* 17,22 (Mt) Chúa Giê-su đã nhiều lần tiên báo cái chết của Người
(x. 16,21 ; 20,17). Người không bao giờ nói về nó như là một tai nạn có thể xảy
ra gây cản trở cho sứ mạng của Người. Ga sẽ nói Người coi đó là một phương tiện
để tôn vinh Chúa Cha và hoà giải nhân loại (Ga 17). Chúa dùng ngôi thứ ba để
nói về chính mình : Con Người, nhìn về số phận của
mình như từ quan điểm của người ngoài cuộc. Đó là thánh ý Chúa Cha, và Người
không hề lo nghĩ đến bản thân.
-----------
Lời Chúa và chú thích T Ba sau CN
XIX thường niên 13/8/2019
nếu anh
em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.
Thánh Thư:
*1Ông Mô-sê đến
nói những lời này với toàn thể Ít-ra-en. 2Ông bảo họ: “Hôm nay
tôi đã được một trăm hai mươi tuổi, tôi không thể đi ra đi vào được nữa,
và ĐỨC CHÚA đã bảo tôi : ‘Ngươi sẽ không được sang qua
sông Gio-đan kia.’ 3Chính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), sẽ dẫn đầu anh
(em) sang qua sông, Người sẽ tiêu diệt các dân tộc ấy cho khuất mắt anh (em),
để anh (em) chiếm đất của chúng. Chính ông Giô-suê sẽ dẫn đầu anh
(em) sang qua sông, như ĐỨC CHÚA đã phán. 4ĐỨC CHÚA sẽ xử với chúng
như đã xử với các vua người E-mô-ri là Xi-khôn và Ốc,
và với đất nước của chúng : Người đã tiêu diệt chúng. 5ĐỨC CHÚA sẽ trao các dân
tộc ấy cho anh (em), và anh (em) sẽ xử với chúng theo như tất cả mệnh lệnh tôi
đã truyền cho anh (em). 6Mạnh bạo lên, can đảm lên ! Đừng sợ, đừng run khiếp trước mặt
chúng, vì chính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), đi với anh
(em) ; Người sẽ không để mặc, không bỏ rơi anh (em).”
7Rồi ông Mô-sê gọi ông Giô-suê lại, và nói
với ông trước mặt toàn thể Ít-ra-en : “Mạnh bạo lên, can đảm lên !
Chính anh sẽ cùng với dân này vào đất ĐỨC CHÚA đã thề với cha
ông họ rằng Người sẽ ban cho họ ; chính anh sẽ cho họ hưởng đất ấy làm gia
nghiệp. 8Chính ĐỨC CHÚA đi phía trước anh, chính Người sẽ ở
với anh ; Người sẽ không để mặc, không bỏ rơi anh. Đừng sợ, đừng hãi !” (Đnl
31,1-8)
Tin Mừng:
*1Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Thưa
Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” 2Đức Giê-su liền
gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông 3và bảo: “Thầy bảo thật
anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được
vào Nước Trời.
4“Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn
nhất Nước Trời.
5“Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón
chính Thầy.
10“Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn
này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời
không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. *12“Anh em nghĩ sao ? Ai
có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia
trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? 13Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui
mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. 14Cũng vậy, Cha của anh
em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư
mất. (Mt 18,1-5.10.12-14)
Chú thích (từ CGKPV, ấn bản LCCMN
* 31,1
(Đnl) Các chương cuối liên quan đến những kỷ niệm về ông Mô-sê.
Bài ca ở ch.32 là bài thơ ca tụng tình yêu không mỏi mệt của Đức
Chúa, Đấng điều khiển toàn bộ lịch sử Ít-ra-en.
– Thiên Chúa tuyển chọn Ít-ra-en (cc. 7-9),
– Thiên Chúa dẫn Ít-ra-en đi từ sa mạc đến Đất Hứa (cc. 10-14),
– No cơm ấm cật, Ít-ra-en chối bỏ Thiên Chúa và tự tạo cho mình
những tượng thần (cc. 15-18),
– Thiên Chúa trở thành địch thủ của Ít-ra-en (cc. 22-30),
– Trong cảnh khổ nhục và chốn lưu đày, dân phải cậy vào lòng
thương xót của Đức Chúa. Cuối cùng chính Người mới có thể giải thoát nó và cho
nó chiến thắng các đối thủ gian ác (31-43).
Thiên Chúa vạch biên cương cho từng dân tộc theo số các thần
minh (c.8).
Bản gốc Híp-ri chép : theo số các “con cái Thiên Chúa”. Đây chỉ những thiên
thần hộ mạng cho các nước, trong khi một mình Ít-ra-en thì thuộc về Đức Chúa.
Tựa chim bằng (c.11) : hình ảnh nói lên Thiên Chúa chăm nom săn sóc dân
Người ; không ai có thể giựt nó ra khỏi sự che chở của Người.
32,15 tóm lược thái độ ngỗ nghịch của Ít-ra-en. Mập,
béo, phát phì : sau khi đã nhận tất cả từ tay cha, đứa con trai hoang
đàng tưởng rằng bỏ nhà cha ra đi thì sẽ được mặc sức vẫy vùng.
* 18,1 (Mt)
Ở đây mở đầu bài diễn từ thứ tư trong Tin Mừng Mt, không có tính đồng bộ cho
lắm, nhưng xoay quanh đời sống cộng đoàn. Bởi những ai kêu lên “Lạy Cha chúng
con” rõ ràng không phải là những người lẻ loi. Chúa Giê-su tiếp nhận họ trong
“Ít-ra-en của Thiên Chúa” (Gl 6,16) là Hội Thánh của Người, tức là tình hiệp
thông nối kết các cộng đoàn lại với nhau.
Cc. 6-11 lo lắng cho kẻ bé mọn ;
Cc. 12-14 quan tâm đến người sai lạc ;
Cc. 15-20 hiệp thông huynh đệ với sự hiện diện của Chúa Ki-tô ;
Cc. 21-35 tha thứ ;
Cc. 1-5 x. phần bình giải Mc 9,33.
NHỮNG KẺ BÉ MỌN
Với c.6, từ các em nhỏ chúng ta bước sang kẻ
bé mọn, nghĩa là những người đơn sơ chất phác. Họ bé mọn vì họ không có giá
trị gì trong xã hội.
Khốn cho... vì làm cớ cho người ta sa ngã. Từ gốc Hy-lạp có
nghĩa là một viên sỏi trồi lên khiến cho người ta vấp ngã : nó không phải là
cái gì gây ồn ào hoặc xôn xao trong xã hội, mà là cái làm cho lương tri mất
phương hướng, và người có vẻ lương thiện phải sa ngã (c.7).
Thường thì kẻ bé mọn hay tìm cách thoát khỏi hoàn cảnh của mình
để trở nên độc lập hơn, muốn có kiến thức và có tiền nhiều hơn. Tuy nhiên, xã
hội lại quen thói gây trở ngại cho những ai không đồng loã trong những trò gian
xảo và từ chối hành động cách ích kỷ. Vì thế kẻ bé mọn thường
phải chịu thua, chấp nhận thất bại, thà chột mắt còn hơn là
chối bỏ điều trọng yếu nhất : sống dưới con mắt Thiên Chúa.
Thà cụt tay cụt chân mà được vào cõi sống. Chúa Giê-su nhấn
mạnh giá trị vô song của sự sống đời đời. Có lúc nào đó chúng ta phải hy sinh
công ăn việc làm của mình, sự an toàn hoặc cả tính mạng nếu muốn được vào Nước
Thiên Chúa.
Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã. Có khi đây là nói
về chính cái xã hội này, với những tham ô, bạo lực, những cơ cấu bất công của
nó. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta ý thức về tội lỗi, dù là của cá nhân hay của
xã hội : những cơ cấu tác hại sẽ bị huỷ diệt trong nước mắt và xương máu (Lc
23,28).
Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã. Chúa Giê-su đã
sống trong một thời đại bạo tàn, nhưng Người có vẻ như không than trách hoàn
cảnh ấy. Người không mời gọi chúng ta mơ tưởng một địa đàng trần thế.
Cái thế giới xác thực mà Thiên Chúa đã tạo dựng và giải cứu
không buộc phải là một ốc đảo hạnh phúc, nhưng phải là một nơi trong đó những
con người tự do luôn đấu tranh để mà phát triển. Những cớ vấp ngã là thành phần
thuộc thế giới này, nhưng quyền lực sự dữ không mảy may giảm thiểu lời tôn vinh
mà tạo thành sẽ dâng lên Thiên Chúa vào thời sau hết. Đau khổ và lòng khao khát
sống công chính sẽ là nguồn gốc sự thánh thiện ; đó sẽ là những phương cách
Thiên Chúa vận dụng để làm tăng trưởng tình yêu.
* 18,12 (Mt) Dụ ngôn một trăm con chiên cũng
có trong Tin Mừng Lc (Lc 15), nhưng trong một văn cảnh khác, văn cảnh Thiên
Chúa tha thứ : Chúa Giê-su đã đến để tìm và cứu những gì đã mất (Lc
19,10). Còn Mt thì kể lại dụ ngôn này trong khung cảnh một “diễn từ”, một bài
giảng về Giáo Hội. Tác giả lấy lại ví dụ này để chỉ cho thấy rằng cộng đoàn và
những vị phụ trách phải đặc biệt quan tâm đến những người bé mọn và gặp thử
thách nhất. Cũng như đối với Cha trên trời, thì đối với cộng đoàn cũng vậy, mỗi
thành viên mang tính độc nhất vô nhị và với tư cách đó, phải được yêu thương và
nâng đỡ : vậy làm sao Cha trên trời, làm sao cộng đoàn, có thể chấp nhận để cho
một trong những người bé mọn ấy, dù chỉ một thôi, phải hư mất ?
--------------
Lời Chúa và chú thích T Tư sau CN XIX thường niên 14/8/2019, thánh Maximiliano M. Kolbe
--Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em--
--Thánh Thư:
*1Từ đồng bằng Mô-áp, ông Mô-sê lên núi Nơ-vô, tới Pít-ga, đối diện với Giê-ri-khô, và ĐỨC CHÚA cho ông xem thấy tất cả miền đất : miền Ga-la-át cho đến Đan, 2tất cả Náp-ta-li, miền đất Ép-ra-im và Mơ-na-se, tất cả miền đất Giu-đa cho đến Biển Tây, 3miền Ne-ghép, vùng sông Gio-đan, thung lũng Giê-ri-khô là thành Chà Là, cho đến Xô-a. 4ĐỨC CHÚA phán với ông : “Đây là miền đất Ta đã thề hứa với Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, khi nói : ‘Ta sẽ ban đất ấy cho dòng dõi ngươi.’ Ta đã cho ngươi thấy tận mắt, nhưng ngươi sẽ không được qua đó.”
5Ông Mô-sê, tôi trung của ĐỨC CHÚA, qua đời tại đó, trong đất Mô-áp, theo lệnh ĐỨC CHÚA. 6Ông được mai táng trong thung lũng, ở miền đất Mô-áp, đối diện với Bết Pơ-o. Cho đến ngày hôm nay, không ai biết mộ ông ở đâu. 7Khi chết, ông Mô-sê thọ một trăm hai mươi tuổi, mắt không mờ, khí lực không giảm. 8Con cái Ít-ra-en khóc ông Mô-sê trong đồng bằng Mô-ápba mươi ngày ; rồi những ngày than khóc thọ tang ông Mô-sê chấm dứt. 9Ông Giô-suê, con ông Nun, đã được đầy thần khí khôn ngoan, vì ông Mô-sê đã đặt tay trên ông. Con cái Ít-ra-en nghe ông và làm như ĐỨC CHÚA đã truyền cho ông Mô-sê.
10Trong Ít-ra-en, không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Mô-sê, người mà ĐỨC CHÚA biết rõ, mặt giáp mặt. 11ĐỨC CHÚA đã sai ông thực hiện mọi điềm thiêng dấu lạ tại nước Ai-cập, phạt Pha-ra-ô cùng tất cả bề tôi và cả nước. 12Ông Mô-sê đã biểu dương tất cả sức mạnh bàn tay ông và gây tất cả nỗi kinh hoàng lớn lao trước mắt toàn thể Ít-ra-en. (Đnl 34,1-12)
--Tin Mừng:
*15“Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.
18“Thầy bảo thật anh em : Dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy ; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.
19“Thầy còn bảo thật anh em : Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.” (Mt 18,15-20)
--Chú thích (từ CGKPV, ấn bản LCCMN
* 34,1 Sách Đnl kết thúc với cái chết của ông Mô-sê. Cuộc ra đi cô độc của vị lãnh đạo và tổ phụ dân Ít-ra-en mang một sắc màu kỳ vĩ. Thiên Chúa đã tách ông ra khỏi hàng ngũ đồng bào của ông, khi trao gửi cho ông những ý định huyền bí cùng với chính uy quyền của Người. Ông một mình mang lấy trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa và gánh nặng lo cho dân đến mức tự đồng hoá mình với Ít-ra-en.
Trong Ít-ra-en, không còn xuất hiện một ngôn sứ nào như ông Mô-sê (c.10). Tất cả niềm tin của chúng ta dựa trên mầu nhiệm Thiên Chúa độc nhất tự mặc khải mình cho ông Mô-sê, tuyển chọn Ít-ra-en và giao nó cho ông gìn giữ. Nhưng điều này không có nghĩa là cuộc mặc khải đã dừng lại tại đây. Ít-ra-en biết không bao giờ còn xuất hiện một ngôn sứ như ông nữa, nhưng vẫn tiếp tục đợi chờ một ngôn sứ như ông sẽ xuất hiện (18,18).
Điều này có nghĩa là đức tin không bị giam hãm trong sự trung thành với một cuốn sách, cho dù là cuốn sách Cựu Ước. Dân Thiên Chúa sẽ tiếp tục khám phá những nẻo đường Thiên Chúa đi, và những người cùng thời với Chúa Giê-su sẽ nhận ra Người là “vị ngôn sứ” mà dân hằng mong đợi. Phần chúng ta, lòng tin chúng ta đâm rễ trong lòng tin của Hội Thánh, và cùng với Hội Thánh, chúng ta không ngừng khám phá ra giáo huấn của Thánh Thần.
* 18,15 Nếu người anh em của anh trót phạm tội... Trước đó, Chúa Giê-su đã nói với ông Phê-rô : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Giờ đây Chúa nói và áp dụng câu này cho toàn thể Giáo Hội. Mọi xung đột được giải quyết với xác tín rằng Chúa Ki-tô đang ở giữa chúng ta : đó chính là danh hiệu của Người, Em-ma-nu-en, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (1,23).
Hợp lại nhân danh Chúa Giê-su (c.20) : đó là cách cầu nguyện của cộng đoàn, của nhóm tông đồ, của đôi vợ chồng có đạo.
Chúng ta có lưu ý chăng : chương nói về Giáo Hội này thật là ngắn ! Ấy là Mát-thêu quan tâm đến Giáo Hội của Chúa Giê-su nhiều nhất, trong các dụ ngôn về Nước Trời cũng như trong đoạn nói về lời tuyên xưng của ông Phê-rô.
Dường như Chúa Giê-su đâu nói chi với các Tông Đồ về những cơ cấu sẽ được dựng lên (hoặc có thể sẽ tan rã) : Chúa chỉ nói về một tinh thần cộng đoàn. Tiếp đón kẻ bé mọn, tha thứ luôn luôn và chấp nhận tha nhân, một cộng đoàn cầu nguyện có những tham vọng tông đồ và kêu cầu nài nỉ Thiên Chúa ban cho điều mình xin : đó là tất cả sự khôn ngoan và những phương tiện mà Giáo Hội có để đương đầu với các thách đố của việc loan báo Tin Mừng.
Chúng ta tìm hiểu Chúa Cha bằng cách tham gia vào các sinh hoạt cộng đoàn, vượt lên trên những xung đột không thể tránh khỏi và kiên trì trong công việc tông đồ. Vậy đối với chúng ta, Giáo Hội là “bí tích Thiên Chúa”, dấu chỉ hữu hình của sự hiện diện của Người và nguồn mạch thông ban sự sống của Người cho chúng ta.
Các nghi thức tôn giáo có giá trị thánh thiêng chỉ vì đó là những cử chỉ của Hội Thánh. Thiên Chúa không bị giam giữ trong các đồ vật, nhưng thông qua gia đình Hội Thánh Chúa Ki-tô, Người tỏ mình ra cho loài người : dưới đất anh em cầm buộc điều gì. Sống hoà hợp với cộng đoàn Ki-tô hữu, cho dù chúng ta có điều không đồng ý, là dấu chỉ chúng ta lưu lại trong ơn thánh của Thiên Chúa.
Đoạn văn 18,15 có phần khả nghi. Có thể nguyên thuỷ là : Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi nói chuyện với nó và đây là trường hợp cộng đoàn cố gắng “chỉnh” một người anh em đã mắc sai lầm.
----------------
Chiều 14/8: đọc các Bài Vọng lễ Đứcd Mẹ Lên Trời