Chua Nhat IV sau Phuc Sinh
Đi trước
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: "Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết chắc rằng: Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Đấng Kitô". Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: "Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?" Phêrô nói với họ: "Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em nhận lãnh ơn Thánh Thần. Vì chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em, và mọi người sống ở phương xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến". Phêrô còn minh chứng bằng nhiều lời khác nữa, và khuyên bảo họ mà rằng: "Anh em hãy tự cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này". Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng, đều chịu phép rửa, và ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo. (Cv 2, 14a. 36-41)
Anh em thân mến, khi làm việc lành, nếu anh em phải nhẫn nhục chịu đau khổ, đó mới là ân phúc trước mặt Thiên Chúa. Anh em được gọi làm việc đó, vì Đức Kitô đã chịu đau khổ cho chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người. Người là Đấng không hề phạm tội, và nơi miệng Người không thấy điều gian trá. Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại; bị hành hạ, Người không ngăm đe; Người phó mình cho Đấng xét xử công minh; chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống cho sự công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đã được chữa lành. Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em (1 Pr 2, 20b-25)
"...Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ"(x Ga 10, 1-10)
- Mục tử là người dẫn đường chỉ lối, không phải là người chỉ tay năm ngón. Mục tử đi trước và chiên theo sau. Mục tử biết tên từng con chiên để gọi ra đi ăn. Mục tử như vậy mới làm cho chiên được sống và sống dồi dào. Mục tử như Abraham, như Môisen chịu bao đắng cay gian khổ bạc bẽo vì đoàn chiên. Mục tử như thánh Phêrô, thánh Phaolô và 11 tông đồ. Mục tử như cha thánh Gioan Maria Vianney, và nhất là mục tử như chính Đức Jesus.
Tôi cũng là mục tử cho chính tôi. Chính tôi cũng đã được các linh mục đặt tay khi nhận lãnh phép Rửa Tội (nghi thức“đặt tay”, một dấu chỉ trọng tâm từ các bí tích. Người có chức Thánh đặt tay trên người nhận lãnh, Chúa Jesus đã đặt tay trên các tông đồ và các tông đồ lại đặt tay trên các người được chọn, cứ thế tiếp tục cho đến ngày nay và ngày mai.) Tôi cũng là mục tử cho con cái tôi, cho những người trẻ hơn tôi, và cả những người lớn tuổi hơn tôi, trong một số trường hợp.
Lạy Chúa, xin giúp các vị có chức Thánh. Lạy Chúa xin giúp chính con để con có thể chu toàn sứ vụ khó khăn của mình. Amen.
***
Bai doc them:
Thánh Gioan Maria Vianney-Bổn mạng các Cha Sở
21g05 16/5/2011, viet cho thu Ba
Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi, thì cao trọng hơn tất cả
Barnaba vốn là người tốt lành, đầy Thánh Thần và lòng tin. Và có đoàn người đông đảo tin theo Chúa. Vậy Barnaba đi Tarxê tìm Saolô. Gặp được rồi, liền đưa Saolô về Antiôkia. Cả hai ở lại tại Hội Thánh đó trọn một năm, giảng dạy cho quần chúng đông đảo; chính tại Antiôkia mà các môn đồ lần đầu tiên nhận tên là Kitô hữu (x Cv 11, 19-26 )
Lạy Chúa, xin giúp các vị có chức Thánh. Lạy Chúa xin giúp chính con để con có thể chu toàn sứ vụ khó khăn của mình. Amen.
***
Bai doc them:
Thánh Gioan Maria Vianney-Bổn mạng các Cha Sở
Gioan Maria Vianney sinh năm 1786 thuộc Tổng Giáo Phận Lyon trong một gia đình nông dân đạo đức; lớn lên trong thời kỳ cách mạng Pháp. Sau nhiều vất vả và khó khăn trong công việc học hành tại Ðại Chủng Viện, Gioan Maria Vianney được thụ phong linh mục và được bổ nhiệm làm cha phó, và sau ba năm thăng cha sở họ Ars. Với học lực rất bình thường, Cha Gioan Maria Vianney quyết chí trở nên một vị chủ chăn tốt lành, khiêm tốn, khó nghèo đơn sơ, trung thành, thật thà... Ngài có một khả năng hy sinh lạ lùng, trước hết để làm cho giáo xứ của ngài, một họ đạo khô khan, lãnh đạm với tôn giáo, trở lại. Với đời sống nhiệm nhặt, lời cầu nguyện và hy sinh, giáo xứ của Cha đã trở nên gương mẫu. Trong 40 năm làm cha sở, họ Ars đã trở nên trung tâm thu hút các tín hữu không những từ nhiều nơi trong nước Pháp, mà cả Châu Âu và Mỹ Châu nữa. Người dân tuốn đến Ars để xin xưng tội, xin hướng dẫn, xin lời cầu nguyện. Lời giảng dạy của Cha Vianney đã làm cho nhiều người thay đổi cuộc đời bê bối; các bài giáo lý củng cố đức tin và gia tăng đời sống đạo đức. Ai cũng nhận thấy rằng: sức mạnh thu hút do bởi chứng tá đời sống nghèo khó, thống hối, đầy đức tin, đức ái và tận tụy phục vụ của vị chủ chăn này.
Cha Gioan Vianney qua đời năm 1859, thọ 73 tuổi. Năm Thánh 1925, Ðức Pio XI (1922-1939), đã tôn phong Cha lên bậc Hiển Thánh và năm 1929 đặt làm Quan Thầy các cha sở. Mục vụ của Thánh Gioan Maria Vianney, tập trung vào ba điểm chính yếu, đã được nhắc lại trong Văn Kiện mới đây của Bộ Giáo Sĩ: Lo việc rao giảng Tin Mừng (Linh Mục, Thầy Giảng Dạy Lời Chúa) - lo việc ban các Bí Tích, nguồn mạch đích thực của dời sống Kitô (Linh Mục, Thừa Tác Viên các Bí Tích) - hướng dẫn và phục vụ Cộng Ðồng giáo dân trong dấn thân sống đạo và truyền đạo (Linh Mục, Người hướng dẫn cộng đồng dân Chúa).
Trong bài đăng trên nhật báo Avvenire, ký giả Domenico Del Rio viết: Người ta nói rằng: Gioan Maria Vianney là một linh mục "dốt nát". Người ta đã tìm cách trục xuất ngài khỏi giáo xứ. Nhưng Gioan Maria Vianney là Vị Linh Mục thánh thiện và là Quan Thầy các cha sở trên cả thế giới.
Tác giả bài báo viết tiếp: Người ta nói: ngài là linh mục "dốt nát". Chúng ta hãy nghe ngài giảng về Thiên Chúa Cha: "Chúng ta không bao giờ nghĩ đến việc xin Thiên Chúa sai Con Một của Người xuống thế gian. Nhưng cái mà con người không bao giờ nghĩ đến, không quan niệm ra, và cũng không bao giờ dám ước mong, Thiên Chúa, trong Tình Yêu Thương vô biên của Người đã nói lên, đã quan niệm, đã thực hiện. Có khi nào chúng ta dám xin Thiên Chúa làm cho Con Một của Người chết trên Thánh Giá cách xỉ nhục để cứu chúng ta, dám xin ban Thịt của Con Chúa cho chúng ta ăn, Máu cho chúng ta uống chăng? Có phải người tội lỗi trở lại để xin ơn tha thứ hay chính Thiên Chúa chạy theo họ để làm cho họ trở về với Người? Thiên Chúa tốt lành như vậy, dù có biết bao xúc phạm đến Người, Người đem chúng ta về Thiên Ðàng, như thể không biết gì đến những tội lỗi của chúng ta vậy. Người như người mẹ cứu vớt và bồng bế đứa con trên tay, khi nó sắp té ngã xuống hố sâu và sau đó lưu ý luôn luôn để nó tránh khỏi nguy hiểm, trong khi đứa con tiếp tục cào cấu và cư xử tàn tệ người mẹ".
Bài giảng đơn sơ, đầy thành tín của Cha sở Ars đã gây ngạc nhiên và xúc động nơi Cha Lacordaire, nhà giảng thuyết thời danh của Nhà Thờ Notre-Dame ở Paris. Cha Gioan Maria Vianney, người bị coi là "dốt nát" đã biết trình bày vẻ xinh đẹp của Tình Yêu Thiên Chúa đối với nhân loại, nhất là với người tội lỗi. Ngài, một cha sở "nhà quê" sống giữa những người chất phác, đã biết trình bày Thiên Chúa rõ ràng và sâu sắc hơn nhiều nhà thần học thông thái, đã biết diễn tả về chính mình, linh mục của Chúa. Ngài nói: "Không gì ở trần gian này bất hạnh hơn một linh mục! Linh Mục sống như thế nào? Sống trong sự thấy Thiên Chúa bị xúc phạm, Thánh Danh Người bị chế nhạo, giới răn Người bị bỏ qua, tình yêu thương của Người bị khinh chê. Linh Mục thấy tất cả những cái này".
Và Cha Gioan Maria Vianney đã sống như thế nào cuộc đời linh mục? Một cuốn tiểu sử lược tóm như sau: "Nửa đêm thức dậy. Một giờ sáng xuống nhà thờ cầu nguyện, giải tội cho tới 6 giờ; rồi dâng thánh lễ. Bẩy giờ uống nửa li sữa. Ngay sau đó, ngồi tòa giải tội tới 11 giờ. 12 giờ, dùng bữa tại nhà xứ. Rồi cho tới lúc 20 giờ: viếng thăm các người đau yếu, đọc kinh Phụng Vụ, rồi giải tội (khoảng 6 giờ đồng hồ). Lúc 20 giờ đọc kinh chung với cộng đồng giáo xứ, sau đó dạy giáo lý hoặc giảng giải. 22 giờ tiếp khách tại nhà xứ. Mỗi đêm chỉ nghỉ từ một đến 3 tiếng đồng hồ. Làm việc mổi ngày 20 giờ, trong đó nhiều ngày dành tới 15 giờ để ngồi tòa giải tội. Ngài thực hành như vậy trong 30 năm. Trong quãng thời gian đó, người ta tính có hơn 100 ngàn người đến xưng tội và xin hướng dẫn về đàng thiêng liêng.
Tháng 10 năm 1986, trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Pháp, ÐTC Gioan Phaolô II đã tới Ars, để cùng với ba ngàn linh mục, một ngàn chủng sinh và 100 giám mục, mừng kỷ niệm 200 năm sinh nhật của Cha sở Ars (1786-1986). Giảng cho các vị tham dự, ÐTC nói về sự cao cả, sự sáng ngời của Chức Linh Mục và về những bổn phận của Chức Vụ này. Trong các bổn phận, ÐTC gợi lại cách riêng điểm này: không được yên lặng trước tính cách vô đạo và vô luân đang lan tràn tại các nhiều nước Công Giáo. Thuật lại lời Thánh Gioan Maria Vianney, cha sở Ars, Ðức Gioan Phaolô II nói: "Khốn thay cho linh mục nào yên lặng, câm điếc, khi thấy Thiên Chúa bị xúc phạm và các linh hồn lạc đường!".
Dưới lều vải lớn được dựng để đón tiếp các vị tham dự ngày tĩnh tâm, Cha sở Ars, người bị coi như "dốt nát", nhắc lại cho các linh mục: hãy ra đi và hãy can đảm khiển trách những người "xúc phạm đến Thiên Chúa", nhưng đồng thời cũng hướng dẫn họ trở về với Thiên Chúa, Ðấng luôn luôn chạy theo họ để đưa họ về với Người, cách riêng trong Năm sau cùng của việc chuẩn bị Ðại Toàn Xá, năm dâng kính và học hỏi về Chúa Cha.
Roma 04.8.99(trích) Trần đoàn Kết, Linh Mục. (nguon:www.tnttvn.com/forum...)
__________
19g15 15/5/2011, viet cho thu Hai
Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên
Bấy giờ tôi nhớ lại lời Chúa phán: 'Gioan đã rửa bằng nước, còn các con, các con sẽ được rửa bằng Thánh Thần'. Vậy, nếu Thiên Chúa ban cho họ cũng một ơn như đã ban cho chúng ta, là những kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà có thể ngăn cản Thiên Chúa?"
Nghe những lời ấy, họ thinh lặng và ca tụng Thiên Chúa rằng: "Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho dân ngoại ơn ăn năn sám hối để được sống" (x Cv 11, 1-18)
Khi ấy, Chúa Giêsu phán: "Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải là chủ chiên, và các chiên không phải là của người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà trốn. Sói sẽ bắt chiên và làm chúng tản mát. Kẻ chăn thuê chạy trốn, vì là đứa chăn thuê, và chẳng tha thiết gì đến đàn chiên. Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta. Cũng như Cha biết Ta và Ta biết Cha, và Ta thí mạng sống vì đàn chiên. Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn; chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên. Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta, là Ta thí mạng sống để rồi lấy lại. Không ai cất mạng sống khỏi Ta, nhưng tự Ta, Ta thí mạng sống. Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta".(Ga 10, 11-18)
Cha Gioan Vianney qua đời năm 1859, thọ 73 tuổi. Năm Thánh 1925, Ðức Pio XI (1922-1939), đã tôn phong Cha lên bậc Hiển Thánh và năm 1929 đặt làm Quan Thầy các cha sở. Mục vụ của Thánh Gioan Maria Vianney, tập trung vào ba điểm chính yếu, đã được nhắc lại trong Văn Kiện mới đây của Bộ Giáo Sĩ: Lo việc rao giảng Tin Mừng (Linh Mục, Thầy Giảng Dạy Lời Chúa) - lo việc ban các Bí Tích, nguồn mạch đích thực của dời sống Kitô (Linh Mục, Thừa Tác Viên các Bí Tích) - hướng dẫn và phục vụ Cộng Ðồng giáo dân trong dấn thân sống đạo và truyền đạo (Linh Mục, Người hướng dẫn cộng đồng dân Chúa).
Trong bài đăng trên nhật báo Avvenire, ký giả Domenico Del Rio viết: Người ta nói rằng: Gioan Maria Vianney là một linh mục "dốt nát". Người ta đã tìm cách trục xuất ngài khỏi giáo xứ. Nhưng Gioan Maria Vianney là Vị Linh Mục thánh thiện và là Quan Thầy các cha sở trên cả thế giới.
Tác giả bài báo viết tiếp: Người ta nói: ngài là linh mục "dốt nát". Chúng ta hãy nghe ngài giảng về Thiên Chúa Cha: "Chúng ta không bao giờ nghĩ đến việc xin Thiên Chúa sai Con Một của Người xuống thế gian. Nhưng cái mà con người không bao giờ nghĩ đến, không quan niệm ra, và cũng không bao giờ dám ước mong, Thiên Chúa, trong Tình Yêu Thương vô biên của Người đã nói lên, đã quan niệm, đã thực hiện. Có khi nào chúng ta dám xin Thiên Chúa làm cho Con Một của Người chết trên Thánh Giá cách xỉ nhục để cứu chúng ta, dám xin ban Thịt của Con Chúa cho chúng ta ăn, Máu cho chúng ta uống chăng? Có phải người tội lỗi trở lại để xin ơn tha thứ hay chính Thiên Chúa chạy theo họ để làm cho họ trở về với Người? Thiên Chúa tốt lành như vậy, dù có biết bao xúc phạm đến Người, Người đem chúng ta về Thiên Ðàng, như thể không biết gì đến những tội lỗi của chúng ta vậy. Người như người mẹ cứu vớt và bồng bế đứa con trên tay, khi nó sắp té ngã xuống hố sâu và sau đó lưu ý luôn luôn để nó tránh khỏi nguy hiểm, trong khi đứa con tiếp tục cào cấu và cư xử tàn tệ người mẹ".
Bài giảng đơn sơ, đầy thành tín của Cha sở Ars đã gây ngạc nhiên và xúc động nơi Cha Lacordaire, nhà giảng thuyết thời danh của Nhà Thờ Notre-Dame ở Paris. Cha Gioan Maria Vianney, người bị coi là "dốt nát" đã biết trình bày vẻ xinh đẹp của Tình Yêu Thiên Chúa đối với nhân loại, nhất là với người tội lỗi. Ngài, một cha sở "nhà quê" sống giữa những người chất phác, đã biết trình bày Thiên Chúa rõ ràng và sâu sắc hơn nhiều nhà thần học thông thái, đã biết diễn tả về chính mình, linh mục của Chúa. Ngài nói: "Không gì ở trần gian này bất hạnh hơn một linh mục! Linh Mục sống như thế nào? Sống trong sự thấy Thiên Chúa bị xúc phạm, Thánh Danh Người bị chế nhạo, giới răn Người bị bỏ qua, tình yêu thương của Người bị khinh chê. Linh Mục thấy tất cả những cái này".
Và Cha Gioan Maria Vianney đã sống như thế nào cuộc đời linh mục? Một cuốn tiểu sử lược tóm như sau: "Nửa đêm thức dậy. Một giờ sáng xuống nhà thờ cầu nguyện, giải tội cho tới 6 giờ; rồi dâng thánh lễ. Bẩy giờ uống nửa li sữa. Ngay sau đó, ngồi tòa giải tội tới 11 giờ. 12 giờ, dùng bữa tại nhà xứ. Rồi cho tới lúc 20 giờ: viếng thăm các người đau yếu, đọc kinh Phụng Vụ, rồi giải tội (khoảng 6 giờ đồng hồ). Lúc 20 giờ đọc kinh chung với cộng đồng giáo xứ, sau đó dạy giáo lý hoặc giảng giải. 22 giờ tiếp khách tại nhà xứ. Mỗi đêm chỉ nghỉ từ một đến 3 tiếng đồng hồ. Làm việc mổi ngày 20 giờ, trong đó nhiều ngày dành tới 15 giờ để ngồi tòa giải tội. Ngài thực hành như vậy trong 30 năm. Trong quãng thời gian đó, người ta tính có hơn 100 ngàn người đến xưng tội và xin hướng dẫn về đàng thiêng liêng.
Tháng 10 năm 1986, trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Pháp, ÐTC Gioan Phaolô II đã tới Ars, để cùng với ba ngàn linh mục, một ngàn chủng sinh và 100 giám mục, mừng kỷ niệm 200 năm sinh nhật của Cha sở Ars (1786-1986). Giảng cho các vị tham dự, ÐTC nói về sự cao cả, sự sáng ngời của Chức Linh Mục và về những bổn phận của Chức Vụ này. Trong các bổn phận, ÐTC gợi lại cách riêng điểm này: không được yên lặng trước tính cách vô đạo và vô luân đang lan tràn tại các nhiều nước Công Giáo. Thuật lại lời Thánh Gioan Maria Vianney, cha sở Ars, Ðức Gioan Phaolô II nói: "Khốn thay cho linh mục nào yên lặng, câm điếc, khi thấy Thiên Chúa bị xúc phạm và các linh hồn lạc đường!".
Dưới lều vải lớn được dựng để đón tiếp các vị tham dự ngày tĩnh tâm, Cha sở Ars, người bị coi như "dốt nát", nhắc lại cho các linh mục: hãy ra đi và hãy can đảm khiển trách những người "xúc phạm đến Thiên Chúa", nhưng đồng thời cũng hướng dẫn họ trở về với Thiên Chúa, Ðấng luôn luôn chạy theo họ để đưa họ về với Người, cách riêng trong Năm sau cùng của việc chuẩn bị Ðại Toàn Xá, năm dâng kính và học hỏi về Chúa Cha.
Roma 04.8.99(trích) Trần đoàn Kết, Linh Mục. (nguon:www.tnttvn.com/forum...)
__________
19g15 15/5/2011, viet cho thu Hai
Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên
Bấy giờ tôi nhớ lại lời Chúa phán: 'Gioan đã rửa bằng nước, còn các con, các con sẽ được rửa bằng Thánh Thần'. Vậy, nếu Thiên Chúa ban cho họ cũng một ơn như đã ban cho chúng ta, là những kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà có thể ngăn cản Thiên Chúa?"
Nghe những lời ấy, họ thinh lặng và ca tụng Thiên Chúa rằng: "Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho dân ngoại ơn ăn năn sám hối để được sống" (x Cv 11, 1-18)
Khi ấy, Chúa Giêsu phán: "Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải là chủ chiên, và các chiên không phải là của người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà trốn. Sói sẽ bắt chiên và làm chúng tản mát. Kẻ chăn thuê chạy trốn, vì là đứa chăn thuê, và chẳng tha thiết gì đến đàn chiên. Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta. Cũng như Cha biết Ta và Ta biết Cha, và Ta thí mạng sống vì đàn chiên. Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn; chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên. Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta, là Ta thí mạng sống để rồi lấy lại. Không ai cất mạng sống khỏi Ta, nhưng tự Ta, Ta thí mạng sống. Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta".(Ga 10, 11-18)
- Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối bài hôm qua, theo đó sứ mạng của người mục tử còn khó khăn hơn nữa. Người mục tử không những phải chăn dắt dưỡng nuôi mà còn phải bảo vệ đàn chiên khỏi thú dữ tấn công. Có khi để bảo vệ chiên phải đổi bằng chính mạng sống mình, như chính Đức Jesus. Mục tử nhân lành còn phải tìm những chiên lạc, còn phải chăn dắt những chiên không thuộc đàn của mình. Mục tử nhân lành còn phải hiểu biết từng con chiên của mình và dạy bảo để chiên cũng hiểu biết mục tử mình
Lạy Chúa, xin giúp các vị có chức Thánh. Lạy Chúa xin giúp chính con để con có thể chu toàn sứ vụ khó khăn của mình. Amen
______________________________
21g05 16/5/2011, viet cho thu Ba
Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi, thì cao trọng hơn tất cả
Barnaba vốn là người tốt lành, đầy Thánh Thần và lòng tin. Và có đoàn người đông đảo tin theo Chúa. Vậy Barnaba đi Tarxê tìm Saolô. Gặp được rồi, liền đưa Saolô về Antiôkia. Cả hai ở lại tại Hội Thánh đó trọn một năm, giảng dạy cho quần chúng đông đảo; chính tại Antiôkia mà các môn đồ lần đầu tiên nhận tên là Kitô hữu (x Cv 11, 19-26 )
Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đàn chiên tôi. Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi. Tôi cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Tôi. Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Tôi. Tôi và Cha Tôi là một". (x Ga 10, 22-30 )
- Chúa Jesus quý trọng chiên của Người biết bao, Người cho rằng chiên đó là do Chúa Cha ban cho nên cao trọng hơn tất cả, do đó Người quý trọng và gìn giữ không để hư mất một con nào.
Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống
- Chúa Jesus quý trọng chiên của Người biết bao, Người cho rằng chiên đó là do Chúa Cha ban cho nên cao trọng hơn tất cả, do đó Người quý trọng và gìn giữ không để hư mất một con nào.
Tôi có thuộc đàn Chiên của Chúa Jesus Kitô không? Tôi có biết Chúa quý trọng tôi biết dường nào không?
____________
22g35, 17/5/2011: viet cho thu Tu
____________
22g35, 17/5/2011: viet cho thu Tu
Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng
là để cứu độ thế gian
"Hãy để riêng Saolô và Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định". Vậy sau khi ăn chay cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường.
Được Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường Do-thái. (x Cv 12, 24 - 13, 5a)
"Ai tin vào Ta thì không phải là tin vào Ta, nhưng là tin vào Đấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Đấng đã sai Ta. Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm. (x Ga 12, 44-50)
- Tôi có ước ao được Chúa chọn để thi hành những việc Người chỉ định như Banaba và Saolo?
_____________
22g15 18/5/2011, viet cho thu Nam
Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy,
và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy
22g35, 19/5/2011. Viet cho thu Sau_____________
22g15 18/5/2011, viet cho thu Nam
Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy,
và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy
Phaolô đứng lên, giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng và nói: “…. "Bởi dòng dõi Đavít, theo lời hứa, Thiên Chúa ban cho Israel Đức Giêsu làm Đấng Cứu Độ, Đấng mà Gioan đã báo trước khi người đến rao giảng phép rửa thống hối cho toàn dân Israel. Khi Gioan hoàn tất hành trình, ngài tuyên bố: 'Tôi không phải là người mà anh em lầm tưởng; nhưng đây, Người sẽ đến sau tôi mà tôi không đáng cởi dây giày dưới chân Người' ". (x Cv 13, 13-25 )
Sau khi đã rửa chân các môn đệ, Chúa Giêsu phán với các ông: "Thật, Thầy bảo thật các con: Tôi tớ không trọng hơn chủ, kẻ được sai không trọng hơn đấng đã sai mình. Nếu các con biết điều đó mà thực hành thì có phúc. Thầy không nói về tất cả các con, vì Thầy biết những kẻ Thầy đã chọn, nhưng lời Thánh Kinh sau đây phải được ứng nghiệm: Chính kẻ ăn bánh của Ta sẽ giơ gót lên đạp Ta. Thầy nói điều đó với các con ngay từ bây giờ, trước khi sự việc xảy đến, để một khi xảy đến, các con tin rằng: Thầy là ai. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy (Ga 13, 16-20)
_______________
_______________
Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống
Nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba. Và trong nhiều ngày, Người đã hiện ra với những kẻ đã cùng với Người từ Galilêa lên Giêrusalem. Bây giờ những kẻ đó là những chứng nhân của Người trước mặt dân chúng.
"Phần chúng tôi, chúng tôi loan báo cho chư huynh hay rằng: lời hứa ban cho tổ phụ chúng ta, Thiên Chúa đã làm hoàn tất cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giêsu sống lại, như đã chép trong thánh vịnh thứ hai rằng: 'Con là Con Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con' ". (x Cv 13, 26-33)
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi". Ông Tôma thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?" Chúa Giêsu đáp: "Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". (Ga 14, 1-6)
- "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi".
“Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi”. Theo mạch văn của đoạn Tin Mừng này, tôi hiểu là Chúa nghĩ các môn đệ đã biết Chúa đi về trời với Chúa Cha. (Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở).
Thế nhưng khi ông Tôma mới nghe thì không hiểu Chúa sẽ đi đâu mới mau mắn hỏi: "Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?
Chúa không trả lời thẳng vào câu hỏi của ông Tôma, nhưng Chúa đã trả lời bằng một câu thật tuyệt vời. Cám ơn thánh Tôma đã hỏi để mọi người được biết : "Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy"
Nếu tôi không biết đường, thì cứ nhìn vào Chúa cứ bước theo Chúa là sẽ đến đích. Đi theo Chúa còn tìm được sự thật. Đi theo Chúa còn tìm được sự sống. Đi theo Chúa còn đến được với Chúa Cha.
Lạy Chúa! Khi con phải phân vân giữa ngã ba đường, những rối rắm trong chọn lựa, xin Chúa hãy soi sáng nẻo đường con đi. Xin cho con luôn biết tự hỏi: gặp như Chúa, Chúa sẽ chọn cách nào-đường nào- phương án nào-giải pháp nào? Amen.
________________
22g33, 20/5/2011, viet cho thu Bay
Câu chuyện cuối tuần 1
BẢN GÓP Ý XÂY DỰNG DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH THAY THẾ
NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/ 2005/ NĐ-CP
TÒA TỔNG GIÁM MỤC
180 Nguyễn Đình Chiểu . Q 3
Thành phố HCM
( (84.8) 3930 3828
Fax (84.8) 3930 0598
E.mail : tgmsaigon@vnn.vn
Kính Gửi: Ngài Thủ Tướng Chính Phủ
Qua Ban Tôn Giáo Chính Phủ
Chúng tôi nhận được Lời mời của Ban Tôn Giáo Chính phủ tới dự Hội thảo góp ý xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 22/2005/NĐ-CP ngày 01/03/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Về Tín ngưỡng, Tôn giáo, vào lúc 8 giờ, ngày 26/04/2011 tại Hội trường C8, Nhà khách T8, 145 Lý Chính Thắng, Phường 7, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi đến dự chúng tôi hoàn toàn bị động vì không có thời gian đủ để tìm hiểu bản dự thảo (lần 5). Theo ý kiến của mọi người dự cuộc hội thảo, chúng tôi về tìm hiểu, nghiên cứu bản Dự thảo để góp ý kiến xây dựng.
Ngày 13/05/2011 với sự hiện diện của đại diện các Giáo Phận Xuân Lộc, Phan Thiết, Đà Lạt, Phú Cường, Tp. HCM, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Cần Thơ thuộc Giáo tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự chủ toạ của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã có buổi hội thảo đóng góp ý kiến thẳng thắn và nhất quán.
Trải qua thực tế các sinh hoạt tôn giáo từ sau khi Pháp Lệnh Năm 2004 Về Tín ngưỡng, Tôn giáo và Nghị Định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp Lệnh ra đời, có những mặt tích cực nhưng cũng có nhiều bất cập thậm chí gây bất công cho các Tôn Giáo và các chức sắc trong các sinh hoạt tôn giáo thuần tuý và các nỗ lực trong việc tham gia xây dựng phát triển đời sống con người, xã hội và Đất nước. Vì thế, xin gửi đến quí vị bản ý kiến chung của Giáo tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
1. “Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (Xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI). Khẳng định này đặt con người làm mục đích và trọng tâm của mọi hoạt động, đặc biệt là trong việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống Pháp Luật trên nền tảng Pháp trị mà Đảng và Nhà Nước đang nỗ lực phát triển. Luật phải thực sự “vị nhân sinh”, mang tính tôn trọng sự sống, nhân phẩm và nhân quyền, tôn trọng sự bình đẳng giữa mọi thành phần và giai cấp xã hội, tôn trọng sự tự do làm người hữu ích cho cộng đồng xã hội, hướng đến một trật tự xã hội nhân bản hơn.
2. Từ Hiến Pháp đến Pháp Lệnh Về Tín ngưỡng, Tôn giáo đều khẳng định : “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy”. Nhưng thực tế ngay trong các điều khoản của Pháp Lệnh năm 2004 và nghị định 22/2005/NĐ-CP đã có nhiều bất cập và bất bình đẳng đối với các Tôn giáo và các chức sắc. Đó là Nhà nước công nhận sự hiện diện, tồn tại của các tôn giáo nhưng không công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo và các chức sắc. Do đó, chức sắc tôn giáo không được hưởng nhận những quyền công dân như các công dân khác và quyền đại diện cho tổ chức tôn giáo trước mặt pháp luật. Đồng thời, tổ chức tôn giáo không được hưởng quyền pháp nhân như các tổ chức xã hội hợp pháp khác theo hiến pháp và pháp luật. Vì thế, pháp luật cần phải xác định rõ ràng tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo và các chức sắc. Các tổ chức tôn giáo và chức sắc bị hạn chế; thay vì được hưởng những quyền lợi chính đáng thì phải đi xin những quyền đó như tự do tổ chức lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, đào tạo, phong chức …
3. Pháp lệnh qui định tài sản hợp pháp thuộc các cơ sở tôn giáo được pháp luật “bảo hộ”; nhưng trong thực tế không có văn bản pháp qui nào trình bày rõ ràng thế nào là bảo hộ và quyền lợi về phía tôn giáo được bảo hộ như thế nào. Từ đó dẫn tới tình trạng nhiều cơ sở và đất đai của các tôn giáo bị chiếm dụng bất công. Luật về đất đai tuy đã sửa đổi nhiều lần nhưng vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng kịp đà biến chuyển trong đời sống xã hội, đặc biệt là chưa quan tâm đến quyền tư hữu chính đáng của người dân. Vì vậy, cần phải quan tâm tới quyền tư hữu của người dân như Tuyên ngôn Quốc tế của Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền tư hữu cho riêng mình hay chung với người khác… và không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình cách độc đoán” (số 17). ( Xem Quan Điểm Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Về Một Số Vấn Đề Trong Hoàn Cảnh Hiện Nay công bố ngày 25.09.2008). Các tổ chức tôn giáo có quyền làm chủ tài sản và đất đai, đồng thời họ cũng phải nhận trách nhiệm của mình đối với xã hội về những tài sản đó.
4. Các tôn giáo đều có lý tưởng phục vụ con người và xã hội ngày càng thăng tiến hơn. Do đó, các tổ chức tôn giáo đều có các hoạt động xã hội, đặc biệt trong lãnh vực y tế và giáo dục. Theo Pháp Lệnh và Nghị định, các Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật nhưng lại chỉ hạn chế trong một số lãnh vực. Trong khi đó, với đường hướng phát triển xã hội hoá ngày nay, ngay cả công dân và tổ chức nước ngoài cũng được phép mở bệnh viện, mở trường học tới cấp đại học. Do đó, chúng tôi đề nghị các tổ chức tôn giáo phải được pháp luật nhìn nhận bình đẳng với các pháp nhân khác, trong lãnh vực y tế và giáo dục.
5. Nhìn chung Dự thảo Nghị Định thay thế Nghị Định 22/2005 (lần 5) là một sự thụt lùi nặng nề so với Nghị Định 22/2005, Pháp Lệnh Về tín ngưỡng, tôn giáo và Hiến Pháp. Thực chất, những dự định thay đổi của Nghị định muốn tái lập tình trạng Xin – Cho trong các sinh hoạt tôn giáo. Cơ chế Xin – Cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân qua những thủ tục cấp phép. Như thế cơ chế Xin – Cho vừa xoá đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của mình.
Trên đây là môt số góp ý căn bản với lòng chân thành, Giới Công giáo chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng tiến bộ, thực sự vì dân, do dân, nhờ đó mà đất nước ngày càng phát triển cách bền vững. Chúng tôi hiểu rằng mọi vấn đề trong xã hội đều phải có quá trình phát triển khách quan của nó. Tinh thần thượng tôn Pháp luật cũng thế, muốn có sự phát triển cần phải can đảm thay đổi não trạng, cần phải có sự tôn trọng chân lý khách quan và thực sự thay đổi từ chính nền tảng căn bản của nền pháp trị chứ không chỉ ở các qui định hay nghị định dưới luật.
Trân trọng kính chào.
Làm Tại Toà Tổng Giám Mục TP.HCM ngày 13 tháng 05, năm 2011
Gioan Baotixita PHẠM MINH MẪN
Hồng y Tổng giám mục
Đã ký
Thư ký
Lm. Giuse M. LÊ QUỐC THĂNG
Trưởng Ban Công lý và Hoà Bình Tổng giáo phận Tp.HCM
Đã KýDƯỚI ĐÂY LÀ PHẦN GÓP Ý CỤ THỂ: ... ... ...
Câu chuyện cuối tuần 2
Ngày cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa 24/5:
Kinh Lạy Đức Mẹ Xà Sơn
Nguyễn Thanh 5/19/2011
Thứ ba, 24/5, phụng vụ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Đấng Phù Hộ Các Tín Hữu. Ngày này được dành để cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa. Trong bài huấn dụ trong buổi triều yết chung Thứ Tư vừa qua Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng việc cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa là nghĩa vụ của tất cả các tín hữu Công Giáo trên thế giới. Ngài nói:
"Đối với tất cả các tín hữu Công Giáo trên thế giới, việc cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Quốc cũng là một nghĩa vụ: các tín hữu tại Trung Quốc có quyền được chúng ta cầu nguyện, họ đang cần lời cầu nguyện của chúng ta.”Tòa Thánh cũng đã phổ biến Kinh Lạy Đức Mẹ Xà Sơn do chính Đức Thánh Cha biên soạn.Lạy Mẹ Chí Thánh, Mẹ của Ngôi Lời nhập thể và là Mẹ chúng con, được tôn kính tại Đền Thánh Xà Sơn dưới danh hiệu ”Đức Mẹ Phù Hộ các tín hữu”, Mẹ là Đấng mà toàn thể Giáo Hội tại Trung Quốc hướng nhìn với lòng kính mến sâu xa, hôm nay chúng con đến trước Mẹ để khẩn cầu sự bảo bọc của Mẹ. Xin Mẹ nhìn đến dân Chúa và với lòng từ mẫu hướng dẫn họ trên con đường chân lý và tình thương, để trong mọi hoàn cảnh, họ là men cuộc sống chung hòa hợp giữa mọi công dân.
Do lời ngoan ngoãn ”Xin vâng” tại Nazareth, Mẹ đã để Con vĩnh cửu của Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng trinh khiết của Mẹ và nhờ đó đưa công trình Cứu Chuộc đi vào lịch sử, và sau đó Mẹ đã cộng tác với công trình này với lòng tận tụy ân cần, chấp nhận lưỡi gươm khổ đau đâm thâu qua tâm hồn Mẹ, cho đến giờ tột đỉnh của Thánh Giá, trên đồi Can Vê, lúc Mẹ đứng cạnh Chúa Con chịu chết để loài người được sống.
Từ đó, theo một thể thức mới mẻ, Mẹ trở thành Mẹ của tất cả những người đón nhận trong đức tin Đức Giêsu Con của Mẹ và chấp nhận theo Chúa bằng cách vác Thánh Giá Chúa trên vai. Lạy Mẹ hy vọng, trong tăm tối của Ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, với niềm tin tưởng không lay chuyển, Mẹ đã tiến bước tới ban sáng ngày Phục Sinh, xin Mẹ ban cho các con cái của Mẹ, trong mọi hoàn cảnh, dù là tối tăm nhất, khả năng nhận ra những dấu chỉ sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa.
Lạy Đức Mẹ Xà Sơn, xin nâng đỡ sự dấn thân của tất cả những người tại Trung Quốc, giữa những khó khăn thường nhật, đang tiếp tục tin tưởng, hy vọng, yêu mến, để họ không bao giờ sợ nói với thế giới về Chúa Giêsu và nói với Chúa Giêsu về thế giới. Nơi pho tượng trên đỉnh Đền Thánh, Mẹ giơ cao Chúa Con, giới thiệu Ngài cho thế giới với vòng tay giang rộng như một cử chỉ yêu thương. Xin Mẹ giúp các tín hữu Công Giáo luôn luôn là những chứng nhân đáng tin về tình yêu này, xin Mẹ giữ gìn họ hiệp nhất với đá tảng là Phêrô, trên đó Giáo Hội được kiến thiết. Lạy Đức Mẹ Trung Quốc và Á Châu, xin cầu cho chúng con bây giờ và mãi mãi. Amen!
Câu chuyện cuối tuần 3
Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy
Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng: "Phải giảng lời Thiên Chúa cho các ngươi trước tiên, nhưng vì các ngươi từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía các dân ngoại; vả lại Chúa đã truyền lệnh cho chúng tôi rằng: 'Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất' ". Nghe vậy, các dân ngoại hân hoan ca tụng lời Chúa; những ai được Chúa tiền định hưởng sự sống đời đời, thì tin theo, nên lời Chúa được rao giảng khắp cả vùng. (x Cv 13, 44-52)
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, các con biết và đã xem thấy Người".
Philipphê thưa: "Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con". Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: "Philipphê, Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là xem thấy Cha. Sao con lại nói: Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha? Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin, vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm; người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha. Và điều gì các con nhân danh Thầy mà xin Cha, Thầy sẽ làm, để Cha được vinh hiển trong Con. Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin cùng Thầy, Thầy sẽ làm cho". (Ga 14, 7-14 )
- Hôm qua (bài Tin Mừng) ông Tôma hỏi và Chúa đã trả lời gián tiếp. Hôm nay ông Philipphê lại có một đề nghị: "Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con". Tôi nghĩ, ông Philipphê cũng giống ông Tôma và cũng giống như tôi, thường khi chỉ để ý đến một hai câu trong cả đoạn Lời Chúa.
Chúa nói 3 câu (từ câu 5 ->7), nhưng ông Philipphê chỉ để ý nhiều đến nửa cuối của câu 3. “5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? "6 Đức Giê-su đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."
Chúa đã ôn tồn giải thích cặn kẽ cho ông Philipphê và môn đệ. Thế nhưng ông Giuđa vẩn tiếp tục hỏi (gặp tôi có khi cũng thắc mắc như vậy lại không dám hỏi?): 22 Ông Giu-đa, không phải Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ mình ra cho thế gian? "23 Đức Giê-su đáp: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.24 Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.25 Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em.26 Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.
27 Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.28 Anh em đã nghe Thầy bảo: "Thầy ra đi và đến cùng anh em". Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.29 Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.
30 Thầy sẽ không còn nói nhiều với anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy.31 Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy. Nào đứng dậy! Ta đi khỏi đây! "
***********
27 Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.28 Anh em đã nghe Thầy bảo: "Thầy ra đi và đến cùng anh em". Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.29 Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.
30 Thầy sẽ không còn nói nhiều với anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy.31 Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy. Nào đứng dậy! Ta đi khỏi đây! "
***********
Câu chuyện cuối tuần 1
BẢN GÓP Ý XÂY DỰNG DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH THAY THẾ
NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/ 2005/ NĐ-CP
TÒA TỔNG GIÁM MỤC
180 Nguyễn Đình Chiểu . Q 3
Thành phố HCM
( (84.8) 3930 3828
Fax (84.8) 3930 0598
E.mail : tgmsaigon@vnn.vn
Kính Gửi: Ngài Thủ Tướng Chính Phủ
Qua Ban Tôn Giáo Chính Phủ
Chúng tôi nhận được Lời mời của Ban Tôn Giáo Chính phủ tới dự Hội thảo góp ý xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 22/2005/NĐ-CP ngày 01/03/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Về Tín ngưỡng, Tôn giáo, vào lúc 8 giờ, ngày 26/04/2011 tại Hội trường C8, Nhà khách T8, 145 Lý Chính Thắng, Phường 7, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi đến dự chúng tôi hoàn toàn bị động vì không có thời gian đủ để tìm hiểu bản dự thảo (lần 5). Theo ý kiến của mọi người dự cuộc hội thảo, chúng tôi về tìm hiểu, nghiên cứu bản Dự thảo để góp ý kiến xây dựng.
Ngày 13/05/2011 với sự hiện diện của đại diện các Giáo Phận Xuân Lộc, Phan Thiết, Đà Lạt, Phú Cường, Tp. HCM, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Cần Thơ thuộc Giáo tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự chủ toạ của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã có buổi hội thảo đóng góp ý kiến thẳng thắn và nhất quán.
Trải qua thực tế các sinh hoạt tôn giáo từ sau khi Pháp Lệnh Năm 2004 Về Tín ngưỡng, Tôn giáo và Nghị Định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp Lệnh ra đời, có những mặt tích cực nhưng cũng có nhiều bất cập thậm chí gây bất công cho các Tôn Giáo và các chức sắc trong các sinh hoạt tôn giáo thuần tuý và các nỗ lực trong việc tham gia xây dựng phát triển đời sống con người, xã hội và Đất nước. Vì thế, xin gửi đến quí vị bản ý kiến chung của Giáo tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
1. “Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (Xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI). Khẳng định này đặt con người làm mục đích và trọng tâm của mọi hoạt động, đặc biệt là trong việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống Pháp Luật trên nền tảng Pháp trị mà Đảng và Nhà Nước đang nỗ lực phát triển. Luật phải thực sự “vị nhân sinh”, mang tính tôn trọng sự sống, nhân phẩm và nhân quyền, tôn trọng sự bình đẳng giữa mọi thành phần và giai cấp xã hội, tôn trọng sự tự do làm người hữu ích cho cộng đồng xã hội, hướng đến một trật tự xã hội nhân bản hơn.
2. Từ Hiến Pháp đến Pháp Lệnh Về Tín ngưỡng, Tôn giáo đều khẳng định : “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy”. Nhưng thực tế ngay trong các điều khoản của Pháp Lệnh năm 2004 và nghị định 22/2005/NĐ-CP đã có nhiều bất cập và bất bình đẳng đối với các Tôn giáo và các chức sắc. Đó là Nhà nước công nhận sự hiện diện, tồn tại của các tôn giáo nhưng không công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo và các chức sắc. Do đó, chức sắc tôn giáo không được hưởng nhận những quyền công dân như các công dân khác và quyền đại diện cho tổ chức tôn giáo trước mặt pháp luật. Đồng thời, tổ chức tôn giáo không được hưởng quyền pháp nhân như các tổ chức xã hội hợp pháp khác theo hiến pháp và pháp luật. Vì thế, pháp luật cần phải xác định rõ ràng tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo và các chức sắc. Các tổ chức tôn giáo và chức sắc bị hạn chế; thay vì được hưởng những quyền lợi chính đáng thì phải đi xin những quyền đó như tự do tổ chức lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, đào tạo, phong chức …
3. Pháp lệnh qui định tài sản hợp pháp thuộc các cơ sở tôn giáo được pháp luật “bảo hộ”; nhưng trong thực tế không có văn bản pháp qui nào trình bày rõ ràng thế nào là bảo hộ và quyền lợi về phía tôn giáo được bảo hộ như thế nào. Từ đó dẫn tới tình trạng nhiều cơ sở và đất đai của các tôn giáo bị chiếm dụng bất công. Luật về đất đai tuy đã sửa đổi nhiều lần nhưng vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng kịp đà biến chuyển trong đời sống xã hội, đặc biệt là chưa quan tâm đến quyền tư hữu chính đáng của người dân. Vì vậy, cần phải quan tâm tới quyền tư hữu của người dân như Tuyên ngôn Quốc tế của Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền tư hữu cho riêng mình hay chung với người khác… và không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình cách độc đoán” (số 17). ( Xem Quan Điểm Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Về Một Số Vấn Đề Trong Hoàn Cảnh Hiện Nay công bố ngày 25.09.2008). Các tổ chức tôn giáo có quyền làm chủ tài sản và đất đai, đồng thời họ cũng phải nhận trách nhiệm của mình đối với xã hội về những tài sản đó.
4. Các tôn giáo đều có lý tưởng phục vụ con người và xã hội ngày càng thăng tiến hơn. Do đó, các tổ chức tôn giáo đều có các hoạt động xã hội, đặc biệt trong lãnh vực y tế và giáo dục. Theo Pháp Lệnh và Nghị định, các Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật nhưng lại chỉ hạn chế trong một số lãnh vực. Trong khi đó, với đường hướng phát triển xã hội hoá ngày nay, ngay cả công dân và tổ chức nước ngoài cũng được phép mở bệnh viện, mở trường học tới cấp đại học. Do đó, chúng tôi đề nghị các tổ chức tôn giáo phải được pháp luật nhìn nhận bình đẳng với các pháp nhân khác, trong lãnh vực y tế và giáo dục.
5. Nhìn chung Dự thảo Nghị Định thay thế Nghị Định 22/2005 (lần 5) là một sự thụt lùi nặng nề so với Nghị Định 22/2005, Pháp Lệnh Về tín ngưỡng, tôn giáo và Hiến Pháp. Thực chất, những dự định thay đổi của Nghị định muốn tái lập tình trạng Xin – Cho trong các sinh hoạt tôn giáo. Cơ chế Xin – Cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân qua những thủ tục cấp phép. Như thế cơ chế Xin – Cho vừa xoá đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của mình.
Trên đây là môt số góp ý căn bản với lòng chân thành, Giới Công giáo chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng tiến bộ, thực sự vì dân, do dân, nhờ đó mà đất nước ngày càng phát triển cách bền vững. Chúng tôi hiểu rằng mọi vấn đề trong xã hội đều phải có quá trình phát triển khách quan của nó. Tinh thần thượng tôn Pháp luật cũng thế, muốn có sự phát triển cần phải can đảm thay đổi não trạng, cần phải có sự tôn trọng chân lý khách quan và thực sự thay đổi từ chính nền tảng căn bản của nền pháp trị chứ không chỉ ở các qui định hay nghị định dưới luật.
Trân trọng kính chào.
Làm Tại Toà Tổng Giám Mục TP.HCM ngày 13 tháng 05, năm 2011
Gioan Baotixita PHẠM MINH MẪN
Hồng y Tổng giám mục
Đã ký
Thư ký
Lm. Giuse M. LÊ QUỐC THĂNG
Trưởng Ban Công lý và Hoà Bình Tổng giáo phận Tp.HCM
Đã KýDƯỚI ĐÂY LÀ PHẦN GÓP Ý CỤ THỂ: ... ... ...
Câu chuyện cuối tuần 2
Ngày cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa 24/5:
Kinh Lạy Đức Mẹ Xà Sơn
Nguyễn Thanh 5/19/2011
Thứ ba, 24/5, phụng vụ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Đấng Phù Hộ Các Tín Hữu. Ngày này được dành để cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa. Trong bài huấn dụ trong buổi triều yết chung Thứ Tư vừa qua Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng việc cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa là nghĩa vụ của tất cả các tín hữu Công Giáo trên thế giới. Ngài nói:
"Đối với tất cả các tín hữu Công Giáo trên thế giới, việc cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Quốc cũng là một nghĩa vụ: các tín hữu tại Trung Quốc có quyền được chúng ta cầu nguyện, họ đang cần lời cầu nguyện của chúng ta.”Tòa Thánh cũng đã phổ biến Kinh Lạy Đức Mẹ Xà Sơn do chính Đức Thánh Cha biên soạn.Lạy Mẹ Chí Thánh, Mẹ của Ngôi Lời nhập thể và là Mẹ chúng con, được tôn kính tại Đền Thánh Xà Sơn dưới danh hiệu ”Đức Mẹ Phù Hộ các tín hữu”, Mẹ là Đấng mà toàn thể Giáo Hội tại Trung Quốc hướng nhìn với lòng kính mến sâu xa, hôm nay chúng con đến trước Mẹ để khẩn cầu sự bảo bọc của Mẹ. Xin Mẹ nhìn đến dân Chúa và với lòng từ mẫu hướng dẫn họ trên con đường chân lý và tình thương, để trong mọi hoàn cảnh, họ là men cuộc sống chung hòa hợp giữa mọi công dân.
Do lời ngoan ngoãn ”Xin vâng” tại Nazareth, Mẹ đã để Con vĩnh cửu của Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng trinh khiết của Mẹ và nhờ đó đưa công trình Cứu Chuộc đi vào lịch sử, và sau đó Mẹ đã cộng tác với công trình này với lòng tận tụy ân cần, chấp nhận lưỡi gươm khổ đau đâm thâu qua tâm hồn Mẹ, cho đến giờ tột đỉnh của Thánh Giá, trên đồi Can Vê, lúc Mẹ đứng cạnh Chúa Con chịu chết để loài người được sống.
Từ đó, theo một thể thức mới mẻ, Mẹ trở thành Mẹ của tất cả những người đón nhận trong đức tin Đức Giêsu Con của Mẹ và chấp nhận theo Chúa bằng cách vác Thánh Giá Chúa trên vai. Lạy Mẹ hy vọng, trong tăm tối của Ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, với niềm tin tưởng không lay chuyển, Mẹ đã tiến bước tới ban sáng ngày Phục Sinh, xin Mẹ ban cho các con cái của Mẹ, trong mọi hoàn cảnh, dù là tối tăm nhất, khả năng nhận ra những dấu chỉ sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa.
Lạy Đức Mẹ Xà Sơn, xin nâng đỡ sự dấn thân của tất cả những người tại Trung Quốc, giữa những khó khăn thường nhật, đang tiếp tục tin tưởng, hy vọng, yêu mến, để họ không bao giờ sợ nói với thế giới về Chúa Giêsu và nói với Chúa Giêsu về thế giới. Nơi pho tượng trên đỉnh Đền Thánh, Mẹ giơ cao Chúa Con, giới thiệu Ngài cho thế giới với vòng tay giang rộng như một cử chỉ yêu thương. Xin Mẹ giúp các tín hữu Công Giáo luôn luôn là những chứng nhân đáng tin về tình yêu này, xin Mẹ giữ gìn họ hiệp nhất với đá tảng là Phêrô, trên đó Giáo Hội được kiến thiết. Lạy Đức Mẹ Trung Quốc và Á Châu, xin cầu cho chúng con bây giờ và mãi mãi. Amen!
Câu chuyện cuối tuần 3
Thắp nén hương lòng cho các vị chủ chăn: Lạng Sơn
+ TGM Giuse Ngô quang Kiệt
5/16/2011
5/16/2011
Trong tháng Năm Lạng sơn có nhiều lễ giỗ của các bậc tiền bối: Mồng 2 giỗ Đức Cha Jacq Mỹ, mồng 4 giỗ Đức Cha Hedde Minh, 18 giỗ bà cụ Mến, 27 giỗ Đức Ông Cothonay Chiểu và 30 giỗ cha già Quỳnh. Đặc biệt năm nay lễ giỗ 10 năm của Đức cha Jacq Mỹ và 51 năm của Đức Cha Hedde Minh, tôi thấy xúc động vì hoàn cảnh của các ngài và những kỷ niệm tôi có với các ngài.
Đức cha Hedde Minh là giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi của Giáo phận Đại diện Tông tòa Lạng sơn. Trước đó ngài đã là Đức Ông của Phủ doãn Tông tòa Lạng sơn, kế vị Đức Ông Cothonay Chiểu và Đức Ông Maillet Bính. Thời gian ngài coi sóc Lạng sơn là thời gian có nhiều biến động với nhiều cuộc chiến tranh: chiến tranh với Nhật, với Pháp, với Mỹ và cuộc di cư đã làm Giáo phận vốn mỏng manh lại thêm èo uột.
Sống trong cảnh bấp bênh thời chiến, ngài đã cẩn thận lựa chọn Đức Cha Phó Jacq Mỹ để phụ giúp ngài điều hành một giáo phận tuy ít người nhưng lại trải trên một địa bàn vừa rộng lớn, vừa hiểm trở và khó tiếp cận đặc biệt trong thời chiến tranh. Nhưng hoàn cảnh éo le đã khiến ngài cuối cùng phải một mình gồng gánh trách nhiệm trên đôi vai già yếu và bệnh tật.
Năm 1959, Nhà Nước ra lệnh trục xuất các Thừa sai nước ngoài. Đức Cha Jacq Mỹ đã lên đường sang Thái rồi vào miền Nam. Còn lại Đức Cha Hedde Minh già yếu bệnh tật không có thể di chuyển được, dù bị thúc ép nhưng ngài kiên quyết vùi thân nơi mảnh đất yêu dấu mà ngài đã gắn bó hơn nửa thế kỷ qua. Nhà Nước bao vây ngài rất kỹ lưỡng nên không ai được vào thăm nom chăm sóc. Nằm trên giường bệnh ngài than thở: “Je suis seul! Je suis seul”(Tôi cô đơn quá). Sức lực tàn tạ, Ngài trút hơi thở vào ngày 04-05-1960. Bị bao vây kỹ lưỡng nên các Đức Cha chung quanh không ai hay biết và đến dự đám tang của Ngài. Nghe nói Đức Cha Căn được tin đã lên đường ngay, nhưng chưa kịp đến nơi thì lễ an táng đã xong rồi.
Khi sống đã chịu nhiều khó khăn, khi chết ngài vẫn còn bị bắt bớ. Chính quyền lấy cớ ngài bị bệnh truyền nhiễm nên không cho an táng trong nghĩa địa, càng không cho an táng trong Nhà thờ Chính tòa theo thói tục của các Giáo phận. Nhưng với lòng yêu mến vị Chủ Chăn sống chết với đoàn chiên và với đức tin kiên vững, giáo dân quyết tâm an táng ngài trong nghĩa địa Cửa Nam trên đồi Tổ Sơn. Tuy lực lượng an ninh canh gác dày đặc, nhưng giáo dân Lạng sơn tuy ít ỏi mà rất kiên cường đã đàng hoàng tổ chức đám tang nghiêm trang trong tình cảm đau đớn tiếc nuối. Khi sống ngài đã luôn ở giữa giáo dân cả trong những thời khắc gian nan nhất, khi chết ngài vẫn hiện diện giữa đoàn chiên như một mục tử nhân lành sống chết với đoàn chiên theo cả nghĩa đen. Và thật là một quan phòng của Thiên Chúa, nếu ngài được an táng trong Nhà thờ Chính tòa thì có lẽ xác ngài sẽ không còn nguyên vẹn vì ngôi nhà thờ đã bị bom vào năm 1967 và sụp đổ tan tành.
Cuộc đời của Đức Cha Jacq Mỹ cũng không kém phần gian khổ. Làm giám mục phó, ngài xông xáo khắp nơi, đi lại những nơi rừng sâu núi thẳm để thăm viếng các linh mục và giáo dân trong thời chiến tranh. Có lần ngài suýt bỏ mạng trong trận Đông Khê. Đoàn xe bị mìn nhưng ơn Chúa gìn giữ xe của ngài đi qua đầu tiên thì mìn chưa kịp nổ.
Năm 1959, ngài bị trục xuất. Không trở về nước ngài vào miền Nam tiếp tục sứ mạng loan báo Tin mừng với tâm nguyện được chết tại đất nước mà ngài yêu quí rất mực này. Tại Long xuyên ngài chẳng làm việc gì quan trọng, chỉ làm tuyên úy cho bệnh viện. Ngoài những giờ kinh lễ cầu nguyện sốt sắng, ngài rảo khắp bệnh viện thăm nom các bệnh nhân. Lạ lùng, ngài nói tiếng Việt rất dở, nhưng mọi người đều hiểu ngài. Có lẽ ngài nói bằng trái tim nên ai cũng hiểu. Ngài cũng dành một chút thời giờ vào chủng viện dậy tiếng Pháp cho chủng sinh. Chẳng bao giờ người ta thấy ngài xuất hiện như một vị giám mục cân đai áo mão, suốt đời chỉ như một linh mục khiêm nhường ân cần phục vụ người nghèo.
Ước nguyện rất bình thường của ngài không được toại nguyện. Sau năm 1975, một lần nữa ngài bị trục xuất khỏi miền Nam và khỏi Việt nam, đất nước mà ngài yêu quí muốn hiến dâng cả cuộc đời và muốn được vùi thân ở đây.
Không rõ ngài làm gì khi trở về Pháp. Nghe nói ngài làm tuyên úy cho một trại tù. Năm 1993, khi tôi sang Pháp thì ngài đã về hưu. Chân ướt chân ráo đến Pháp, tôi muốn thăm ngài nhưng không biết ở đâu. May nhờ cha Alphongso Nguyễn hữu Long chúng tôi mới biết ngài nghỉ hưu nơi nhà các sơ Petites Soeurs des Pauvres tại phố Breteuil, rất gần Hội Thừa Sai Ba lê. Thế là chúng tôi thường xuyên đến thăm ngài.
Thấy người Việt nam đến các sơ rất mừng, vì trí nhớ của ngài đã bắt đầu suy giảm nhưng lại rất nhớ Việt nam. Ngài luôn nói tiếng Việt mà các sơ không hiều gì. Còn ngài thì vui mừng hết sức. Tỉnh táo, vui tươi, ngài hỏi thăm rất nhiều về Việt nam. Khi cha Phạm phúc Khánh soạn xong quyển “Lược sử giáo phận Lạng sơn”, đưa cho ngài một bản, ngài say sưa đọc và nhắc rất nhiều về Lạng sơn. Dịp kỷ niệm Ngọc Khánh Linh Mục, chúng tôi rủ nhau đến đồng tế với ngài khiến ngài rất hài lòng.
Nhưng năm 1996, tại Pháp nổ ra cuộc đình công của Đảng Xã Hội làm tê liệt giao thông trong 1 tháng trời. TV đưa tin rất nhiều về những đòi hỏi cải cách tiền lương và chế độ xã hội, ngài sợ hãi như mất trí. Ngài luôn lo sợ hỏi: Có phải chính quyền sắp bị lật đổ không. Có lẽ ngài sợ lại bị trục xuất một lần nữa. Sau đó ngài chìm dần vào hôn mê cho đến khi qua đời vào ngày 02-05- 2001.
Dường như gặp khó khăn là số phận của các vị chủ chăn Lạng sơn. Đức Ông Maillet Bính đã chết mất xác ở đâu đó trong núi rừng Cao bằng. Vào năm 1947, ngài cùng với các cha Hào, Điền, Đề bị dẫn vào rừng. Tính ngài vốn nóng này, dọc đường có phản kháng nên ngài bị chết trước. Các cha còn lại bị dẫn đi xa hơn, chết sau nhưng cũng không tìm được xác.
Đức Cha Vinh sơn Dụ thì khỏi nói, bị quản chế 33 năm tại Thất khê. Khi được công nhận thì ngài đã yếu vì bệnh tật, nhưng cũng không được phép đi lại trong giáo phận. Năm 1990, trong cuộc họp Hội đồng Giám mục, ngài trình bầy hoàn cảnh với Thủ tướng Phạm văn Đồng. Ông Thủ tướng cấp cho ngài một giấy để chính quyền địa phương cho ngài đi lại. Nhưng lần lên Cao bằng đầu tiên, bị hạch hỏi, ngài trình giấy của Thủ tướng, nhân viên xét hỏi đã tịch thu giấy và từ đó ngài trở lại tình trạng như cũ. Về Lạng sơn, ngài gặp rất nhiều khó khăn vì Tòa Giám mục bị chiếm, muốn xây nhà thờ Chính tòa nhưng đất đai cũng đã bị chiếm và cuộc tranh chấp kéo dài khiến việc xây nhà thờ không tiến hành được. Ngài bị tai biến mạch máu não nhiều lần và chết cái chết đau đớn trong tâm tư còn bao ước vọng cho giáo phận chưa thực hiện được.
Còn các vị có liên hệ đến Lạng sơn cũng gặp không ít khó khăn. Đức cha Lãng chết sớm, khi chết trong tay vẫn còn cầm tờ báo Công giáo và Dân tộc với những bài chống đối việc phong thánh cho 117 anh hùng tử đạo Việt nam. Đức cha Ngữ về hưu sớm và tự giam mình vì biết rằng có muốn đi đâu cũng chẳng được đi.
Nhưng nhờ những khó khăn của các vị tiền bối chịu đựng mà giờ đây giáo phận Lạng sơn được nhiều ơn lành của Chúa. Lạng sơn đang được hưởng mùa gặt vui mừng đã được gieo trong đau thương của các bậc tiền bối. Hôm nay một chút tưởng nhớ về các ngài như nén hương lòng xin các ngài tiếp tục chuyển cầu cho Lạng sơn để Chúa, qua những gian lao các ngài đã gánh chịu, đổ tràn ơn lành xuống giáo phận truyền giáo ở địa đầu đất nước này.
(Nguon: vietcatholic)
Đức cha Hedde Minh là giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi của Giáo phận Đại diện Tông tòa Lạng sơn. Trước đó ngài đã là Đức Ông của Phủ doãn Tông tòa Lạng sơn, kế vị Đức Ông Cothonay Chiểu và Đức Ông Maillet Bính. Thời gian ngài coi sóc Lạng sơn là thời gian có nhiều biến động với nhiều cuộc chiến tranh: chiến tranh với Nhật, với Pháp, với Mỹ và cuộc di cư đã làm Giáo phận vốn mỏng manh lại thêm èo uột.
Năm 1959, Nhà Nước ra lệnh trục xuất các Thừa sai nước ngoài. Đức Cha Jacq Mỹ đã lên đường sang Thái rồi vào miền Nam. Còn lại Đức Cha Hedde Minh già yếu bệnh tật không có thể di chuyển được, dù bị thúc ép nhưng ngài kiên quyết vùi thân nơi mảnh đất yêu dấu mà ngài đã gắn bó hơn nửa thế kỷ qua. Nhà Nước bao vây ngài rất kỹ lưỡng nên không ai được vào thăm nom chăm sóc. Nằm trên giường bệnh ngài than thở: “Je suis seul! Je suis seul”(Tôi cô đơn quá). Sức lực tàn tạ, Ngài trút hơi thở vào ngày 04-05-1960. Bị bao vây kỹ lưỡng nên các Đức Cha chung quanh không ai hay biết và đến dự đám tang của Ngài. Nghe nói Đức Cha Căn được tin đã lên đường ngay, nhưng chưa kịp đến nơi thì lễ an táng đã xong rồi.
Khi sống đã chịu nhiều khó khăn, khi chết ngài vẫn còn bị bắt bớ. Chính quyền lấy cớ ngài bị bệnh truyền nhiễm nên không cho an táng trong nghĩa địa, càng không cho an táng trong Nhà thờ Chính tòa theo thói tục của các Giáo phận. Nhưng với lòng yêu mến vị Chủ Chăn sống chết với đoàn chiên và với đức tin kiên vững, giáo dân quyết tâm an táng ngài trong nghĩa địa Cửa Nam trên đồi Tổ Sơn. Tuy lực lượng an ninh canh gác dày đặc, nhưng giáo dân Lạng sơn tuy ít ỏi mà rất kiên cường đã đàng hoàng tổ chức đám tang nghiêm trang trong tình cảm đau đớn tiếc nuối. Khi sống ngài đã luôn ở giữa giáo dân cả trong những thời khắc gian nan nhất, khi chết ngài vẫn hiện diện giữa đoàn chiên như một mục tử nhân lành sống chết với đoàn chiên theo cả nghĩa đen. Và thật là một quan phòng của Thiên Chúa, nếu ngài được an táng trong Nhà thờ Chính tòa thì có lẽ xác ngài sẽ không còn nguyên vẹn vì ngôi nhà thờ đã bị bom vào năm 1967 và sụp đổ tan tành.
Cuộc đời của Đức Cha Jacq Mỹ cũng không kém phần gian khổ. Làm giám mục phó, ngài xông xáo khắp nơi, đi lại những nơi rừng sâu núi thẳm để thăm viếng các linh mục và giáo dân trong thời chiến tranh. Có lần ngài suýt bỏ mạng trong trận Đông Khê. Đoàn xe bị mìn nhưng ơn Chúa gìn giữ xe của ngài đi qua đầu tiên thì mìn chưa kịp nổ.
Năm 1959, ngài bị trục xuất. Không trở về nước ngài vào miền Nam tiếp tục sứ mạng loan báo Tin mừng với tâm nguyện được chết tại đất nước mà ngài yêu quí rất mực này. Tại Long xuyên ngài chẳng làm việc gì quan trọng, chỉ làm tuyên úy cho bệnh viện. Ngoài những giờ kinh lễ cầu nguyện sốt sắng, ngài rảo khắp bệnh viện thăm nom các bệnh nhân. Lạ lùng, ngài nói tiếng Việt rất dở, nhưng mọi người đều hiểu ngài. Có lẽ ngài nói bằng trái tim nên ai cũng hiểu. Ngài cũng dành một chút thời giờ vào chủng viện dậy tiếng Pháp cho chủng sinh. Chẳng bao giờ người ta thấy ngài xuất hiện như một vị giám mục cân đai áo mão, suốt đời chỉ như một linh mục khiêm nhường ân cần phục vụ người nghèo.
Ước nguyện rất bình thường của ngài không được toại nguyện. Sau năm 1975, một lần nữa ngài bị trục xuất khỏi miền Nam và khỏi Việt nam, đất nước mà ngài yêu quí muốn hiến dâng cả cuộc đời và muốn được vùi thân ở đây.
Không rõ ngài làm gì khi trở về Pháp. Nghe nói ngài làm tuyên úy cho một trại tù. Năm 1993, khi tôi sang Pháp thì ngài đã về hưu. Chân ướt chân ráo đến Pháp, tôi muốn thăm ngài nhưng không biết ở đâu. May nhờ cha Alphongso Nguyễn hữu Long chúng tôi mới biết ngài nghỉ hưu nơi nhà các sơ Petites Soeurs des Pauvres tại phố Breteuil, rất gần Hội Thừa Sai Ba lê. Thế là chúng tôi thường xuyên đến thăm ngài.
Thấy người Việt nam đến các sơ rất mừng, vì trí nhớ của ngài đã bắt đầu suy giảm nhưng lại rất nhớ Việt nam. Ngài luôn nói tiếng Việt mà các sơ không hiều gì. Còn ngài thì vui mừng hết sức. Tỉnh táo, vui tươi, ngài hỏi thăm rất nhiều về Việt nam. Khi cha Phạm phúc Khánh soạn xong quyển “Lược sử giáo phận Lạng sơn”, đưa cho ngài một bản, ngài say sưa đọc và nhắc rất nhiều về Lạng sơn. Dịp kỷ niệm Ngọc Khánh Linh Mục, chúng tôi rủ nhau đến đồng tế với ngài khiến ngài rất hài lòng.
Nhưng năm 1996, tại Pháp nổ ra cuộc đình công của Đảng Xã Hội làm tê liệt giao thông trong 1 tháng trời. TV đưa tin rất nhiều về những đòi hỏi cải cách tiền lương và chế độ xã hội, ngài sợ hãi như mất trí. Ngài luôn lo sợ hỏi: Có phải chính quyền sắp bị lật đổ không. Có lẽ ngài sợ lại bị trục xuất một lần nữa. Sau đó ngài chìm dần vào hôn mê cho đến khi qua đời vào ngày 02-05- 2001.
Dường như gặp khó khăn là số phận của các vị chủ chăn Lạng sơn. Đức Ông Maillet Bính đã chết mất xác ở đâu đó trong núi rừng Cao bằng. Vào năm 1947, ngài cùng với các cha Hào, Điền, Đề bị dẫn vào rừng. Tính ngài vốn nóng này, dọc đường có phản kháng nên ngài bị chết trước. Các cha còn lại bị dẫn đi xa hơn, chết sau nhưng cũng không tìm được xác.
Đức Cha Vinh sơn Dụ thì khỏi nói, bị quản chế 33 năm tại Thất khê. Khi được công nhận thì ngài đã yếu vì bệnh tật, nhưng cũng không được phép đi lại trong giáo phận. Năm 1990, trong cuộc họp Hội đồng Giám mục, ngài trình bầy hoàn cảnh với Thủ tướng Phạm văn Đồng. Ông Thủ tướng cấp cho ngài một giấy để chính quyền địa phương cho ngài đi lại. Nhưng lần lên Cao bằng đầu tiên, bị hạch hỏi, ngài trình giấy của Thủ tướng, nhân viên xét hỏi đã tịch thu giấy và từ đó ngài trở lại tình trạng như cũ. Về Lạng sơn, ngài gặp rất nhiều khó khăn vì Tòa Giám mục bị chiếm, muốn xây nhà thờ Chính tòa nhưng đất đai cũng đã bị chiếm và cuộc tranh chấp kéo dài khiến việc xây nhà thờ không tiến hành được. Ngài bị tai biến mạch máu não nhiều lần và chết cái chết đau đớn trong tâm tư còn bao ước vọng cho giáo phận chưa thực hiện được.
Còn các vị có liên hệ đến Lạng sơn cũng gặp không ít khó khăn. Đức cha Lãng chết sớm, khi chết trong tay vẫn còn cầm tờ báo Công giáo và Dân tộc với những bài chống đối việc phong thánh cho 117 anh hùng tử đạo Việt nam. Đức cha Ngữ về hưu sớm và tự giam mình vì biết rằng có muốn đi đâu cũng chẳng được đi.
Nhưng nhờ những khó khăn của các vị tiền bối chịu đựng mà giờ đây giáo phận Lạng sơn được nhiều ơn lành của Chúa. Lạng sơn đang được hưởng mùa gặt vui mừng đã được gieo trong đau thương của các bậc tiền bối. Hôm nay một chút tưởng nhớ về các ngài như nén hương lòng xin các ngài tiếp tục chuyển cầu cho Lạng sơn để Chúa, qua những gian lao các ngài đã gánh chịu, đổ tràn ơn lành xuống giáo phận truyền giáo ở địa đầu đất nước này.
(Nguon: vietcatholic)