện ấy là lĩnh vực khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn hóa, y tế, đào tạo nguồn nhân lực. Nhấn mạnh điểm này, ông Tập cho biết mong muốn “nhanh chóng xây dựng Học viện Khổng Tử tại Việt Nam”.
Sở dĩ có sự thúc đẩy như thế vì vào tháng 4 năm 2009, văn phòng Chính phủ Việt Nam đã có công văn số 1992/VPCP-QHQT cho phép thành lập một “Học viện Khổng Tử” tại Việt Nam. Công văn ấy cũng được gửi đến các bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngoại giao, Công an và Văn phòng Trung Ương Đảng Cộng Sản nhưng chưa cho biết cụ thể thời điểm cũng như nơi chốn của việc xây dựng.
Học viện Khổng Tử hoạt động dưới sự chỉ đạo của Văn phòng về Hội đồng Ngôn ngữ Quốc tế - một tổ chức phi lợi nhuận phụ thuộc vào Bộ giáo dục Trung Quốc. Chức năng của các học viện Khổng Tử được người ta nói đến như Viện trao đổi văn hóa Pháp (Alliance Française), Học viện Goethe của Đức (Goethe Institute), Hội đồng Anh (British Council) hay Học viện Cervantes (Instituto Cervantes) của Tây Ban Nha. Tuy nhiên, điểm khác biệt là Học viện Khổng Tử thường được đặt tại các trường học. Chính vì điều này, đã có những quan ngại cho rằng những học viện Khổng Tử có thể ảnh hưởng đến tính tự do trong học thuật.  
Ảnh chụp một tác phẩm hội họa về Khổng Tử của họa sĩ Ngô Đạo Tử (680–740) thời kỳ Nhà Đường. Source: Wikimedia CommonsẢnh chụp một tác phẩm hội họa về Khổng Tử của họa sĩ Ngô Đạo Tử (680–740) thời kỳ Nhà Đường. Source: Wikimedia Commons

Quyền lực "mềm"

Một điểm đặc biệt về Học viện Khổng Tử là đây không phải là nơi để tuyên truyền Nho giáo hay bàn về “hiếu, lễ, nhân, nghĩa” của ngài Khổng Tử – mà chính là nơi để quảng bá văn hoá và ngôn ngữ Trung Quốc. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, người có các nghiên cứu về văn hóa Việt Nam và Trung Quốc, nói về các hoạt động của các Học viện Khổng Tử, mà theo ông thực chất là các trung tâm văn hóa của Trung Quốc:
"Học viện Khổng Tử ở Việt Nam nếu được thành lập trong tương lai thì cũng giống như những học viện Khổng Tử khác trên thế giới thực chất là trung tâm truyền bá và quảng cáo văn hóa của Trung Quốc. Tôi hình dung ra là trong đó sẽ có những hoạt động như dạy tiếng Hoa, giới thiệu về ẩm thực, về thư pháp về trà đạo...Bên cạnh đó còn có các hoạt động giao lưu giữa các nghệ sĩ Trung Quốc để giới thiệu về các hoạt động văn hóa nước họ. Bên cạnh đó, có thể có những trung tâm tư vấn về du học nữa”
Trên các phương tiện truyền thông chính thống của Trung Quốc, các học viện Khổng Tử được đề cập như một nơi quảng bá văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc, cũng như cải thiện quan hệ ngoại giao của nước này với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, đã có nhiều phân tích cũng như quan ngại về một “quyền lực mềm” qua các viện Khổng Tử khi các học viện như thế xuất hiện ngày càng nhiều trên thế giới.
Thêm vào đó là mối quan ngại về việc thông qua các học viện Khổng Tử, Trung Quốc có thể đưa những tin tức có lợi cho mình về các vấn đề Đài Loan hay Tây Tạng. Ví dụ, vào năm 2009, tại học viện Khổng Tử của trường đại học Maryland ở Hoa Kỳ, trong một cuộc triển lãm về hình ảnh Tây Tạng, một chính khách Trung Quốc đã có những phát biểu chỉ trích Đức Đạt Lai Lạt Ma và cho rằng “Tây Tạng luôn là một phần của Trung Quốc từ thời cổ đại”.
Tính cho đến thời điểm này, đã có ít nhất 400 học viện Khổng Tử tại hơn 90 nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Triều Tiên. Tại Châu Á có khoảng trên 40 học viện Khổng Tử, ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Burma, Philippines và Singapore. Riêng tại Thái Lan đã có đến 13 học viện Khổng Tử; trong số đó 3 học viện ở Bangkok. Trong quyển sách “Asia Alone: The dangerous post crisis divide from America” (tạm dịch: “Riêng Châu Á: Mối nguy của sự tách biệt khỏi Hoa Kỳ trong thời kỳ hậu khủng hoảng”) của tác giả Simon S.C. Tay– chủ tịch Học viện Quan hệ Quốc tế Singapore, ông gọi sự phát triển của các viện Khổng Tử là “ấn tượng, vì học viện đầu tiên được xây dựng chỉ vào giữa năm 2004”. Và Trung Quốc có kế hoạch đến năm 2020, sẽ xây dựng khoảng 1000 học viện Khổng Tử trên khắp thế giới.
Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài xem học viện Khổng Tử như một chương trình thực hiện “quyền lực mềm” nhằm quảng bá kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ và ngoại giao. Thậm chí, đã có những quan ngại cho rằng những học viện này có thể đóng vai trò tình báo như cảnh báo của một số nhân vật đối với học viện Khổng Tử tại Vancouver, Canada hồi năm 2008, 2009.
Bà Elizabeth Economy, một chuyên gia về Trung Quốc, từng cho rằng “Người ta thường định nghĩa quyền lực mềm là sự phát triển đầu tư và kinh tế”, nhưng “quyền lực mềm là văn hóa, giáo dục và ngoại giao”. Theo một bài phân tích đăng vào năm 2006 trên Hội đồng Quan hệ Đối ngoại–CFR, một tổ chức có trụ sở tại Hoa Kỳ chuyên phân tích các vấn đề đối ngoại, tác giả Esther Pan cho biết từ năm 2005, Trung Quốc bắt đầu thực hiện “quyền lực mềm” nhằm gia tăng ảnh hưởng của nước này. Và các học viện Khổng Tử đóng vai trò quan trọng đầu tiên. Ông Lý Trường Xuân, Trưởng ban Tuyên giáo Trung Ương Trung Quốc đã từng phát biểu trên tờ Economist rằng các học viện Khổng Tử “đóng một vai trò quan trọng trong các tổ chức tuyên truyền Trung Quốc tại nước ngoài”.

"Màu sắc Trung Quốc" nơi nơi

Nói về việc thành lập các học viện Khổng Tử ở Việt Nam, TS Nguyễn Xuân Diện thể hiện quan ngại của mình:
“Tuy nhiên, có một điều như thế này. Hiện nay, phải thừa nhận rằng giới lãnh đạo về văn hóa của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh. Điển hình là vừa rồi có những công trình tu bổ hoặc xây mới mang đậm dấu ấn Trung Quốc. Thêm vào đó, có hàng loạt các ngôi chùa từ Nam chí Bắc trùng tu, trang trí theo kiểu Trung Quốc. Nhiều công trình mới xây cũng có tượng sư tử Trung Quốc. Rồi hàng hóa, đèn lồng Trung Quốc xuất hiện tại Việt Nam”
Một nước có quyền lực mạnh mẽ là một nước biết quảng bá văn hóa của mình để đạt được hai mục đích. Thứ nhất là thúc đẩy kinh tế thông qua giao thương các mặt hàng văn hóa. Thứ hai là xây dựng một nền văn hóa phổ biến để thực hiện ý thức hệ của mình. Đây cũng là chính sách mà từ những năm 1950, Hoa Kỳ đã áp dụng thông qua Trung tâm Thông tin Hoa Kỳ - USIA nhằm mở rộng ảnh hưởng của mình trên thế giới.

Mộ Khổng Tử tại Khúc Phụ, quê hương ông-Source: Wikimedia Commons
Mộ Khổng Tử tại Khúc Phụ, quê hương ông-Source: Wikimedia Commons
Yếu tố lịch sử, địa lý chính trị

Xét đến yếu tố địa lý, đến lịch sử Việt–Trung, sẽ thấy việc xây dựng viện Khổng Tử tại Việt Nam mang ý nghĩa khác với bất kỳ một học viện Khổng Tử nào trên thế giới vì nó dễ tạo ra một ảnh hưởng văn hóa mạnh hơn bất cứ nước nào.
Về mặt địa lý, Việt Nam chỉ giáp ba nước là Lào, Campuchia và Trung Quốc. Các phía Đông và phía Nam đều giáp biển. Xét về văn minh, Trung Quốc là nước có nền văn minh lâu đời và tiến bộ hơn cả nên Việt Nam không thể tránh việc lấy nền văn minh Trung Quốc làm thước đo của sự tiến bộ nước nhà.
Về mặt lịch sử, khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc lập ra Nam Việt nào năm 208 trước Công nguyên, thì văn minh Trung Quốc từ đó cũng được mang vào để cai trị. Vả lại, sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc từ thời Vũ đế nhà Hán đến khi Ngô Quyền đại thắng trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt Nam dù giữ được cái ý chí riêng, nhưng cũng bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Trong “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim cũng đã viết “sự sùng tín, sự học vấn, cách cai trị thì bao giờ mình cũng chịu ảnh hưởng của Tàu”. Chính vì thế, cần phải có một “lập trường và bản lĩnh” để giữ vững những đặc trưng của dân tộc. Đó là ý của TS Nguyễn Xuân Diện:
“Vì vậy, để những học viện Khổng Tử như thế tồn tại ở Việt Nam đòi hỏi những nhà lãnh đạo về tư tưởng và văn hóa phải có sự hiểu biết sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng. Nếu không, nó sẽ là cuộc xâm lăng về mặt văn hóa hay còn gọi là “quyền lực mềm” sẽ bị áp đặt tại Việt Nam. Lúc ấy, chúng ta sẽ không thể nào chống lại được. Văn hóa là một nền tảng của đất nước, một khi văn hóa bị thuần hóa thì đó là một điều nguy hiểm”
Xét đến ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên văn hóa Việt Nam; xét đến lịch sử bị Trung Quốc đô hộ trong quá khứ, và xét đến những tranh chấp biên giới cũng như biển đảo còn kéo dài và chưa minh bạch đến ngày nay, việc tách văn hóa Việt Nam ra khỏi văn hóa Trung Quốc hoặc ít ra tiếp thu văn hóa thế nào để vẫn giữ đặc trung dân tộc là việc cần thiết.
Không thể phủ nhận văn hóa Việt Nam đã mang nhiều bóng dáng văn hóa Trung Quốc vì đặc thù lịch sử và địa lý. Tuy nhiên, dù là một mái đình, dù là một con sử tử đá, Việt Nam cũng cần được bảo trì bởi một đất nước chỉ được phân biệt và nhận dạng bằng chính ngôn ngữ, con người và những đặc trưng văn hóa như cách ứng xử, phong tục, tập quán, trang phục…của nước ấy. Nền văn hóa ấy không thể bị xâm lược bởi xâm lược văn hóa cũng là xâm lược.
________________________

Cau chuyen truoc them nam moi 2012 

31/12/2011

Ngoái nhìn năm 2011: Con người từ đâu đến, và anh ta đi về đâu?


Lê Phú Khải
Kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô và khối XHCN Đông Âu tan rã cho đến nay, có lẽ năm 2011 vừa qua là năm nhân loại chứng kiến nhiều biến động nhất. Từ thế giới dân chủ văn minh đến những quốc gia độc tài man rợ còn sót lại trên hành tinh, con người đều lo âu, hoảng hốt, run rẩy trên đôi chân của mình. Cả bơ vơ nữa!
Ngoái nhìn năm 2011, tôi bỗng nhớ đến Sartre, hiện thân của chủ nghĩa hiện sinh, hiện thân của nỗi lo âu về than phận con người sau hai cuộc đại chiến chém giết nhau ở thế kỷ 20. Sartre viết: Con người từ đâu đến và anh ta đi về đâu? Trái đất này không phải là nơi cư trú của con người?!

Năm 2011, vâng đúng năm 2011, cả nhân loại đang rơi vào tâm trạng của Sartre.
Trước hết nói về thế giới văn minh dân chủ phương Tây. Cuộc bạo loạn ở Anh khiến người ta phải sửng sốt. Mượn cớ một tên cảnh sát bắn chết một người da màu, dân Anh, chủ yếu là thanh niên, đã “bức xúc” và thi nhau đập phá các cửa hàng, cửa hiệu sang trọng để cướp đi thứ họ thèm muốn như tivi đời mới, điện thoại di động thời trang, máy vi tính loại đắt tiền, v.v. và v.v. Có một câu chuyện khôi hài như thế này, tại một dãy phố sang trọng ở Luân Đôn, sau khi người ta đã đập phá hết các cửa tiệm, một ông chủ tiệm sách ngồi run sợ chờ đến phiên cửa hiệu của mình bị đập phá và cướp bóc!. Chờ mãi, chờ mãi… không thấy ai phá cửa để cướp sách cả!
Thật là buồn cho nước Anh, thì ra sau nhiều năm xây dựng nền dân chủ tư sản văn minh, người ta đã tạo ra một lớp người chỉ say sưa hưởng thụ, tiêu dùng… ngoài ra không có… gì nữa! Trong khi đó thì ở Nhật, trong cơn hoạn nạn động đất, sóng thần, rò rỉ lò phản ứng hạt nhân… tiền trôi ra từ những căn nhà sụp đổ… Nhưng không phải tiền của mình thì không ai nhặt cả. Năm 2011 người Nhật đã dạy cho cả loài người thế nào là nhân phẩm. Dĩ nhiên là có cả Việt Nam chúng ta, nơi đã diễn ra cảnh một người bị cướp túi tiền trên đường phố ở Sài Gòn, tiền của ông ta vung vãi ra… và mọi người đã xông vào cướp tiền của người bị cướp… Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã khái quát tình hình của đất nước hôm nay như sau:
Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!
Nói tiếp về xã hội dân chủ phương Tây ngày nay. Đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, sau 27 năm sống ở Pháp, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện bị trục xuất về nước. 27 năm sống giữa kinh thành hoa lệ Paris, về nước, nhà trí thức tên tuổi này vẫn mặc những đồ tuềnh toàng chẳng mấy khi là ủi… Ông than phiền với chúng tôi, họ – tức tây đầm – mua một lúc một tá sơmi, rồi chỉ mặc một chiếc, rồi vứt đi, rồi lại đi sắm một tá sơmi khác cho “à la mode”. Trái đất này hết chịu nổi cách tiêu xài phá hoại môi sinh đến thế. Ngày trả giá của xã hội tiêu dùng phương Tây không còn bao xa nữa!
Lời tiên đoán của “ông đồ nghệ” Nguyễn Khắc Viện đã thành sự thật. Nước Mỹ phải đem tiền đóng thuế của dân để cứu các ngân hàng tư nhân phá sản vì cho vay bạt mạng để thiên hạ mua sắm vila, biệt thự… Đau đớn cho nước Mỹ là Quốc hội phải thông qua việc làm phản dân chủ này không thì… chết cả nút! Đồng Euro mất giá nghiêm trọng. Người ta đã phải họp bàn để xoá 50% nợ cho Hy Lạp, Ý, Tây Ban Nha… đang khốn đốn về tài chính. Đồng Euro chạy đi đâu? Nó chạy vào túi người Tàu đã bán hàng rẻ cho các nước EU. Sau những năm phè phỡn tiêu xài hàng rẻ, chính phủ các nước phương Tây đang kêu gọi người dân “thắt lưng buộc bụng”. Nhưng dân chúng quen tiêu xài, quen mua một tá sơmi rồi chỉ mặc một chiếc, vứt đi 11 chiếc, lại xuống đường phản đối chính phủ. Thật là một “trò hề văn minh” đang diễn ra trên trái đất này. Hò hét “kích cầu” rồi lại hò hét “thắt lưng buộc bụng”! Oái oăm là phải kêu gọi người Tàu cứu vãn đồng Euro! Phụ nữ Trung Quốc phải xích chân con mình bên cỗ máy (vì không có tiền gửi con đi nhà trẻ) để làm ra những thứ hàng rẻ bán cho thế giới. Những ông chủ tư bản đỏ Trung Quốc nhờ vắt kiệt mồ hôi và nước mắt của dân chúng mình để xuất khẩu hàng rẻ và trở thành những ông chủ nợ lớn của phương Tây. Báo chí Hoa Lục đã tiết lộ… Trung Quốc đã tìm thấy gót chân Achille của Mỹ là “sống trên mức mình có” nhằm “hạ thủ” đối thủ. Tờ Le Figaro của Pháp đã dùng lại cụm từ này (vivre au dessus de ses moyens) để cảnh báo bàn dân thiên hạ nước mình! Thật trớ trêu cho nhân loại tiến bộ ở đầu thế kỷ 21 này, là những quốc gia tự nhận mình là dân chủ văn minh lại phải “nhờ cậy” vào túi tiền bẩn thỉu của một nhà nước độc tài toàn trị đang trên đường phát xít hoá là Trung Quốc.
Môi trường xã hội thì như thế, còn môi trường tự nhiên thì ra sao? Các nhà khoa học đã cho biết, từ năm 1860 và trong vòng 100 năm lại đây, trung bình nhiệt độ toàn cầu tăng 0,8 độ C. Còn sắp tới, nếu tầng ozone bao quanh trái đất chúng ta vẫn bị tổn thương như hiện nay, trái đất sẽ nóng lên 3 độ C trong vòng 100 năm tới! Các tảng băng khổng lồ Iceland, Norway, Rhone (núi Anpes), Lemon Creek (Alaska)… ngày càng ngắn đi, ở Bắc Cực ngày càng mỏng đi… Rồi sẽ ra sao ? (Que sera, sera!). Con người không lo âu sao được khi trái đất bị cào cấu, đào bới đến rỗng ruột. Thảm hoạ hạt nhân ở Nhật Bản năm qua khiến nhiều quốc gia như Đức tuyên bố thà thắp nến chứ không xài điện hạt nhân. Người Pháp hô khẩu hiệu với điện hạt nhân: “Rủi ro số 0, không bao giờ có” (Risque 0, n’ existe pas).
Cũng may là đến 2011, nhân loại đã nhận ra mối rủi ro ở tầm thảm hoạ đang rình rập con người ở phía trước. Phải thay đổi cách sống, lối sống, lối cư xử với thiên nhiên khi chưa quá muộn.
Cũng năm 2011, lần đầu tiên nhân loại chứng kiến một người bình thường đã làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, làm thay đổi lịch sử thế giới hiện đại. Nói đúng hơn là, ngọn lửa tự nhiên của anh sinh viên thất nghiệp Bouazizi ở Tunisia đã làm bùng cháy cả một châu lục. Cái mà người ta gọi là sự “ổn định”, và hùa nhau cố giữ cái “ổn định” chết người này, chỉ cần một tia lửa điện bật lên là cái pít-tông khổng lồ Bắc Phi đã nén đầy chất cháy nổ nửa thế kỷ qua đùng đùng khởi động. Hàng triệu con sư tử Châu Phi đã lồng lên rung động cả thế giới.
Sau Thiên An Môn, đây là lần thứ hai có một chính quyền nã súng vào nhân dân biểu tình tay không một cách cực kỳ dã man – khi họ vừa tan lễ nhà thờ ra ở Tripoli. Và cái điện thoại di động của những người biểu tình phản đối ông Gaddafi đã báo cho cả loài người biết, cái dã man đã hết thời! Cũng lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một ông vua có cả trăm tỷ đôla phải chui xuống cống để chết nhục nhã. Trả lời phỏng vấn của tạp chí Time ngày 19/10/2011 bà Hillary Clinton nói: “Bây giờ không còn chỗ cho các nhà lãnh đạo độc đoán độc tài trước kia. Lãnh đạo ngày nay bắt buộc phải ý thức được những gì đang sôi sục ở bên dưới. Tôi hoàn toàn coi đó là một sự thay đổi lịch sử thế giới. Tôi nghĩ rằng đó là một sự kiện có thể làm thay đổi lịch sử. Những gì đã xảy ra sau vụ người bán hoa quả người Tunisia phản ánh sự thừa nhận rằng trong thời đại mới của sự tham gia, trong thời đại mới của tính minh bạch và truyền thông tức thời thì các nhà lãnh đạo sẽ chắc chắn ngày càng khó mà lãnh đạo độc đoán theo những cách thức truyền thống như trước đây”.
“Người bán hoa quả” người Tunisia mà bà ngoại trưởng Clinton nhắc tới chính là anh sinh viên 27 tuổi Bouazizi sau khi đã tốt nghiệp đại học, không kiếm được việc làm, phải đi bán hoa quả rong trên đường phố đã bị cảnh sát đánh đập và tịch thu xe hoa quả, triệt đường sinh sống. Chỉ đơn giản vậy thôi, nhưng không hề đơn giản. Tổng thống Ben Ali của Tunisia vẫn dùng tiền thuế của dân để mời mọc các nhà lãnh đạo thế giới sang Tunisia nghỉ mát để mong một sự “đồng thuận” cho “ổn định” bất công! Chính bà Ngoại trưởng Pháp vừa sang nghỉ mát ở Tunisia về thì sau đó ngọn lửa Bouazizi bùng cháy. Báo chí Pháp đã chửi tan nát bà Ngoại trưởng này và bà đã phải từ chức!
Bouazizi đã đòi “quyền được sống” như chữ dùng trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ… bằng chính máu của mình. Và cái chết của anh đã giành được “quyền được sống” cho hàng trăm triệu người Phi nhờ thời đại thông tin “truyền thông tức thời” như lời lẽ của bà Hillary Clinton.
Cách mạng hoa lài ở Bắc Phi diễn ra suốt năm 2011 đã soi rọi mọi chân tướng. Những quốc gia độc tài, những kẻ muốn làm tổng thống suốt đời đã không ngừng phản đối mọi “can thiệp” và họ trở nên bẽ bàng khi ngài Gaddafi chết trong cống rãnh trên chính quê hương minh!. Hương hoa lài “cuốn theo chiều gió” đã phảng phất bay tới các khu rừng núi hoang vu Châu Á. Và nó đã toả hương trên những cánh đồng màu mỡ nhưng luôn thất mùa ở Miến Điện. Hy vọng và hy vọng cho những khu rừng Châu Á âm u…
Nếu hơn hai thập kỷ qua Phương Tây “sập bẫy” vì những món hàng rẻ Trung Quốc thì năm 2011 vừa qua, không nghe lời ông Đặng khuyên “phải giấu mình chờ thời”, phái quân sự hiếu chiến Trung Quốc đã làm cho quốc gia này sập bẫy vì những lời hò hét chiến tranh và bành trướng của họ. Trung Quốc không hề mạnh như mấy anh tướng võ biền huênh hoang. 5000 người giàu có nhất nước này, chiếm đến 28% GDP của quốc gia này đều chuyển hết tiền và con cái của họ đi Mỹ thì đất nước này đâu có tương lai. Trông chờ gì ở những kẻ giàu có đã ly dị với chính Tổ quốc của họ. Còn gần 800 triệu người nghèo ở Trung Quốc thì luôn chống đối vì bị cướp ruộng đất để làm “công xưởng thế giới”, công xưởng nào sinh ra mà thiếu luật lệ thì cũng tàn phá môi sinh. 1/3 đất đai Trung Quốc đang bị sa mạc hoá vì những công xưởng này, nhà máy hoá chất nằm trong khu dân cư đã khiến cả một huyện ở Trung Quốc, phụ nữ đẻ ra toàn quái thai. Tính đến tháng 10/2011 đã có 178 nghìn cuộc nổi dậy bạo loạn và hàng loạt vụ tự thiêu vào cuối năm ở Tây Tạng nói lên sự bất ổn của quốc gia này. Tăng trưởng bằng mọi giá là hoang tưởng và chỉ có lợi cho kẻ cầm quyền và tạo nên một nền kinh tế bong bóng. Giá nhà ở quận Thuận Nghĩa tỉnh Thiên Tân đã lên đến 4000 đô một mét vuông, đắt nhất nước. Nhưng phải 25 năm nữa Thiên Tân mới sử dụng hết số nhà cao tầng đã xây. Vũ Hán phải 8 năm nữa mới bán hết nhà đã xây! Các địa phương ở Trung Quốc đang nợ của Ngân hàng Credit Suisse 16.000 tỷ đô la vì cướp đất để xây nhà trong năm 2010! Phải viết 100 luận án tiến sĩ về đề tài “bất ổn ở Trung Quốc” cũng chưa đủ để nói lên điều gì!. Trung Quốc cũng không hề mạnh về quân sự. Hơn 10 tàu sân bay của Mỹ đỗ trên các vùng biển, ngày nào mỗi tàu cũng có 100 chuyến máy bay lên xuống tập dợt thì còn lâu một cái tàu sân bay cổ lỗ sĩ Thi Lang của Trung Quốc mua lại của Ucraina chưa hề tập máy bay lên xuống mới làm bá chủ được Thái Bình Dương. Vậy mà người ta đã vội vã vẽ đường lưỡi bò chiếm 80% biển Đông Nam Á, một sự vội vã đến hoang đường. (Xin mở ngoặc chú thích khái niệm biển Đông Nam Á là do tiến sĩ Tô Văn Trường gọi tên. Đó là một cái tên chính xác.)
Vì thế người Mỹ đã quyết tâm quay lại biển Đông Nam Á. Tổng thống Obama đã nhận Mỹ là một quốc gia Thái Bình Dương. Họ đã đưa quân đội đến hợp tác với nước Úc, nơi các tầm tên lửa của Trung Quốc không với tới được. Đó là tín hiệu lớn của năm 2011.
Ngoái nhìn những gì diễn ra ở năm 2011 tôi không khỏi nhớ đến nỗi u hoài của Sartre về thân phận con người. Nhưng cũng những gì diễn ra ở năm 2011 cũng đã thức tỉnh nhân loại, rằng không thể đối xử với thiên nhiên như con người đã làm những năm tháng qua. Không thể cứ tiêu xài bạt mạng, cứ điên rồ “kích cầu” mãi mãi…
Trái đất đang nóng lên, nước biển sẽ dâng cao, càng nhiều điện hạt nhân bao nhiêu thì càng sớm đến ngày diệt vong. “Thiên nhiên trả thù đấy!”, lời cảnh báo của Engel năm xưa còn nguyên tính thời sự ở thế kỷ 21 này!
Rằng, không thể bất chấp số phận của những người nghèo khó, thấp cổ bé miệng như anh sinh viên Bouazizi, như hàng triệu quần chúng lao khổ… chỉ để duy trì quyền lực của bạo quyền.
Sự hy sinh không tiếc xương máu, không khiếp sợ trước họng súng cường quyền của hàng ngàn, hàng vạn nhân dân Tunisia, Ai Cập, Libya, Syria… để đổi lấy tự do và công lý là đều bất ngờ vĩ đại của năm 2011 mà những người cầm quyền chỉ tin vào súng đạn, dùi cui, nhà tù, cảnh sát, mật vụ… chưa bao giờ nghĩ tới. Dân chủ, công bằng tự do là khát vọng có thật của loài người tiến bộ. Không gì đảo ngược được . Đó là thông điệp lớn lao của năm 2011.
Trái đất này vẫn là nơi cư trú của con người, xin văn hào Jean Paul Sartre hãy ngậm cười nơi chín suối.
L. P. K.
TP. HCM 30.12.2011
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.