Chào mừng năm mới 2012
20:40 Dec 31 2011
20:40 Dec 31 2011
Chep cho ngay mai:
Chúa Nhật: Đức Maria Mẹ Thiên Chúa
(18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.
22 Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: 23 "Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này:
24 "Nguyện Ðức Chúa chúc lành và gìn giữ anh (em)!
25 Nguyện Ðức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)!
26 Nguyện Ðức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)! (Ds 6, 22- 26) (lịch ghi 22- 27)
(4) Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, (5) để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. (6) Ðể chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Ápba, Cha ơi!" (7) Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.(Gl 4, 4- 7)(16) Họ liền hối hả ra đi. Ðến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. (17) Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. (18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. (19) Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. (20) Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
(21) Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu; đó là tên mà sứ thần đã đặt, trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.(Lc 2, 16- 21)
- “Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên”. Các người chăn chiên đã thuật chuyện gì mà ai nấy đều ngạc nhiên? Xin mời đọc đoạn Tin Mừng liền trước bài hôm nay thì sẽ rõ (Lc 2, 8- 15):
"8) Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. (9) Và kìa sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. (10) Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: (11) Hôm nay, một Ðấng Cứu Ðộ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Ðavít, Người là Ðấng Kitô Ðức Chúa. (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ". (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
(14) Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
(15) Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: "Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết"
Chúa Jesus là Đấng Cứu Độ, Người là Đấng Kitô Đức Chúa, Người đã sinh ra cho muôn dân trong đó có tôi có bạn.
Đức Maria là Mẹ Chúa Giêsu tức là Mẹ Thiên Chúa
Nghe bài hát: Dâng Mẹ
________________
Tại sao mấy hôm nay sóng cứ chặn blospot và
một số trang khac... ?
__________________________
21:15 Jan 2 2012
Chep cho thu Ba ngay mai: kinh Danh Thanh Chua Jesus
Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người
là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn"
Nghe bài hát: Dâng Mẹ
________________
một số trang khac... ?
__________________________
21:15 Jan 2 2012
Chep cho thu Ba ngay mai: kinh Danh Thanh Chua Jesus
Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người
là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn"
(29) Nếu anh em biết Thiên Chúa là Ðấng Công Chính,
anh em cũng phải biết rằng:
phàm ai sống công chính
thì đã được Thiên Chúa sinh ra.
(1) Anh em hãy xem
Chúa Cha yêu chúng ta dường nào,
đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa
mà thực sự chúng ta làcon Thiên Chúa.
Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta,
là vì thế gian đã không biết Người.
(2) Anh em thân mến,
hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa;
nhưng chúng ta sẽ như thế nào,
điều ấy chưa được bày tỏ.
Chúng ta biết rằng
khi Ðức Kitô xuất hiện,
chúng ta sẽ nên giống như Người,
vì Người thế nào,
chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
(3) Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Ðức Kitô
thì làm cho mình nên thanh sạch
như Người là Ðấng thanh sạch.
(4) Phàm ai phạm tội
thì cũng chống lại luật Thiên Chúa,
vì tội lỗi chống lại luật Thiên Chúa.
(5) Thế mà anh em biết:
Ðức Giêsu đã xuất hiện
để xóa bỏ tội lỗi,
và nơi Người không có tội lỗi.
(6) Phàm ai ở lại trong Người
thì không phạm tội.
Còn ai phạm tội
thì đã không thấy Người
và cũng chẳng biết Người.(1Ga 2, 29;3, 6)
(29) Hôm sau, ông Gioan thấy Ðức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian. (30) Chính Người là Ðấng tôi đã nói tới khi bảo rằng:
Có người đến sau tôi,
nhưng trổi hơn tôi,
vì có trước tôi.
(31) Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ítraen, tôi đến làm phép rửa trong nước." (32) Ông Gioan còn làm chứng: "Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. (33) Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Ðấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần". (34) Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn".(Ga 1, 29- 34)
- Ngày xưa người ta dùng chiên để tế lễ Javê Thiên Chúa (người ta đốt 1 phần cho hương bay lên phần còn lại để ăn). Lời tiên báo của ông Gioan rằng Chúa Jesus là Chiên Thiên Chúa đã thành sự thật: Chúa đã tự hiến tế thành của lễ chuộc tội cho nhân loại. Người đã lấy chính mạng sống mình làm của lễ toàn thiêu.Giờ đây, nơi này, tôi phải lấy gì làm của lễ dâng lên Thiên Chúa? Tôi có thể từ bỏ ý riêng mình, tôi có thể hãm mình hy sinh và làm những việc lành phúc đức. Tôi có thể lấy mồ hôi nước mắt và cả máu cả con người mình làm của lễ, nếu cần thiết.
“Máu chiên bò Chúa không ưa, của lễ toàn thiêu Chúa không nhận, thì nay con đến để làm theo ý Cha…” (lời 1 bài thánh ca)
“Máu chiên bò Chúa không ưa, của lễ toàn thiêu Chúa không nhận, thì nay con đến để làm theo ý Cha…” (lời 1 bài thánh ca)
_________
21:40 Jan 3 2012
Chep cho thu Tu ngay mai
"Các anh tìm gì thế?"
-Ai cũng muốn làm con cái Thiên Chúa, không ai muốn làm con cái ma quỷ.
Chep cho thu Tu ngay mai
"Các anh tìm gì thế?"
(7) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
đừng để ai làm cho anh em đi lạc đường.
Ai sống công chính, thì là người công chính,
như Ðức Giêsu là Ðấng Công Chính.
(8) Ai phạm tội, thì là người của ma quỷ,
vì ma quỷ phạm tội
từ lúc khởi đầu.
Sỡ dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện,
là để phá hủy công việc của ma quỷ.
(9) Phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra
thì không phạm tội,
vì mầm sống của Thiên Chúa
ở lại trong người ấy,
và người ấy không thể phạm tội,
vì đã được Thiên Chúa sinh ra.
(10) Căn cứ vào điều này mà người ta phân biệt
con cái Thiên Chúa với con cái ma quỷ:
phàm ai không sống công chính
thì không thuộc về Thiên Chúa;
ai không yêu thương anh em mình, thì cũng vậy.(1Ga 3, 7- 10)
(35) Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. (36) Thấy Ðức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa". (37) Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Ðức Giêsu. (38) Ðức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: "Các anh tìm gì thế?" Họ đáp: "Thưa Rápbi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?" (39) Người bảo họ: "Ðến mà xem". Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng bốn giờ chiều.
(40) Ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Ðức Giêsu. (41) Trước hết, ông gặp em mình là ông Simon và nói: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Mêsia" (nghĩa là Ðấng Kitô). (42) Rồi ông dẫn em mình đến gặp Ðức Giêsu. Ðức Giêsu nhìn ông Simon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha" (tức là Phêrô).(Ga 1, 35- 42)
-Ai cũng muốn làm con cái Thiên Chúa, không ai muốn làm con cái ma quỷ.
Muốn làm con cái Thiên Chúa nhưng lại không chịu sống công chính! Muốn làm con cái Thiên Chúa nhưng lại không dứt khoát đoạn tuyệt với tội lỗi! Muốn làm con cái Thiên Chúa nhưng lại không yêu thương anh em mình! Đó là vấn nạn của tôi và của mọi người, làm sao để tôi vượt qua?
Nơi đây, lúc này đây nếu Chúa Jesus hỏi tôi và bạn: "Các anh tìm gì thế?", bạn và tôi có thể trả lời dứt khoát như ông Anrê: "Thưa Rápbi, Thầy ở đâu?". Và nếu Chúa nói: "Ðến mà xem" thì tôi và bạn có mau chân lên đường đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ?
_____________________
17:00 Jan 4 2012
Chep cho thu Nam ngay mai
"Ðây đích thật là một người Ítraen,
lòng dạ không có gì gian dối"
11) Quả thế, đây là lời loan báo cho anh em đã nghe
17:05 Jan 5 2012
Chep cho ngay mai thu Sau dau thang:
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
Cau chuyen giua tuan
_____________________
17:00 Jan 4 2012
Chep cho thu Nam ngay mai
"Ðây đích thật là một người Ítraen,
lòng dạ không có gì gian dối"
11) Quả thế, đây là lời loan báo cho anh em đã nghe
từ lúc khởi đầu:
chúng ta hãy yêu thương nhau;
(12) chúng ta đừng bắt chước Cain:
nó là người của Ác thần,
nên đã giết em mình.
Tại sao nó đã giết em?
Bởi vì các việc nó làm thì xấu xa,
còn các việc em nó làm thì công chính.
(13) Thưa anh em, anh em đừng ngạc nhiên,
nếu thế gian ghét anh em.
(14) Chúng ta biết rằng:
chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống,
vì chúng ta yêu thương anh em.
Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết.
(15) Phàm ai ghét anh em mình
thì là kẻ sát nhân.
Và anh em biết:
không kẻ sát nhân nào
có sự sống đời đời ở lại trong nó.
(16) Căn cứ vào điều này,
chúng ta biết được tình yêu là gì:
đó là Ðức Kitô đã thí mạng vì chúng ta.
Như vậy, cả chúng ta nữa,
chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em.
(17) Nếu ai có của cải thế gian
và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu,
mà chẳng động lòng thương,
thì làm sao tình yêu Thiên Chúa
ở lại trong người ấy được?
(18) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi,
nhưng phải yêu thương cách chân thật
và bằng việc làm.
(19) Căn cứ vào điều đó,
chúng ta sẽ biết rằng
chúng ta đứng về phía sự thật,
và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa.
(20) Vì nếu lòng chúng ta
có cáo tội chúng ta,
Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta,
và người biết hết mọi sự.
(21) Anh em thân mến,
nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta,
chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa.(1Ga 3, 11- 21)
(43) Hôm sau, Ðức Giêsu quyết định đi tới miền Galilê. Người gặp ông Philípphê và nói: "Anh hãy theo tôi". (44) Ông Philípphê là người Bétxaiđa, cùng quê với các ông Anrê và Phêrô.
(45) Ông Philípphê gặp ông Nathanaen và nói: "Ðấng mà sách Luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp: đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Nadarét". (46) Ông Nathanaen liền bảo: "Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?" Ông Philípphê trả lời: "Cứ đến mà xem!" (47) Ðức Giêsu thấy ông Nathanaen tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: "Ðây đích thật là một người Ítraen, lòng dạ không có gì gian dối". (48) Ông Nathanaen hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Ðức Giêsu trả lời: "Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi". (49) Ông Nathanaen nói: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ítraen!" (50) Ðức Giêsu đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa". (51) Người lại nói: "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người".(Ga 1, 43- 51)
(13) Thưa anh em, anh em đừng ngạc nhiên,nếu thế gian ghét anh em.
(17) Nếu ai có của cải thế gian
và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu,
mà chẳng động lòng thương,
thì làm sao tình yêu Thiên Chúa
ở lại trong người ấy được?
__________________________Tôi phải sống như thế nào để ai đó có thể giới thiệu: "Ðây đích thật là một người Việt Nam, lòng dạ không có gì gian dối"?
17:05 Jan 5 2012
Chep cho ngay mai thu Sau dau thang:
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
và sự sống ấy ở trong Con của Người.
(5) Ai là kẻ thắng được thế gian,
nếu không phải là người tin rằng
Ðức Giêsu là con Thiên Chúa?
(6) Chính Ðức Giêsu Kitô là Ðấng đã đến,
nhờ nước và máu;
không phải chỉ trong nước mà thôi,
nhưng trong nước và trong máu.
Chính Thần Khí là chứng nhân,
và Thần Khí là sự thật.
(7) Có ba chứng nhân:
(8) Thần Khí, nước và máu.
Cả ba cùng làm chứng một điều.
(9) Chúng ta vẫn nhận lời chứng của người phàm,
thế mà lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn,
vì đó là lời chứng của Thiên Chúa,
lời Thiên Chúa đã làm chứng về Con của Người.
(10) Ai tin vào Con Thiên Chúa,
thì có lời chứng ấy nơi mình.
Ai không tin Thiên Chúa,
thì coi Thiên Chúa là kẻ nói dối,
vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa
đã làm chứng về Con của Người.
(11) Lời chứng đó là thế này:
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
và sự sống ấy ở trong Con của Người.
(12) Ai có Chúa Con thì có sự sống;
ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống.
(13) Tôi đã viết những điều đó cho anh em
là những người tin vào danh Con Thiên Chúa,
để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời. (1Ga 5, 5- 13)
(6) Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. (7) Ông rao giảng rằng: "Có Ðấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. (8) Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần".
(9) Hồi ấy, Ðức Giêsu từ Nadarét miền Galilê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan. (10) Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. (11) Lại có tiếng từ trời phán rằng: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con." (Mc 1, 6- 11)
- (11) Lời chứng đó là thế này:
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
và sự sống ấy ở trong Con của Người.
(12) Ai có Chúa Con thì có sự sống;
ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống.
(13) Tôi đã viết những điều đó cho anh em
là những người tin vào danh Con Thiên Chúa,
để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời.(1Ga 5, 11- 13)
Tôi có được sự sống đời đời không? Tôi có muốn sự sống đời đời không? - Sự sống đời đời trong tôi tùy thuộc tôi có tin vào Con Thiên Chúa khôn
_________________
13:40 Jan 6 2012
Chep cho ngay mai, thu Bay dau thang
"Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo".
(14) Lý do khiến chúng ta được mạnh dạn
trước mặt Thiên Chúa, đó là:
Người nhậm lời chúng ta,
khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người.
(15) Nếu chúng ta biết rằng
Người nhậm mọi lời chúng ta xin,
thì chúng ta cũng biết rằng
chúng ta sẽ được những gì
chúng ta đã xin Người.
(16) Nếu ai biết anh em mình phạm thứ tội
không đưa đến cái chết,
thì hãy cầu xin,
và Thiên Chúa sẽ ban sự sống cho người anh em ấy;
đó là nói về những ai phạm thứ tội
không đưa đến cái chết.
Có một thứ tội đưa đến cái chết,
tôi không bảo phải cầu xin cho thứ tội ấy.
(17) Mọi điều bất chính đều là tội,
nhưng có một cái tội không đưa đến cái chết.
Tóm lược bức thư
(18) Chúng ta biết rằng
phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra,
thì không phạm tội;
nhưng có Ðấng Thiên Chúa đã sinh ra
giữ gìn người ấy,
và Ác thần không đụng đến người ấy được.
(19) Chúng ta biết rằng
chúng ta thuộc về Thiên Chúa,
còn tất cả thế gian
đều nằm dưới ách thống trị của Ác thần.
(20) Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến
và ban cho chúng ta trí khôn để biết Thiên Chúa thật.
Chúng ta ở trong Thiên Chúa thật,
ở trong Con của Người là Ðức Giêsu Kitô.
Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật
và là sự sống đời đời.
(21) Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
hãy tránh xa các tà thần! (1Ga 5, 14- 21)
(1) Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Ðức Giêsu. (2) Ðức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự. (3) Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Ðức Giêsu nói với Người: "Họ hết rượu rồi". (4) Ðức Giêsu đáp: "Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và con? Giờ của con chưa đến". (5) Thân mẫu Người nói với gia nhân: "Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo".
(6) Ở đó có đặt sáu chum bằng đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Dothái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước. (7) Ðức Giêsu bảo họ: "Các anh đổ đầy nước vào chum đi!" Và họ đổ đầy tới miệng. (8) Rồi Người nói với họ: "Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc". Họ liền đem cho ông. (9) Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu (mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết), ông mới gọi tân lang lại (10) và nói: "Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon cho đến mãi bây giờ". (11) Ðức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bày tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người. (12) Sau đó, Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Caphácnaum và ở lại đó ít ngày.(Ga 2, 1- 12)
"Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo". Tôi có xác tín và làm theo những gì Chúa Jesus bảo? Tôi có luôn cậy nhờ Đức Maria cầu thay nguyện giúp với Chúa Jesus mỗi khi tôi gặp khó khăn?
Tôi có dùng trí khôn Thiên Chúa ban cho để nhận biết Thiên Chúa thật? Tôi có biết tôi được ở trong Thiên Chúa thật?
(20) Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến
và ban cho chúng ta trí khôn để biết Thiên Chúa thật.
Chúng ta ở trong Thiên Chúa thật,
ở trong Con của Người là Ðức Giêsu Kitô.
Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật
và là sự sống đời đời. (1Ga 5, 20)
Cau chuyen dau tuan
Trung Quốc: Chính quyền thừa nhận dân làng Ô Khảm bị cướp đất
Theo báo chí chính thức, cuộc phản kháng của dân làng Ô Khảm là có giá trị. Đơn kiện cán bộ địa phương cướp đất đã được ủy ban điều tra chấp thuận và chính quyền đã trả tự do cho ba nông dân lãnh đạo cùng với thi hài của ông Tiết Kim Ba, thiệt mạng trong lúc bị giam cầm.
Dân làng Ô Khảm, Lục Phong, Quảng Đông, Trung Quốc biểu tình ngày 21/12/2011. REUTERS
Tân Hoa Xã trích nguồn tin điều tra công nhận rằng việc dân làng Ô Khảm, tỉnh Quảng Đông than phiền “những vụ sai trái liên quan đến sử dụng đất và bồi hoàn tài chính” là “chính đáng”.
Trưởng ban điều tra, cũng là đương kim Phó chủ tịch Ủy ban địa ốc và Tài nguyên Thiên nhiên của tỉnh Quảng Đông thừa nhận, một công ty quản lý đất đai đã sử dụng một diện tích đất nhiều hơn là quyết định của chính phủ, trong khi cơ quan đặc trách bồi thường đã không tôn trọng kỳ hạn.
Một “sai trái” khác là một cựu Bí thư xã đã dùng tiền hối lộ để mua xe cho cá nhân mình.
Thông tin dân làng Ô Khảm chống tham nhũng từ 10 năm nay hoàn toàn không được báo chí chính thức đề cập. Đến tháng 9 năm nay, tình hình trở thành nóng bỏng với nhiều cuộc biểu tình và đàn áp biểu tình.
Khi bốn dân làng bị bắt giam và một trong những người lãnh đạo là ông Tiết Kim Ba chết trong lúc bị bắt thì toàn bộ dân làng nổi dậy đuổi toàn thể cán bộ chính quyền ra khỏi làng và bầu ban đại diện mới.
Chính quyền Quảng Đông đã tăng viện hàng ngàn công an vũ trang bao vây làng, cắt đứt internet, nhưng không làm nao núng những nông dân đã mất hết ruộng cày.
Cho đến khi dân làng đe dọa kéo lên huyện và phóng viên quốc tế đến tận nơi thì lúc đó chính quyền mới nhượng bộ, gởi cán bộ xuống hòa giải và thu thập nguyện vọng của dân bị chà đạp suốt 10 năm qua.
Nguồn: Viet.rfi.fr
Cau chuyen giua tuan
Nền văn hóa của tự do (bai kha dai)
Mario Vargas Llosa
Phạm Nguyên Trường dịch từ foreignpolicy.com
Những cuộc công kích hiệu quả nhất nhằm chống lại quá trình toàn cầu hóa thường lại không phải là những cuộc công kích liên quan tới kinh tế học. Mà là những cuộc công kích về mặt xã hội, đạo đức, và trên hết là lĩnh vực văn hóa. Những luận cứ này từng nổi lên trong những vụ lộn xộn ở Seattle vào năm 1999 và lại vang lên ở Davos, ở Bangkok, và Prague trong thời gian gần đây. Họ nói như sau:
Sự biến mất của các đường biên giới quốc gia và giới quyền uy trên thế giới gắn bó với thương trường sẽ giáng những đòn chí tử vào nền văn hóa khu vực và quốc gia, vào truyền thống, thói quen, truyền thuyết và tập tục, tức là những thứ quyết định bản sắc văn hóa của đất nước và khu vực. Vì đa số các nước và các khu vực trên thế giới không đủ sức chống lại sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa từ các nước đã phát triển – mà cụ thể là từ siêu cường Mỹ – nước chắc chắn sẽ mở đường cho các công ty đa quốc gia cực kỳ lớn, nền văn hóa Bắc Mỹ cuối cùng sẽ buộc người ta phải chấp nhận nó, nó sẽ định ra tiêu chuẩn cho thế giới và xóa sổ sự đa dạng của những nền văn hóa khác nhau.
Theo cách này, tất cả các dân tộc, chứ không chỉ các dân tộc nhỏ và yếu, sẽ đánh mất bản sắc, sẽ đánh mất tâm hồn mình và chỉ còn các thuộc địa trong thế kỉ XXI – những thây ma hay những hình nộm được làm theo những tiêu chuẩn văn hóa của chủ nghĩa thực dân mới, đấy là chủ nghĩa thực dân mà ngòai việc cai trị thế giới bằng đồng vốn, sức mạnh quân sự và kiến thức khoa học của nó, còn áp đặt cho người ta ngôn ngữ, cách tư duy, niềm tin, thú vui và ước mơ của nó nữa.
Cơn ác mộng hay là điều hoang tưởng theo nghĩa tiêu cực về một thế giới mà do toàn cầu hóa đang đánh mất dần sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, đang bị Mỹ xâm lược về mặt văn hóa không chỉ là địa hạt của các chính trị gia tả khuynh, luyến tiếc Marx, Mao hay Che Guevara. Cơn mê sảng về việc bị ngược đãi – do lòng thù hận người khổng lồ Bắc Mỹ mà ra – còn được thể hiện rõ ở cả những nước đã phát triển và những dân tộc có nền văn hóa cao, được cả các nhóm tả, trung dung và hữu khuynh chia sẻ nữa.
Khét tiếng nhất là nước Pháp, ở đây chúng ta thường thấy chính phủ tung ra những chiến dịch nhằm bảo vệ “bản sắc văn hóa Pháp”, một nền văn hóa được cho là đang bị quá trình toàn cầu hóa đe dọa. Một loạt các nhà tri thức và chính trị gia Pháp lo lắng về khả năng là cái vùng đất từng sinh ra Montaigne, Descartes, Racine, và Baudelaire – và đất nước đã có một thời gian dài từng là người đưa ra tiếng nói cuối cùng về thời trang, tư duy, nghệ thuật, ẩm thực và về tất cả những lĩnh vực tinh thần khác – có thể bị những McDonald’s, Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken, rock, rap, và phim ảnh của Hollywood, quần bò, bánh sneakers, áo T-shirts xâm lấn. Nỗi sợ này đã dẫn tới, thí dụ, những khoản tài trợ rất lớn của Pháp cho ngành công nghiệp điện ảnh và đòi hỏi các rạp chiếu bóng phải chiếu một số lượng phim trong nước và hạn chế nhập phim Mỹ. Nỗi sợ này còn là lý do vì sao các chính quyền địa phương ban hành những quy định xử phạt nặng những băng rôn quảng cáo làm ô uế ngôn ngữ của Molière bằng những từ ngữ tiếng Anh (mặc dù, nếu nhìn vào vỉa hè các đường phố ở Paris thì thấy rằng những quy định như thế cũng không được người ta tôn trọng cho lắm). Đấy là lí do vì sao José Bové, một điền chủ có thái độ bài xích các món ăn tạp nham (ngụ ý thức ăn nhanh của Mỹ – ND), trở thành một nhân vật nổi tiếng ở Pháp. Và việc ông ta bị bắt giam ba tháng trong thời gian gần đây có vẻ như chỉ làm cho ông ta nổi tiếng thêm mà thôi.
Nhưng tôi tin rằng luận cứ chống toàn cầu hóa như thế là không thể chấp nhận được, chúng ta phải công nhận rằng nó ẩn chứa một sự thật không thể bác bỏ được. Trong thế kỷ này, cái thế giới chúng ta sống sẽ kém sinh động và không có nhiều màu sắc như là cái thế giới mà chúng ta đã bỏ lại phía sau. Những buổi lễ hội, đồ trang sức, phong tục, nghi lễ, nghi thức và tín ngưỡng, tức là những thứ đã tạo cho nhân loại sự khác biệt mang màu sắc dân tộc và văn hóa dân gian, đang dần dần biến mất hoặc sẽ thu mình vào trong những nhóm thiểu số, trong khi phần lớn xã hội từ bỏ chúng và chấp nhận những thứ khác, phù hợp hơn với thời đại của chúng ta. Tất cả các nước trên thế giới đang trải qua quá trình này, nhanh chậm khác nhau, nhưng đấy không phải là do toàn cầu hóa. Mà đấy là do quá trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa là kết quả chứ không phải là nguyên nhân. Có thể khóc than, dĩ nhiên là như thế, rằng quá trình này đang diễn ra và có thể nuối tiếc về cuộc sống của một thời đã qua, mà với những tiện nghi của ngày hôm nay dường như đấy là cuộc sống vui vẻ, độc đáo và đầy màu sắc. Nhưng đây là quá trình không thể nào tránh được.
Những chế độ toàn trị như Cuba hay Bắc Hàn sợ rằng mở cửa sẽ là tự sát, họ tìm cách bế quan tỏa cảng, ban hành đủ thứ quy định kiểu cấm đoán và chỉ trích hiện đại hóa. Nhưng ngay cả những nước đó cũng không ngăn cản được sự thẩm thấu một cách từ từ của quá trình hiện đại hóa và nó sẽ gặm nhấm dần cái gọi là bản sắc văn hóa của họ. Về lý thuyết, một đất nước có thể giữ được bản sắc của mình, nhưng với điều kiện là họ phải sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn, chấm dứt mọi trao đổi với các dân tộc khác và thực hiện một nền kinh tế tự cấp tự túc – giống như một vài bộ lạc ở Châu Phi hay những bộ lạc sống trong rừng già Amazon vậy. Bản sắc văn hóa dưới hình thức như thế sẽ đưa xã hội trở lại với cách sống của thời tiền sử.
Đúng là hiện đại hóa làm cho nhiều lối sống truyền thống không thể tồn tại được. Nhưng đồng thời nó lại mở ra cơ hội và làm cho cả xã hội tiến những bước quan trọng về phía trước. Đấy là lý do vì sao khi có cơ hội tự do lựa chọn quần chúng lại ủng hộ hiện đại hóa mà không hề có chút lưỡng lự nào, đôi khi họ còn phản đối điều mà các nhà lãnh đạo hay những người nệ cổ ủng hộ.
Những luận điệu nhằm chống lại toàn cầu hóa và ủng hộ bản sắc văn hóa tiết lộ cho ta thấy quan niệm tĩnh về văn hóa, một quan niệm không có cơ sở lịch sử. Nền văn hóa nào đã từng giữ mãi bản sắc và không thay đổi theo thời gian? Muốn tìm được những nền văn hóa như thế, chúng ta phải thâm nhập vào những cộng đồng tôn giáo ma thuật nguyên thủy và nhỏ bé, tức là những cộng đồng sống trong hang hốc, thờ thần sấm và thú dữ; và vì tính chất nguyên thủy như thế mà họ càng ngày càng dễ bị bóc lột và hủy diệt. Tất cả những nền văn hóa khác, nhất là những nền văn hóa có quyền được gọi là hiện đại và sống động đều tiến hóa đến mức mà chúng chỉ còn là cái bóng mờ của nền văn hóa từng hiện diện cách đây vài ba thế hệ mà thôi. Sự tiến hóa này thể hiện rõ nhất ở các nước như Pháp, Tây Ban Nha và Anh, nơi đã diễn ra những thay đổi cực kỳ ngoạn mục và sâu sắc đến mức Marcel Proust, Federico García Lorca, hay Virginia Woolf khó mà có thể coi đây là những xã hội nơi họ đã ra đời – những xã hội mà tác phẩm của họ đã có đóng góp rất lớn trong việc làm cho chúng thay da đổi thịt.
Khái niệm “bản sắc văn hóa” là khái niệm nguy hiểm. Từ quan điểm xã hội thì đấy có thể chỉ là quan niệm nhân tạo và đáng ngờ, nhưng từ viễn cảnh chính trị thì nó đe dọa ngay thành tựu quí giá nhất của nhân loại: quyền tự do. Tôi không phủ nhận rằng những người nói cùng một ngôn ngữ, sinh ra và sống trên cùng một vùng lãnh thổ, phải giải quyết những vấn đề giống nhau, theo những phong tục và tôn giáo như nhau, có những đặc điểm như nhau. Nhưng tính chất chung đó không bao giờ có thể xác định được đầy đủ đặc tính của từng người, nó chỉ xóa bỏ hoặc đẩy tất cả những tính chất và đặc điểm đơn nhất, tức là những đặc điểm làm người nọ khác biệt với người kia, xuống hàng thứ yếu mà thôi. Quan niệm bản sắc, khi không được áp dụng cho từng cá nhân riêng biệt, là một quan niệm đã được đơn giản hóa và phi nhân tính, nó là sự trừu tượng hóa mang tính ý thức hệ và tinh thần tập thể của tất cả những gì là độc đáo và sáng tạo trong mỗi con người, của tất cả những gì không được áp đặt bởi di sản, nơi sinh hay áp lực xã hội. Mà sự thật là, bản sắc xuất phát từ khả năng của con người trong việc chống lại những ảnh hưởng đó và phản công lại với chúng bằng những hành động tự do theo sáng kiến của riêng mình.
Khái niệm “bản sắc tập thể” là khái niệm hư cấu mang tính ý thức hệ và là nền tảng của chủ nghĩa dân tộc. Nhiều nhà nhân chủng học và nhân loại học cho rằng ngay cả các cộng đồng cổ xưa nhất cũng không có bản sắc tập thể. Những thói quen và phong tục được nhiều người chia sẻ có thể là những điều tối cần thiết đối với việc bảo vệ cả nhóm người, nhưng sự cách biệt về khả năng sáng tạo và sáng kiến giữa các cá nhân – điều kiện để họ tách biệt khỏi nhóm – bao giờ cũng khá lớn, và khi các cá nhân được thử thách theo những khả năng của riêng họ thì những khác biệt của từng người sẽ lấn át những đặc tính chung, chứ không chỉ là những thành tố ngoại vi của tập thể nữa. Toàn cầu hóa mở rộng một cách căn bản khả năng của tất cả các công dân trên hành tinh này, nó tạo điều kiện cho họ thông qua những hành động tự nguyện mà tạo dựng bản sắc văn hóa của riêng mình, phù hợp với sở thích và động cơ thầm kín của họ. Bây giờ người công dân không phải lúc nào cũng phải - như trong quá khứ và ở nhiều nơi hiện nay – tôn trọng bản sắc nhưng trên thực tế là làm cho họ mắc kẹt vào trại tập trung không thể nào thoát ra được – đấy là bản sắc được áp đặt lên mỗi người thông qua ngôn ngữ, dân tộc, nhà thờ, thói quen của vùng đất nơi họ ra đời. Theo nghĩa này thì ta phải hoan nghênh toàn cầu hóa vì nó mở rộng một cách đáng kể chân trời cho tự do cá nhân.
Hai lịch sử của cùng một lục địa
Châu Mỹ Latin có thể là thí dụ tốt nhất của những thủ đoạn và sự phi lý của việc cố tình thiết lập bản sắc tập thể. Cái gì có thể là bản sắc văn hóa của Châu Mỹ Latin? Phải đưa những gì vào cái tập hợp những tín điều, phong tục, truyền thống, thói quen và những câu chuyện cổ tích để thể hiện rằng khu vực này có một tính cách duy nhất, không ai có và không chuyển nhượng được? Lịch sử của chúng ta được trui rèn trong những cuộc tranh luận trí tuệ - đôi khi quyết liệt – nhằm tìm cho ra đáp án cho câu hỏi đó. Đáp án nổi bật nhất là đáp án của những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm (*) đưa ra trong cuộc đấu trí với những người ủng hộ văn hóa bản địa và có ảnh hưởng trên khắp lục địa ngay từ những năm đầu thế kỉ XX.
Đối với những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm như José de la Riva Agüero, Victor Andrés Belaúnde, và Francisco García Calderón thì Mỹ Latin hình thành khi – nhờ quá trình phát hiện và chinh phục – nó gặp ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chấp nhận Thiên chúa giáo và trở thành một phần của nền văn minh phương Tây. Những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm không coi thường những nền văn hóa tiền-Tây Ban Nha, nhưng họ coi đấy chỉ là một lớp chứ không phải là cốt lõi của hiện thực xã hội và lịch sử, phải nhờ ảnh hưởng của phương Tây mà nó mới hoàn thiện được bản chất và tính cách của mình.
Mặt khác, những người ủng hộ văn hóa bản địa lại cực lực bác bỏ những lợi ích mà có người cho rằng người châu Âu đã mang tới Mỹ Latin. Theo họ, bản sắc của chúng ta có nguồn gốc và linh hồn trong nền những nền văn hóa và văn minh tiền-Tây Ban Nha, quá trình phát triển và hiện đại hóa của nó đã bị kìm hãm bằng bạo lực và là đối tượng của kiểm duyệt, đàn áp và đẩy ra ngoài lề không chỉ trong suốt ba thế kỉ thuộc địa mà còn cả sau này, tức là sau khi có chế độ cộng hòa nữa. Theo những tư tưởng gia ủng hộ văn hóa bản địa thì “Biểu hiện Mỹ” (tên một tác phẩm của José Lezama Lima) nằm ở tất cả những biểu hiện mang tính văn hóa – từ ngôn ngữ bản xứ tới đức tin, nghi lễ, nghệ thuật và tập tục của nhân dân – nhằm chống lại sự áp chế về mặt văn hóa của phương Tây và còn tồn tại cho đến ngày nay. Ông Luis E. Valcárcel, một nhà sử học nổi tiếng của Peru, thậm chí còn khẳng định rằng cần phải đốt bỏ tất cả các nhà thờ, các nhà tu và tượng đài theo phong cách kiến trúc thuộc địa vì chúng thể hiện tinh thần “bài-Peru”. Chúng là những kẻ giả hình, là sự phủ nhận bản sắc nguyên thủy của châu Mỹ, một bản sắc có nguồn gốc hoàn toàn bản địa. Và ông José María Arguedas, một trong những tiểu thuyết gia độc đáo nhất của Mỹ Latin đã xây dựng được – trong những câu chuyện cực kì duyên dáng và đầy tinh thần phản kháng – bản anh hùng ca về tàn tích của nền văn hóa Cuechua trong dãy núi Andes, mặc dù đã bị phương Tây chẹn họng và làm cho méo mó đi.
Những người thân Tây Ban Nha cũng như những người ủng hộ văn hóa bản địa đã viết được những tác phẩm lịch sử tuyệt vời và những cuốn tiểu thuyết đầy tinh thần sáng tạo, nhưng nếu xét theo bối cảnh của chúng ta ngày hôm nay thì cả hai học thuyết này đều là những học thuyết mang tính bè phái, giản lược và sai lầm. Không bên nào đủ sức nhồi nhét sự đa dạng đang gia tăng của châu Mỹ Latin vào những khuôn khổ ý thức hệ của họ, và cả hai bên đều sặc mùi phân biệt chủng tộc. Hiện nay ai còn dám tuyên bố rằng chỉ có những cái mang “phong cách Tây Ban Nha” hoặc “da đỏ” mới có quyền đại diện hợp pháp cho Mỹ Latin? Thế mà hiện nay những cố gắng nhằm trui rèn và phân lập “bản sắc văn hóa” đặc thù của chúng ta vẫn được tiếp tục thực hiện với lòng nhiệt tình chính trị và tri thức đáng lẽ nên dành cho những công việc xứng đáng hơn. Tìm cách áp đặt bản sắc văn hóa cho quần chúng nhân dân cũng chẳng khác gì nhốt họ vào tù và không cho họ được hưởng một trong những quyền tự do quý giá nhất – đấy là quyền lựa chọn: họ muốn thành người như thế nào, và bằng cách nào? Châu Mỹ Latin không có một mà có nhiều bản sắc văn hóa, không có bản sắc nào có thể tuyên bố là hợp pháp hơn hay trong sạch hơn những bản sắc khác.
Dĩ nhiên là Mỹ Latin bao hàm trong nó cả thế giới tiền-Tây Ban Nha lẫn các nền văn hóa của nó, những nền văn hóa đó còn giữ được sức mạnh xã hội đáng kể ở các nước như Mexico, Guatemala, và các nước vùng Andes. Nhưng Mỹ Latin còn là rất đông người nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, với truyền thống của năm thế kỉ ở sau lưng, sự hiện diện và hành động của họ có ý nghĩa quyết định trong việc định hình những đặc điểm hiện nay của châu lục. Và chả lẽ Mỹ Latin không phải là một phần của châu Phi, châu lục đã đến bến bờ của chúng ta cùng với châu Âu hay sao? Không phải sự hiện diện của châu Phi đã tạo ra làn da, âm nhạc, khí chất và xã hội của chúng ta hay sao? Những thành tố mang tính xã hội, sắc tộc và văn hóa làm nên Mỹ Latin đã liên kết chúng ta với hầu như tất cả các khu vực và các nền văn hóa trên thế giới. Chúng ta có nhiều bản sắc văn hóa đến nỗi tưởng như chẳng hề có một bản sắc nào hết. Thực tế đó – trái ngược với niềm tin của những người dân tộc chủ nghĩa – là tài sản quí báu nhất của chúng ta. Đấy cũng là phẩm chất tuyệt vời, làm cho chúng ta cảm thấy mình là những công dân đầy đủ tư cách trong thế giới toàn cầu hóa này.
Giọng điệu địa phương, lan tỏa toàn cầu
Sợ Mỹ hóa toàn bộ hành tinh là hoang tưởng mang tính ý thức hệ chứ không phải là thực tế. Dĩ nhiên là không nghi ngờ gì rằng cùng với quá trình toàn cầu hóa, tiếng Anh sẽ trở thành ngôn ngữ phổ biến trong thời đại của chúng ta, cũng như tiếng Latin trong thời Trung Cổ vậy. Nó sẽ còn tiếp tục vươn lên vì đấy là phương tiện không thể thiếu được trong giao dịch và thông tin quốc tế. Nhưng điều đó có nghĩa là tiếng Anh nhất thiết sẽ phát triển, sẽ gây thiệt hại cho các ngôn ngữ lớn khác hay không? Hòan toàn không. Trên thực tế, ngược lại mới đúng. Sự xóa nhòa các đường biên giới và thế giới ngày càng tương thuộc lẫn nhau hơn đã và đang khuyến khích các thế hệ trẻ học và đồng hóa với những nền văn hóa khác, đấy không chỉ là sở thích mà còn là điều cần thiết, vì nói được vài thứ tiếng và thích ứng một cách dễ dàng trong những nền văn hóa khác nhau đã trở thành yếu tố quyết định cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp. Hãy xem xét trường hợp tiếng Tây Ban Nha. Nửa thế kỷ trước những người nói tiếng Tây Ban Nha là cộng đồng hướng nội, chúng ta cho rằng mình chẳng có mấy cơ hội ở bên ngoài biên giới ngôn ngữ truyền thống. Hiện nay tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ năng động và có nhiều người dùng, nó đã chiếm được những thành tựu ban đầu hay thậm chí những vùng đất rộng lớn trên cả năm châu lục. Sự kiện là có từ hai mươi lăm đến ba mươi triệu người nói tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ là nguyên nhân vì sao hai ứng viên Tổng thống Mỹ gần đây - Thống đốc Texas là George W. Bush và Phó tổng thống Al Gore – tiến hành vận động tranh cử không chỉ bằng tiếng Anh mà còn dùng cả tiếng Tây Ban Nha nữa.
Có bao nhiêu triệu thanh niên nam nữ trên khắp hoàn cầu đã và đang phản ứng lại những thách thức của toàn cầu hóa bằng cách học tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Quan thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Nga hay tiếng Pháp? May thay, xu hướng này sẽ gia tăng trong những năm sắp tới. Đấy là lí do vì sao cách bảo vệ tốt nhất nền văn hóa và ngôn ngữ của chúng ta là nỗ lực quảng bá chúng trên khắp thế giới chứ không phải cứ vờ vịt tìm cách làm cho nó miễn nhiễm với sự đe dọa của tiếng Anh. Những người đưa ra những biện pháp như thế là những người nói rất nhiều về văn hóa, nhưng đấy là những kẻ dốt nát, họ đang che dấu ý định thật sự của mình: chủ nghĩa dân tộc. Đấy không phải là họ đang tranh luận về những xu hướng phổ quát của văn hóa, đấy là những cách nhìn thiển cận, lầm lẫn, biệt lập, mà những người có quan điểm dân tộc chủ nghĩa tìm các áp đặt lên đời sống văn hóa. Bài học tuyệt vời nhất mà văn hóa dạy cho chúng ta là nó không cần những quan chức hay các chính trị viên bảo vệ, cũng không cần che chắn sau song sắt hay dùng lực lượng hải quan để cách li nhằm giữ cho nó sống và đơm hoa kết trái; ngược lại, những cố gắng như thế chỉ làm cho nó khô kiệt hoặc trở thành tầm thường mà thôi. Văn hóa phải sống một cách tự do, phải thường xuyên va chạm với những nền văn hóa khác. Điều đó sẽ làm cho nó luôn luôn đổi mới, luôn luôn tái tạo, làm cho nó tiến hóa và thích ứng với dòng chảy liên tục của cuộc đời. Ngày xưa tiếng Latin đã không giết chết tiếng Hy Lạp; ngược lại, sự độc đáo và chiều sâu trí tuệ của nền văn hóa Hy Lạp đã thẩm thấu vào nền văn minh La Mã và nhờ nó mà những bản trường ca của Homer và triết lí của Plato và Aristotle mới vươn ra khắp thế giới. Toàn cầu hóa không xóa bỏ các nền văn hóa khu vực, trong không gian bao la của cả hoàn vũ, tất cả những gì có giá trị và đáng sống trong những nền văn hóa khu vực sẽ tìm thấy những mảnh đất màu mỡ để có thể đơm hoa kết trái.
Điều đó đã diễn ra trên khắp Châu Âu. Đặc biệt đáng ghi nhận là ở Tây Ban Nha, ở đây những nền văn hóa địa phương đang tái xuất hiện với một sức mạnh đặc biệt. Dưới chế độ độc tài của tướng Francisco Franco, những nền văn hóa địa phương bị đàn áp và buộc phải sống trong vòng bí mật. Nhưng cùng với sự trở về của chế độ cộng hòa, sự đa dạng của nền văn hóa đã được cởi trói và được tự do phát triển. Ở những khu vực tự trị, văn hóa địa phương càng phát triển mạnh, đặc biệt là ở Catalonia, Galicia, và xứ Basque; các khu vực khác ở Tây Ban Nha cũng đều như thế cả. Nhưng dĩ nhiên là chúng ta không được đánh đồng sự hồi sinh của văn hóa khu vực – một hiện tượng tích cực và làm cho đời sống ngày càng phong phú thêm – với chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc sẽ tạo ra những mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền văn hóa của tự do.
Trong tác phẩm nổi tiếng: Góp phần định nghĩa văn hóa (Notes Towards the Definition of Culture) xuất bản năm 1948, T.S. Eliot đã dự đoán rằng trong tương lai, nhân loại sẽ được chứng kiến sự phục hưng của những nền văn hóa địa phương và khu vực. Lúc đó, đấy là một lời tiên đoán quá táo bạo. Nhưng toàn cầu hóa có vẻ như sẽ làm cho nó trở thành hiện thực trong thế kỉ XXI và chúng ta nên vui mừng vì chuyện đó. Sự phục sinh của những nền văn hóa nhỏ bé, mang tính khu vực sẽ trả lại cho nhân loại sự đa dạng trong cách thể hiện và hành vi mà cuối thế kỉ XVII và đặc biệt là trong thế kỷ XIX các quốc gia - dân tộc đã từng hủy bỏ nhằm tạo ra cái gọi là bản sắc văn hóa (Sự kiện này đã dễ dàng bị lãng quên hay chúng ta tìm cách lãng quên vì những ẩn ý mang tính đạo đức sâu sắc của nó). Các nền văn hóa dân tộc thường được trui rèn trong máu lửa, nó cấm đoán giảng dạy và xuất bản các tác phẩm viết bằng thổ ngữ hay cấm đoán thực hành các tôn giáo và tục lệ khác biệt với những tôn giáo và tục lệ được quốc gia - dân tộc coi là lí tưởng. Bằng cách đó, các quốc gia - dân tộc tại nhiều nước trên thế giới đã áp đặt nền văn hóa ưu trội lên các nền văn hóa địa phương, văn hóa địa phương bị đàn áp và bị loại bỏ khỏi đời sống chính thức. Nhưng, trái ngược với những cảnh báo của những người sợ toàn cầu hóa, không dễ gì xóa bỏ một nền văn hóa – dù nó có nhỏ đến đâu – nếu đằng sau nó là một truyền thống phong phú và có những người thực hành nó, dù là thực hành một cách bí mật. Và hôm nay, nhờ có sự suy yếu của quốc gia - dân tộc, chúng ta mới được nhìn thấy sự tái xuất hiện của những nền văn hóa đã từng bị lãng quên, bị đẩy ra bên lề và vị bóp nghẹt và thể hiện một đời sống năng động trong sự hài hòa vĩ đại của hành tinh toàn cầu hóa này.
M. V. L.
Mario Vargas Llosa là tiểu thuyết gia và trí thức nổi tiếng thế giới. Năm 2010 ông được trao giải Nobel Văn chương vì “những thành tựu trong việc mô tả cơ cấu của quyền lực và những hình tượng sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất bại của cá nhân con người”. Ông là tác giả của những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng như: Bữa tiệc của con dê (The Feast of the Goat), Cuộc chiến của ngày tận thế (The War of the End of the World), Cô Julia và người viết kịch bản (Aunt Julia and the Scriptwriter), Cô gái không ra gì (The Bad Girl), Cuộc đời thực của Alejandro Mayta (The Real Life of Alejandro Mayta), và nhiều cuốn khác.
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.
(*) Dịch thoát ý từ Hispanists, thực ra là nói về cả Tây Ban Nha lẫn Bồ Đào Nha.
____________________
Hồ Cẩm Đào : nguy cơ "Âu hoá" văn hoá Trung Hoa
cần phát huy văn hóa Trung Hoa để đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của dân chúng trong nước.

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (REUTERS /H. Prammer)
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cảnh báo điều ông gọi là “ tây phương hóa” nền văn hóa Trung Quốc.
Lời tuyên huấn này được đưa ra trong bối cảnh Bắc Kinh sử dụng ngôn ngữ điện ảnh cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác để tạo ảnh hưởng “quyền lực mềm” ra thế giới.
Trên tạp chí của đảng Cộng sản Trung Quốc “Cầu Thực” số mới nhất, chủ tịch Trung Quốc cho rằng “các thế lực thù địch gia tăng gấp đôi nỗ lực để tây phương hóa và chia rẽ chúng ta”.
Theo AFP thì Ông Hồ Cẩm Đào không tuyên bố một cách chính xác mà chỉ đề cập chung chung hai lãnh vực “ý thức hệ và văn hóa” kèm theo lời khẳng định là (đảng Cộng sản) “ý thức mối hiểm nguy này cũng như tính phức tạp của vấn đề và đã ban hành nhiều biện pháp mạnh để ngăn chặn”.
Cũng theo lời chủ tịch Trung Quốc thì cần phát huy văn hóa Trung Hoa để đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của dân chúng trong nước.
Về đối ngoại, ông cho rằng “ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc còn yếu, chưa thật sự tương xứng với quy chế quốc tế của Trung Quốc” trái với văn hóa tây phương phát triển rất mạnh”.
Theo AFP, những lời tuyên bố của lãnh đạo Trung Quốc được công bố vào lúc Bắc Kinh tăng cường kiểm duyệt internet và truyền thông để chỉ có “hình ảnh tích cực” của chế độ là được phô trương ra nước ngoài.
Mặc khác, Trung Quốc cũng sử dụng “ngân quỹ chiến tranh ” để tài trợ cho các cơ quan tuyên truyền nhắm vào đối tượng ngoại quốc như Tân Hoa xã, Đài phát thanh quốc tế China Radio International đang phát triển cơ sở một cách nhanh chóng tại nhiều nước
(Nguon: saigonecho)
___________________
Cau chuyen cuoi tuan
Thư thông cáo của Đức TGM Los Angeles về vụ GM phụ tá Gabino ZavalaTGM José H. Gomez1/5/2012
(Nguon: vietcatholic.net)
______________________
____________________
Hồ Cẩm Đào : nguy cơ "Âu hoá" văn hoá Trung Hoa
cần phát huy văn hóa Trung Hoa để đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của dân chúng trong nước.
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào (REUTERS /H. Prammer)
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cảnh báo điều ông gọi là “ tây phương hóa” nền văn hóa Trung Quốc.
Lời tuyên huấn này được đưa ra trong bối cảnh Bắc Kinh sử dụng ngôn ngữ điện ảnh cũng như nhiều bộ môn nghệ thuật khác để tạo ảnh hưởng “quyền lực mềm” ra thế giới.
Trên tạp chí của đảng Cộng sản Trung Quốc “Cầu Thực” số mới nhất, chủ tịch Trung Quốc cho rằng “các thế lực thù địch gia tăng gấp đôi nỗ lực để tây phương hóa và chia rẽ chúng ta”.
Theo AFP thì Ông Hồ Cẩm Đào không tuyên bố một cách chính xác mà chỉ đề cập chung chung hai lãnh vực “ý thức hệ và văn hóa” kèm theo lời khẳng định là (đảng Cộng sản) “ý thức mối hiểm nguy này cũng như tính phức tạp của vấn đề và đã ban hành nhiều biện pháp mạnh để ngăn chặn”.
Cũng theo lời chủ tịch Trung Quốc thì cần phát huy văn hóa Trung Hoa để đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của dân chúng trong nước.
Về đối ngoại, ông cho rằng “ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc còn yếu, chưa thật sự tương xứng với quy chế quốc tế của Trung Quốc” trái với văn hóa tây phương phát triển rất mạnh”.
Theo AFP, những lời tuyên bố của lãnh đạo Trung Quốc được công bố vào lúc Bắc Kinh tăng cường kiểm duyệt internet và truyền thông để chỉ có “hình ảnh tích cực” của chế độ là được phô trương ra nước ngoài.
Mặc khác, Trung Quốc cũng sử dụng “ngân quỹ chiến tranh ” để tài trợ cho các cơ quan tuyên truyền nhắm vào đối tượng ngoại quốc như Tân Hoa xã, Đài phát thanh quốc tế China Radio International đang phát triển cơ sở một cách nhanh chóng tại nhiều nước
(Nguon: saigonecho)
___________________
Cau chuyen cuoi tuan
Thư thông cáo của Đức TGM Los Angeles về vụ GM phụ tá Gabino ZavalaTGM José H. Gomez1/5/2012
_________________________________________________
Los Angeles, ngày 4.1.2012Anh chị em thân mến:
Tôi có tin buồn và khổ tâm muốn chia sẻ với anh chị em. Đức cha Gabino Zavala, giám mục phụ tá đặc trách miền San Gabriel, vào đầu tháng 12 mới đây đã cho tôi biết là ngài là bố sinh ra 2 trẻ em nay đã đến tuổi vị thành niên, hiện đang sống với mẹ tại một tiểu bang khác.
Giám mục Zavala cũng cho tôi biết là ngài đã nộp đơn xin từ chức với Đức Thánh cha ở Roma, và việc từ chức đã được chấp thuận. Từ đó ngài không thi hành mục vụ nữa và sẽ sống tự lập riêng.
Tổng giáo phận Los Angeles đã tiếp xúc với mẹ của 2 trẻ em để chăm sóc tinh thần cũng như tài trợ chánh cho tốn phí học đại học của họ. Danh tính của gia đình không tiết lộ với công chúng, và tôi tôn trọng quyền riêng tư của họ.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng bởi tình trạng này và cầu nguyện cho nhau khi chúng ta suy tư về lá thư này.
Cầu mong Chúa Giêsu, qua lời bầu bầu của Đức Maria, ban cho anh chị em ơn an bình.
Giám mục José H. Gomez,
Tổng giám mục Los Angeles
Giám mục Zavala cũng cho tôi biết là ngài đã nộp đơn xin từ chức với Đức Thánh cha ở Roma, và việc từ chức đã được chấp thuận. Từ đó ngài không thi hành mục vụ nữa và sẽ sống tự lập riêng.
Tổng giáo phận Los Angeles đã tiếp xúc với mẹ của 2 trẻ em để chăm sóc tinh thần cũng như tài trợ chánh cho tốn phí học đại học của họ. Danh tính của gia đình không tiết lộ với công chúng, và tôi tôn trọng quyền riêng tư của họ.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người bị ảnh hưởng bởi tình trạng này và cầu nguyện cho nhau khi chúng ta suy tư về lá thư này.
Cầu mong Chúa Giêsu, qua lời bầu bầu của Đức Maria, ban cho anh chị em ơn an bình.
Giám mục José H. Gomez,
Tổng giám mục Los Angeles
(Nguon: vietcatholic.net)
______________________
Thông báo về Tiến trình Phong Á Thánh và Hiển Thánh cho Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Kính gửi : Các linh mục, tu sĩ nam nữ,
và anh chị em giáo dân trong gia đình giáo phận
1. Ngày 22 tháng 10 năm 2010, tại Rôma, Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã chính thức bắt đầu tiến trình xin phong Á thánh và Hiển thánh cho Tôi Tớ Chúa, Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Đức Cố Hồng Y Phanxicô đã từng được Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm làm Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Sàigòn từ ngày 24 tháng 4 năm 1975. Ngày mùng 9 tháng 4 năm 1994, ĐGH Gioan-Phaolô II bổ nhiệm ngài vào chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công Lý và Hòa Bình, và tiếp theo đó, vào ngày 24 tháng 11 năm 1994, ngài chính thức từ chức Tổng Giám mục Sài Gòn để thi hành nhiệm vụ tại Giáo triều Rôma. Vì thế, sự kiện lập án phong thánh cho ngài là niềm vinh dự lớn lao cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói chung và cho Tổng giáo phận Sài Gòn nói riêng.
2. Theo quy định của Giáo Hội, để được tuyên phong Á Thánh và Hiển Thánh, vị Tôi Tớ Chúa phải được Giáo Hội nhìn nhận là người có danh thơm tiếng tốt về sự thánh thiện và những nhân đức anh hùng. Vì thế, Giáo Hội muốn lắng nghe, tìm hiểu và nghiên cứu những chứng từ chính thức của các chứng nhân, là những người đã biết Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê và có thể cung cấp chứng từ cụ thể sống động về những nhân đức của ngài.
3. Trong thời gian qua, Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã cử phái đoàn đến nhiều nước trên thế giới như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Úc châu, để gặp gỡ và lắng nghe các chứng nhân. Nay chúng tôi được thông báo là phái đoàn sẽ đến Việt Nam từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 2012. Phái đoàn sẽ ở Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 24 đến 27 tháng 3 năm 2012, để gặp gỡ và lắng nghe những chứng nhân trong Tổng giáo phận nhà.
4. Vậy tôi viết thư này để xin tất cả mọi người trong gia đình giáo phận, sốt sắng cầu nguyện cho tiến trình tuyên phong á thánh và hiển thánh cho Đức Cố Hồng Y thân yêu của chúng ta sớm được hoàn thành. Ngoài ra, các linh mục, tu sĩ nam nữ, cũng như anh chị em giáo dân nào đã từng biết Đức Cố Hồng Y, và muốn làm chứng trước phái đoàn của Hội Đồng Tòa Thánh về sự thánh thiện và nhân đức của ngài, xin vui lòng viết thành văn bản và gửi về địa chỉ sau (hạn chót là ngày 1 tháng 3 năm 2012):
Linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng
Đại chủng viện Thánh Giuse
6 Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. HCM.
Email : petrustung@gmail.com
Theo lời kêu gọi của Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi lời cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
là Cha và Con và Thánh Thần,
chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh
mẫu gương và chứng tá anh dũng
của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Ngài đã liên kết những đau khổ phải chịu trong cảnh ngục tù
với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Và dưới sự che chở đầy tình mẫu tử của Rất Thánh Trinh Nữ Maria,
những kinh nghiệm khổ đau ấy đã rèn luyện ngài
nên một chứng nhân sáng ngời cho Hội Thánh và toàn thế giới,
về sự hiệp nhất và tha thứ,
cũng như về công lý và hòa bình.
Con người hiền hòa và giàu tình thương
cùng với sứ vụ giám mục của ngài,
đã tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng của đức tin,
nhiệt tâm của đức cậy,
và sự nồng nàn của đức ái.
Giờ đây, nhờ lời chuyển cầu của ngài và theo thánh ý Chúa,
xin Chúa ban cho con được ơn lành con đang cầu khẩn,
với niềm hi vọng thấy ngài
sớm được vinh hiển trên bàn thờ. AMEN.
Lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, 1.1.2012
Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Hồng y Tổng Giám Mục
Ghi chú :
- Tất cả những ân huệ hay phép lạ nhận được qua lời cầu xin với Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, xin vui lòng báo cho linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng (theo địa chỉ trên).
- Để tìm hiểu thêm về đời sống của Đức Cố Hồng Y, xin mời đọc bài “Cuộc đời và sự nghiệp vị Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận” trên trang tin điện tử của Tổng giáo phận, địa chỉ : http://www.tgpsaigon.net/
và anh chị em giáo dân trong gia đình giáo phận
1. Ngày 22 tháng 10 năm 2010, tại Rôma, Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã chính thức bắt đầu tiến trình xin phong Á thánh và Hiển thánh cho Tôi Tớ Chúa, Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Đức Cố Hồng Y Phanxicô đã từng được Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm làm Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Sàigòn từ ngày 24 tháng 4 năm 1975. Ngày mùng 9 tháng 4 năm 1994, ĐGH Gioan-Phaolô II bổ nhiệm ngài vào chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công Lý và Hòa Bình, và tiếp theo đó, vào ngày 24 tháng 11 năm 1994, ngài chính thức từ chức Tổng Giám mục Sài Gòn để thi hành nhiệm vụ tại Giáo triều Rôma. Vì thế, sự kiện lập án phong thánh cho ngài là niềm vinh dự lớn lao cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói chung và cho Tổng giáo phận Sài Gòn nói riêng.
2. Theo quy định của Giáo Hội, để được tuyên phong Á Thánh và Hiển Thánh, vị Tôi Tớ Chúa phải được Giáo Hội nhìn nhận là người có danh thơm tiếng tốt về sự thánh thiện và những nhân đức anh hùng. Vì thế, Giáo Hội muốn lắng nghe, tìm hiểu và nghiên cứu những chứng từ chính thức của các chứng nhân, là những người đã biết Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê và có thể cung cấp chứng từ cụ thể sống động về những nhân đức của ngài.
3. Trong thời gian qua, Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình đã cử phái đoàn đến nhiều nước trên thế giới như Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Úc châu, để gặp gỡ và lắng nghe các chứng nhân. Nay chúng tôi được thông báo là phái đoàn sẽ đến Việt Nam từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 2012. Phái đoàn sẽ ở Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 24 đến 27 tháng 3 năm 2012, để gặp gỡ và lắng nghe những chứng nhân trong Tổng giáo phận nhà.
4. Vậy tôi viết thư này để xin tất cả mọi người trong gia đình giáo phận, sốt sắng cầu nguyện cho tiến trình tuyên phong á thánh và hiển thánh cho Đức Cố Hồng Y thân yêu của chúng ta sớm được hoàn thành. Ngoài ra, các linh mục, tu sĩ nam nữ, cũng như anh chị em giáo dân nào đã từng biết Đức Cố Hồng Y, và muốn làm chứng trước phái đoàn của Hội Đồng Tòa Thánh về sự thánh thiện và nhân đức của ngài, xin vui lòng viết thành văn bản và gửi về địa chỉ sau (hạn chót là ngày 1 tháng 3 năm 2012):
Linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng
Đại chủng viện Thánh Giuse
6 Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. HCM.
Email : petrustung@gmail.com
Theo lời kêu gọi của Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý và Hòa Bình, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi lời cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu,
là Cha và Con và Thánh Thần,
chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh
mẫu gương và chứng tá anh dũng
của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Ngài đã liên kết những đau khổ phải chịu trong cảnh ngục tù
với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Và dưới sự che chở đầy tình mẫu tử của Rất Thánh Trinh Nữ Maria,
những kinh nghiệm khổ đau ấy đã rèn luyện ngài
nên một chứng nhân sáng ngời cho Hội Thánh và toàn thế giới,
về sự hiệp nhất và tha thứ,
cũng như về công lý và hòa bình.
Con người hiền hòa và giàu tình thương
cùng với sứ vụ giám mục của ngài,
đã tỏa chiếu rạng ngời ánh sáng của đức tin,
nhiệt tâm của đức cậy,
và sự nồng nàn của đức ái.
Giờ đây, nhờ lời chuyển cầu của ngài và theo thánh ý Chúa,
xin Chúa ban cho con được ơn lành con đang cầu khẩn,
với niềm hi vọng thấy ngài
sớm được vinh hiển trên bàn thờ. AMEN.
Lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, 1.1.2012
Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Hồng y Tổng Giám Mục
Ghi chú :
- Tất cả những ân huệ hay phép lạ nhận được qua lời cầu xin với Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, xin vui lòng báo cho linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng (theo địa chỉ trên).
- Để tìm hiểu thêm về đời sống của Đức Cố Hồng Y, xin mời đọc bài “Cuộc đời và sự nghiệp vị Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận” trên trang tin điện tử của Tổng giáo phận, địa chỉ : http://www.tgpsaigon.net/