Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Tuan IV sau le Phuc Sinh

(20g 25, 15/5/2011)
Chua Nhat IV sau Phuc Sinh
                                         Đi trước
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: "Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết chắc rằng: Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Đấng Kitô". Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: "Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?" Phêrô nói với họ: "Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em nhận lãnh ơn Thánh Thần. Vì chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em, và mọi người sống ở phương xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến". Phêrô còn minh chứng bằng nhiều lời khác nữa, và khuyên bảo họ mà rằng: "Anh em hãy tự cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này". Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng, đều chịu phép rửa, và ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo.
(Cv 2, 14a. 36-41)

Anh em thân mến, khi làm việc lành, nếu anh em phải nhẫn nhục chịu đau khổ, đó mới là ân phúc trước mặt Thiên Chúa. Anh em được gọi làm việc đó, vì Đức Kitô đã chịu đau khổ cho chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người. Người là Đấng không hề phạm tội, và nơi miệng Người không thấy điều gian trá. Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại; bị hành hạ, Người không ngăm đe; Người phó mình cho Đấng xét xử công minh; chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống cho sự công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đã được chữa lành. Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em (1 Pr 2, 20b-25)





"...Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ"(x Ga 10, 1-10)


- Mục tử là người dẫn đường chỉ lối, không phải là người chỉ tay năm ngón. Mục tử đi trước và chiên theo sau. Mục tử biết tên từng con chiên để gọi ra đi ăn.  Mục tử như vậy mới làm cho chiên được sống và sống dồi dào. Mục tử như Abraham, như Môisen chịu bao đắng cay gian khổ bạc bẽo vì đoàn chiên. Mục tử như thánh Phêrô, thánh Phaolô và 11 tông đồ. Mục tử như cha thánh Gioan Maria Vianney, và nhất là mục tử như chính Đức Jesus.
Tôi cũng là mục tử cho chính tôi. Chính tôi cũng đã được các linh mục đặt tay khi nhận lãnh phép Rửa Tội (nghi thức“đặt tay”, một dấu chỉ trọng tâm từ các bí tích. Người có chức Thánh đặt tay trên người nhận lãnh, Chúa Jesus đã đặt tay trên các tông đồ và các tông đồ lại đặt tay trên các người được chọn, cứ thế tiếp tục cho đến ngày nay và ngày mai.) Tôi cũng là mục tử cho con cái tôi, cho những người trẻ hơn tôi, và cả những người lớn tuổi hơn tôi, trong một số trường hợp.
Lạy Chúa, xin giúp các vị có chức Thánh. Lạy Chúa xin giúp chính con để con có thể chu toàn sứ vụ khó khăn của mình. Amen.
***

Bai doc them:

                 Thánh Gioan Maria Vianney-Bổn mạng các Cha Sở

Gioan Maria Vianney sinh năm 1786 thuộc Tổng Giáo Phận Lyon trong một gia đình nông dân đạo đức; lớn lên trong thời kỳ cách mạng Pháp. Sau nhiều vất vả và khó khăn trong công việc học hành tại Ðại Chủng Viện, Gioan Maria Vianney được thụ phong linh mục và được bổ nhiệm làm cha phó, và sau ba năm thăng cha sở họ Ars. Với học lực rất bình thường, Cha Gioan Maria Vianney quyết chí trở nên một vị chủ chăn tốt lành, khiêm tốn, khó nghèo đơn sơ, trung thành, thật thà... Ngài có một khả năng hy sinh lạ lùng, trước hết để làm cho giáo xứ của ngài, một họ đạo khô khan, lãnh đạm với tôn giáo, trở lại. Với đời sống nhiệm nhặt, lời cầu nguyện và hy sinh, giáo xứ của Cha đã trở nên gương mẫu. Trong 40 năm làm cha sở, họ Ars đã trở nên trung tâm thu hút các tín hữu không những từ nhiều nơi trong nước Pháp, mà cả Châu Âu và Mỹ Châu nữa. Người dân tuốn đến Ars để xin xưng tội, xin hướng dẫn, xin lời cầu nguyện. Lời giảng dạy của Cha Vianney đã làm cho nhiều người thay đổi cuộc đời bê bối; các bài giáo lý củng cố đức tin và gia tăng đời sống đạo đức. Ai cũng nhận thấy rằng: sức mạnh thu hút do bởi chứng tá đời sống nghèo khó, thống hối, đầy đức tin, đức ái và tận tụy phục vụ của vị chủ chăn này.
Cha Gioan Vianney qua đời năm 1859, thọ 73 tuổi. Năm Thánh 1925, Ðức Pio XI (1922-1939), đã tôn phong Cha lên bậc Hiển Thánh và năm 1929 đặt làm Quan Thầy các cha sở. Mục vụ của Thánh Gioan Maria Vianney, tập trung vào ba điểm chính yếu, đã được nhắc lại trong Văn Kiện mới đây của Bộ Giáo Sĩ: Lo việc rao giảng Tin Mừng (Linh Mục, Thầy Giảng Dạy Lời Chúa) - lo việc ban các Bí Tích, nguồn mạch đích thực của dời sống Kitô (Linh Mục, Thừa Tác Viên các Bí Tích) - hướng dẫn và phục vụ Cộng Ðồng giáo dân trong dấn thân sống đạo và truyền đạo (Linh Mục, Người hướng dẫn cộng đồng dân Chúa).
Trong bài đăng trên nhật báo Avvenire, ký giả Domenico Del Rio viết: Người ta nói rằng: Gioan Maria Vianney là một linh mục "dốt nát". Người ta đã tìm cách trục xuất ngài khỏi giáo xứ. Nhưng Gioan Maria Vianney là Vị Linh Mục thánh thiện và là Quan Thầy các cha sở trên cả thế giới.
Tác giả bài báo viết tiếp: Người ta nói: ngài là linh mục "dốt nát". Chúng ta hãy nghe ngài giảng về Thiên Chúa Cha: "Chúng ta không bao giờ nghĩ đến việc xin Thiên Chúa sai Con Một của Người xuống thế gian. Nhưng cái mà con người không bao giờ nghĩ đến, không quan niệm ra, và cũng không bao giờ dám ước mong, Thiên Chúa, trong Tình Yêu Thương vô biên của Người đã nói lên, đã quan niệm, đã thực hiện. Có khi nào chúng ta dám xin Thiên Chúa làm cho Con Một của Người chết trên Thánh Giá cách xỉ nhục để cứu chúng ta, dám xin ban Thịt của Con Chúa cho chúng ta ăn, Máu cho chúng ta uống chăng? Có phải người tội lỗi trở lại để xin ơn tha thứ hay chính Thiên Chúa chạy theo họ để làm cho họ trở về với Người? Thiên Chúa tốt lành như vậy, dù có biết bao xúc phạm đến Người, Người đem chúng ta về Thiên Ðàng, như thể không biết gì đến những tội lỗi của chúng ta vậy. Người như người mẹ cứu vớt và bồng bế đứa con trên tay, khi nó sắp té ngã xuống hố sâu và sau đó lưu ý luôn luôn để nó tránh khỏi nguy hiểm, trong khi đứa con tiếp tục cào cấu và cư xử tàn tệ người mẹ".
Bài giảng đơn sơ, đầy thành tín của Cha sở Ars đã gây ngạc nhiên và xúc động nơi Cha Lacordaire, nhà giảng thuyết thời danh của Nhà Thờ Notre-Dame ở Paris. Cha Gioan Maria Vianney, người bị coi là "dốt nát" đã biết trình bày vẻ xinh đẹp của Tình Yêu Thiên Chúa đối với nhân loại, nhất là với người tội lỗi. Ngài, một cha sở "nhà quê" sống giữa những người chất phác, đã biết trình bày Thiên Chúa rõ ràng và sâu sắc hơn nhiều nhà thần học thông thái, đã biết diễn tả về chính mình, linh mục của Chúa. Ngài nói: "Không gì ở trần gian này bất hạnh hơn một linh mục! Linh Mục sống như thế nào? Sống trong sự thấy Thiên Chúa bị xúc phạm, Thánh Danh Người bị chế nhạo, giới răn Người bị bỏ qua, tình yêu thương của Người bị khinh chê. Linh Mục thấy tất cả những cái này".
Và Cha Gioan Maria Vianney đã sống như thế nào cuộc đời linh mục? Một cuốn tiểu sử lược tóm như sau: "Nửa đêm thức dậy. Một giờ sáng xuống nhà thờ cầu nguyện, giải tội cho tới 6 giờ; rồi dâng thánh lễ. Bẩy giờ uống nửa li sữa. Ngay sau đó, ngồi tòa giải tội tới 11 giờ. 12 giờ, dùng bữa tại nhà xứ. Rồi cho tới lúc 20 giờ: viếng thăm các người đau yếu, đọc kinh Phụng Vụ, rồi giải tội (khoảng 6 giờ đồng hồ). Lúc 20 giờ đọc kinh chung với cộng đồng giáo xứ, sau đó dạy giáo lý hoặc giảng giải. 22 giờ tiếp khách tại nhà xứ. Mỗi đêm chỉ nghỉ từ một đến 3 tiếng đồng hồ. Làm việc mổi ngày 20 giờ, trong đó nhiều ngày dành tới 15 giờ để ngồi tòa giải tội. Ngài thực hành như vậy trong 30 năm. Trong quãng thời gian đó, người ta tính có hơn 100 ngàn người đến xưng tội và xin hướng dẫn về đàng thiêng liêng.
Tháng 10 năm 1986, trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Pháp, ÐTC Gioan Phaolô II đã tới Ars, để cùng với ba ngàn linh mục, một ngàn chủng sinh và 100 giám mục, mừng kỷ niệm 200 năm sinh nhật của Cha sở Ars (1786-1986). Giảng cho các vị tham dự, ÐTC nói về sự cao cả, sự sáng ngời của Chức Linh Mục và về những bổn phận của Chức Vụ này. Trong các bổn phận, ÐTC gợi lại cách riêng điểm này: không được yên lặng trước tính cách vô đạo và vô luân đang lan tràn tại các nhiều nước Công Giáo. Thuật lại lời Thánh Gioan Maria Vianney, cha sở Ars, Ðức Gioan Phaolô II nói: "Khốn thay cho linh mục nào yên lặng, câm điếc, khi thấy Thiên Chúa bị xúc phạm và các linh hồn lạc đường!".
Dưới lều vải lớn được dựng để đón tiếp các vị tham dự ngày tĩnh tâm, Cha sở Ars, người bị coi như "dốt nát", nhắc lại cho các linh mục: hãy ra đi và hãy can đảm khiển trách những người "xúc phạm đến Thiên Chúa", nhưng đồng thời cũng hướng dẫn họ trở về với Thiên Chúa, Ðấng luôn luôn chạy theo họ để đưa họ về với Người, cách riêng trong Năm sau cùng của việc chuẩn bị Ðại Toàn Xá, năm dâng kính và học hỏi về Chúa Cha.

Roma 04.8.99(trích) Trần đoàn Kết, Linh Mục. (nguon:www.tnttvn.com/forum...)
               __________

19g15 15/5/2011, viet cho thu Hai

        Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

Bấy giờ tôi nhớ lại lời Chúa phán: 'Gioan đã rửa bằng nước, còn các con, các con sẽ được rửa bằng Thánh Thần'. Vậy, nếu Thiên Chúa ban cho họ cũng một ơn như đã ban cho chúng ta, là những kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà có thể ngăn cản Thiên Chúa?"
Nghe những lời ấy, họ thinh lặng và ca tụng Thiên Chúa rằng: "Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho dân ngoại ơn ăn năn sám hối để được sống" (x Cv 11, 1-18)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán: "Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải là chủ chiên, và các chiên không phải là của người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà trốn. Sói sẽ bắt chiên và làm chúng tản mát. Kẻ chăn thuê chạy trốn, vì là đứa chăn thuê, và chẳng tha thiết gì đến đàn chiên. Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta. Cũng như Cha biết Ta và Ta biết Cha, và Ta thí mạng sống vì đàn chiên. Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn; chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên. Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta, là Ta thí mạng sống để rồi lấy lại. Không ai cất mạng sống khỏi Ta, nhưng tự Ta, Ta thí mạng sống. Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta".(Ga 10, 11-18)
- Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối bài hôm qua, theo đó sứ mạng của người mục tử còn khó khăn hơn nữa. Người mục tử không những phải chăn dắt dưỡng nuôi mà còn phải bảo vệ đàn chiên khỏi thú dữ tấn công. Có khi để bảo vệ chiên phải đổi bằng chính mạng sống mình, như chính Đức Jesus. Mục tử nhân lành còn phải tìm những chiên lạc, còn phải chăn dắt những chiên không thuộc đàn của mình. Mục tử nhân lành còn phải hiểu biết từng con chiên của mình và dạy bảo để chiên cũng hiểu biết mục tử mình
Lạy Chúa, xin giúp các vị có chức Thánh. Lạy Chúa xin giúp chính con để con có thể chu toàn sứ vụ khó khăn của mình. Amen

______________________________

                                          21g05 16/5/2011, viet cho thu Ba

 Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi, thì cao trọng hơn tất cả

Barnaba vốn là người tốt lành, đầy Thánh Thần và lòng tin. Và có đoàn người đông đảo tin theo Chúa. Vậy Barnaba đi Tarxê tìm Saolô. Gặp được rồi, liền đưa Saolô về Antiôkia. Cả hai ở lại tại Hội Thánh đó trọn một năm, giảng dạy cho quần chúng đông đảo; chính tại Antiôkia mà các môn đồ lần đầu tiên nhận tên là Kitô hữu (x Cv 11, 19-26 )
Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đàn chiên tôi. Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi. Tôi cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Tôi. Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Tôi. Tôi và Cha Tôi là một". (x Ga 10, 22-30 )

- Chúa Jesus quý trọng chiên của Người biết bao, Người cho rằng chiên đó là do Chúa Cha ban cho nên cao trọng hơn tất cả, do đó Người quý trọng và gìn giữ không để hư mất một con nào.
Tôi có thuộc đàn Chiên của Chúa Jesus Kitô không? Tôi có biết Chúa quý trọng tôi biết dường nào không?

                                                         ____________
                
22g35, 17/5/2011: viet  cho thu Tu
Ta đã đến không phải để xét xử thế gian, nhưng
                           là để cứu độ thế gian  
"Hãy để riêng Saolô và Barnaba cho Ta, để làm công việc mà Ta đã chỉ định". Vậy sau khi ăn chay cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và tiễn đưa hai ông lên đường.
Được Thánh Thần sai đi, hai ông xuống Xêlêucia, rồi từ đó vượt biển sang Cyprô. Khi đến Salamina, hai ông rao giảng lời Chúa trong các hội đường Do-thái. (x Cv 12, 24 - 13, 5a)
"Ai tin vào Ta thì không phải là tin vào Ta, nhưng là tin vào Đấng đã sai Ta. Và ai thấy Ta là thấy Đấng đã sai Ta. Ta là sự sáng đã đến thế gian, để bất cứ ai tin Ta, người ấy sẽ không ở trong sự tối tăm. (x Ga 12, 44-50)
 - Tôi có ước ao được Chúa chọn để thi hành những việc Người chỉ định như Banaba và Saolo?

                                                              _____________

22g15 18/5/2011, viet cho thu Nam

                         Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy,
                 và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy

Phaolô đứng lên, giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng và nói: “…. "Bởi dòng dõi Đavít, theo lời hứa, Thiên Chúa ban cho Israel Đức Giêsu làm Đấng Cứu Độ, Đấng mà Gioan đã báo trước khi người đến rao giảng phép rửa thống hối cho toàn dân Israel. Khi Gioan hoàn tất hành trình, ngài tuyên bố: 'Tôi không phải là người mà anh em lầm tưởng; nhưng đây, Người sẽ đến sau tôi mà tôi không đáng cởi dây giày dưới chân Người' ". (x Cv 13, 13-25 )
Sau khi đã rửa chân các môn đệ, Chúa Giêsu phán với các ông: "Thật, Thầy bảo thật các con: Tôi tớ không trọng hơn chủ, kẻ được sai không trọng hơn đấng đã sai mình. Nếu các con biết điều đó mà thực hành thì có phúc. Thầy không nói về tất cả các con, vì Thầy biết những kẻ Thầy đã chọn, nhưng lời Thánh Kinh sau đây phải được ứng nghiệm: Chính kẻ ăn bánh của Ta sẽ giơ gót lên đạp Ta. Thầy nói điều đó với các con ngay từ bây giờ, trước khi sự việc xảy đến, để một khi xảy đến, các con tin rằng: Thầy là ai. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai đón nhận kẻ Thầy sai, là đón nhận Thầy, và ai đón nhận Thầy là đón nhận Đấng đã sai Thầy (Ga 13, 16-20)

                                                           _______________
                     22g35, 19/5/2011. Viet cho thu Sau

           Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống



Nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba. Và trong nhiều ngày, Người đã hiện ra với những kẻ đã cùng với Người từ Galilêa lên Giêrusalem. Bây giờ những kẻ đó là những chứng nhân của Người trước mặt dân chúng.
"Phần chúng tôi, chúng tôi loan báo cho chư huynh hay rằng: lời hứa ban cho tổ phụ chúng ta, Thiên Chúa đã làm hoàn tất cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giêsu sống lại, như đã chép trong thánh vịnh thứ hai rằng: 'Con là Con Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con' ". (x Cv 13, 26-33)
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi". Ông Tôma thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?" Chúa Giêsu đáp: "Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". (Ga 14, 1-6)
- "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi".
“Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi”. Theo mạch văn của đoạn Tin Mừng này, tôi hiểu là Chúa nghĩ các môn đệ đã biết Chúa đi về trời với Chúa Cha. (Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở).
Thế nhưng khi ông Tôma mới nghe thì không hiểu Chúa sẽ đi đâu mới mau mắn hỏi:  "Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?
Chúa không trả lời thẳng vào câu hỏi của ông Tôma, nhưng Chúa đã trả lời bằng một câu thật tuyệt vời. Cám ơn thánh Tôma đã hỏi để mọi người được biết : "Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy"
Nếu tôi không biết đường, thì cứ nhìn vào Chúa cứ bước theo Chúa là sẽ đến đích. Đi theo Chúa còn tìm được sự thật. Đi theo Chúa còn tìm được sự sống. Đi theo Chúa còn đến được với Chúa Cha.
Lạy Chúa! Khi con phải phân vân giữa ngã ba đường, những rối rắm trong chọn lựa, xin Chúa hãy soi sáng nẻo đường con đi. Xin cho con luôn biết tự hỏi: gặp như Chúa, Chúa sẽ chọn cách nào-đường nào- phương án nào-giải pháp nào? Amen.

________________
                                        22g33, 20/5/2011, viet cho thu Bay

                     Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy
 Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng: "Phải giảng lời Thiên Chúa cho các ngươi trước tiên, nhưng vì các ngươi từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía các dân ngoại; vả lại Chúa đã truyền lệnh cho chúng tôi rằng: 'Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất' ". Nghe vậy, các dân ngoại hân hoan ca tụng lời Chúa; những ai được Chúa tiền định hưởng sự sống đời đời, thì tin theo, nên lời Chúa được rao giảng khắp cả vùng. (x Cv 13, 44-52)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, các con biết và đã xem thấy Người".
Philipphê thưa: "Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con". Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: "Philipphê, Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là xem thấy Cha. Sao con lại nói: Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha? Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin, vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm; người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha. Và điều gì các con nhân danh Thầy mà xin Cha, Thầy sẽ làm, để Cha được vinh hiển trong Con. Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin cùng Thầy, Thầy sẽ làm cho". (Ga 14, 7-14 )

- Hôm qua (bài Tin Mừng) ông Tôma hỏi và Chúa đã trả lời gián tiếp. Hôm nay ông Philipphê lại có một đề nghị: "Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con". Tôi nghĩ, ông Philipphê cũng giống ông Tôma và cũng giống như tôi, thường khi chỉ để ý đến một hai câu trong cả đoạn Lời Chúa.
Chúa nói 3 câu (từ câu 5 ->7), nhưng ông Philipphê chỉ để ý nhiều đến nửa cuối của câu 3. “5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? "6 Đức Giê-su đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."
Chúa đã ôn tồn giải thích cặn kẽ cho ông Philipphê và môn đệ. Thế nhưng ông Giuđa vẩn tiếp tục hỏi (gặp tôi có khi cũng thắc mắc như vậy lại không dám hỏi?): 22 Ông Giu-đa, không phải Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ mình ra cho thế gian? "23 Đức Giê-su đáp: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.24 Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.25 Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em.26 Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.

27 Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.28 Anh em đã nghe Thầy bảo: "Thầy ra đi và đến cùng anh em". Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy.29 Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin.

30 Thầy sẽ không còn nói nhiều với anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy.31 Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy. Nào đứng dậy! Ta đi khỏi đây! "


                                          ***********
  
Câu chuyện cuối tuần 1

BẢN GÓP Ý XÂY DỰNG DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH THAY THẾ

                                                  NGHỊ ĐỊNH SỐ 22/ 2005/ NĐ-CP

TÒA TỔNG GIÁM MỤC
180 Nguyễn Đình Chiểu . Q 3
Thành phố HCM
( (84.8) 3930 3828
Fax (84.8) 3930 0598
E.mail : tgmsaigon@vnn.vn


Kính Gửi: Ngài Thủ Tướng Chính Phủ
Qua Ban Tôn Giáo Chính Phủ

Chúng tôi nhận được Lời mời của Ban Tôn Giáo Chính phủ tới dự Hội thảo góp ý xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 22/2005/NĐ-CP ngày 01/03/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Về Tín ngưỡng, Tôn giáo, vào lúc 8 giờ, ngày 26/04/2011 tại Hội trường C8, Nhà khách T8, 145 Lý Chính Thắng, Phường 7, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi đến dự chúng tôi hoàn toàn bị động vì không có thời gian đủ để tìm hiểu bản dự thảo (lần 5). Theo ý kiến của mọi người dự cuộc hội thảo, chúng tôi về tìm hiểu, nghiên cứu bản Dự thảo để góp ý kiến xây dựng.

Ngày 13/05/2011 với sự hiện diện của đại diện các Giáo Phận Xuân Lộc, Phan Thiết, Đà Lạt, Phú Cường, Tp. HCM, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Cần Thơ thuộc Giáo tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự chủ toạ của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã có buổi hội thảo đóng góp ý kiến thẳng thắn và nhất quán.

Trải qua thực tế các sinh hoạt tôn giáo từ sau khi Pháp Lệnh Năm 2004 Về Tín ngưỡng, Tôn giáo và Nghị Định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp Lệnh ra đời, có những mặt tích cực nhưng cũng có nhiều bất cập thậm chí gây bất công cho các Tôn Giáo và các chức sắc trong các sinh hoạt tôn giáo thuần tuý và các nỗ lực trong việc tham gia xây dựng phát triển đời sống con người, xã hội và Đất nước. Vì thế, xin gửi đến quí vị bản ý kiến chung của Giáo tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

1. “Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (Xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI). Khẳng định này đặt con người làm mục đích và trọng tâm của mọi hoạt động, đặc biệt là trong việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống Pháp Luật trên nền tảng Pháp trị mà Đảng và Nhà Nước đang nỗ lực phát triển. Luật phải thực sự “vị nhân sinh”, mang tính tôn trọng sự sống, nhân phẩm và nhân quyền, tôn trọng sự bình đẳng giữa mọi thành phần và giai cấp xã hội, tôn trọng sự tự do làm người hữu ích cho cộng đồng xã hội, hướng đến một trật tự xã hội nhân bản hơn.

2. Từ Hiến Pháp đến Pháp Lệnh Về Tín ngưỡng, Tôn giáo đều khẳng định : “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy”. Nhưng thực tế ngay trong các điều khoản của Pháp Lệnh năm 2004 và nghị định 22/2005/NĐ-CP đã có nhiều bất cập và bất bình đẳng đối với các Tôn giáo và các chức sắc. Đó là Nhà nước công nhận sự hiện diện, tồn tại của các tôn giáo nhưng không công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo và các chức sắc. Do đó, chức sắc tôn giáo không được hưởng nhận những quyền công dân như các công dân khác và quyền đại diện cho tổ chức tôn giáo trước mặt pháp luật. Đồng thời, tổ chức tôn giáo không được hưởng quyền pháp nhân như các tổ chức xã hội hợp pháp khác theo hiến pháp và pháp luật. Vì thế, pháp luật cần phải xác định rõ ràng tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo và các chức sắc. Các tổ chức tôn giáo và chức sắc bị hạn chế; thay vì được hưởng những quyền lợi chính đáng thì phải đi xin những quyền đó như tự do tổ chức lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, đào tạo, phong chức …

3. Pháp lệnh qui định tài sản hợp pháp thuộc các cơ sở tôn giáo được pháp luật “bảo hộ”; nhưng trong thực tế không có văn bản pháp qui nào trình bày rõ ràng thế nào là bảo hộ và quyền lợi về phía tôn giáo được bảo hộ như thế nào. Từ đó dẫn tới tình trạng nhiều cơ sở và đất đai của các tôn giáo bị chiếm dụng bất công. Luật về đất đai tuy đã sửa đổi nhiều lần nhưng vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng kịp đà biến chuyển trong đời sống xã hội, đặc biệt là chưa quan tâm đến quyền tư hữu chính đáng của người dân. Vì vậy, cần phải quan tâm tới quyền tư hữu của người dân như Tuyên ngôn Quốc tế của Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền tư hữu cho riêng mình hay chung với người khác… và không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình cách độc đoán” (số 17). ( Xem Quan Điểm Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam Về Một Số Vấn Đề Trong Hoàn Cảnh Hiện Nay công bố ngày 25.09.2008). Các tổ chức tôn giáo có quyền làm chủ tài sản và đất đai, đồng thời họ cũng phải nhận trách nhiệm của mình đối với xã hội về những tài sản đó.

4. Các tôn giáo đều có lý tưởng phục vụ con người và xã hội ngày càng thăng tiến hơn. Do đó, các tổ chức tôn giáo đều có các hoạt động xã hội, đặc biệt trong lãnh vực y tế và giáo dục. Theo Pháp Lệnh và Nghị định, các Chức sắc, nhà tu hành với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật nhưng lại chỉ hạn chế trong một số lãnh vực. Trong khi đó, với đường hướng phát triển xã hội hoá ngày nay, ngay cả công dân và tổ chức nước ngoài cũng được phép mở bệnh viện, mở trường học tới cấp đại học. Do đó, chúng tôi đề nghị các tổ chức tôn giáo phải được pháp luật nhìn nhận bình đẳng với các pháp nhân khác, trong lãnh vực y tế và giáo dục.

5. Nhìn chung Dự thảo Nghị Định thay thế Nghị Định 22/2005 (lần 5) là một sự thụt lùi nặng nề so với Nghị Định 22/2005, Pháp Lệnh Về tín ngưỡng, tôn giáo và Hiến Pháp. Thực chất, những dự định thay đổi của Nghị định muốn tái lập tình trạng Xin – Cho trong các sinh hoạt tôn giáo. Cơ chế Xin – Cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân qua những thủ tục cấp phép. Như thế cơ chế Xin – Cho vừa xoá đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của mình.


Trên đây là môt số góp ý căn bản với lòng chân thành, Giới Công giáo chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng tiến bộ, thực sự vì dân, do dân, nhờ đó mà đất nước ngày càng phát triển cách bền vững. Chúng tôi hiểu rằng mọi vấn đề trong xã hội đều phải có quá trình phát triển khách quan của nó. Tinh thần thượng tôn Pháp luật cũng thế, muốn có sự phát triển cần phải can đảm thay đổi não trạng, cần phải có sự tôn trọng chân lý khách quan và thực sự thay đổi từ chính nền tảng căn bản của nền pháp trị chứ không chỉ ở các qui định hay nghị định dưới luật.

Trân trọng kính chào.

Làm Tại Toà Tổng Giám Mục TP.HCM ngày 13 tháng 05, năm 2011

Gioan Baotixita PHẠM MINH MẪN
Hồng y Tổng giám mục
Đã ký

Thư ký
Lm. Giuse M. LÊ QUỐC THĂNG
Trưởng Ban Công lý và Hoà Bình Tổng giáo phận Tp.HCM
Đã Ký
DƯỚI ĐÂY LÀ PHẦN GÓP Ý CỤ THỂ: ...   ...   ...


Câu chuyện cuối tuần 2

            Ngày cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa 24/5:


                                                              Kinh Lạy Đức Mẹ Xà Sơn

Nguyễn Thanh 5/19/2011
Thứ ba, 24/5, phụng vụ kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Đấng Phù Hộ Các Tín Hữu. Ngày này được dành để cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa. Trong bài huấn dụ trong buổi triều yết chung Thứ Tư vừa qua Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng việc cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Hoa là nghĩa vụ của tất cả các tín hữu Công Giáo trên thế giới. Ngài nói:

"Đối với tất cả các tín hữu Công Giáo trên thế giới, việc cầu nguyện cho Giáo Hội tại Trung Quốc cũng là một nghĩa vụ: các tín hữu tại Trung Quốc có quyền được chúng ta cầu nguyện, họ đang cần lời cầu nguyện của chúng ta.”
Tòa Thánh cũng đã phổ biến Kinh Lạy Đức Mẹ Xà Sơn do chính Đức Thánh Cha biên soạn.
Lạy Mẹ Chí Thánh, Mẹ của Ngôi Lời nhập thể và là Mẹ chúng con, được tôn kính tại Đền Thánh Xà Sơn dưới danh hiệu ”Đức Mẹ Phù Hộ các tín hữu”, Mẹ là Đấng mà toàn thể Giáo Hội tại Trung Quốc hướng nhìn với lòng kính mến sâu xa, hôm nay chúng con đến trước Mẹ để khẩn cầu sự bảo bọc của Mẹ. Xin Mẹ nhìn đến dân Chúa và với lòng từ mẫu hướng dẫn họ trên con đường chân lý và tình thương, để trong mọi hoàn cảnh, họ là men cuộc sống chung hòa hợp giữa mọi công dân.

Do lời ngoan ngoãn ”Xin vâng” tại Nazareth, Mẹ đã để Con vĩnh cửu của Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng trinh khiết của Mẹ và nhờ đó đưa công trình Cứu Chuộc đi vào lịch sử, và sau đó Mẹ đã cộng tác với công trình này với lòng tận tụy ân cần, chấp nhận lưỡi gươm khổ đau đâm thâu qua tâm hồn Mẹ, cho đến giờ tột đỉnh của Thánh Giá, trên đồi Can Vê, lúc Mẹ đứng cạnh Chúa Con chịu chết để loài người được sống.

Từ đó, theo một thể thức mới mẻ, Mẹ trở thành Mẹ của tất cả những người đón nhận trong đức tin Đức Giêsu Con của Mẹ và chấp nhận theo Chúa bằng cách vác Thánh Giá Chúa trên vai. Lạy Mẹ hy vọng, trong tăm tối của Ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, với niềm tin tưởng không lay chuyển, Mẹ đã tiến bước tới ban sáng ngày Phục Sinh, xin Mẹ ban cho các con cái của Mẹ, trong mọi hoàn cảnh, dù là tối tăm nhất, khả năng nhận ra những dấu chỉ sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa.

Lạy Đức Mẹ Xà Sơn, xin nâng đỡ sự dấn thân của tất cả những người tại Trung Quốc, giữa những khó khăn thường nhật, đang tiếp tục tin tưởng, hy vọng, yêu mến, để họ không bao giờ sợ nói với thế giới về Chúa Giêsu và nói với Chúa Giêsu về thế giới. Nơi pho tượng trên đỉnh Đền Thánh, Mẹ giơ cao Chúa Con, giới thiệu Ngài cho thế giới với vòng tay giang rộng như một cử chỉ yêu thương. Xin Mẹ giúp các tín hữu Công Giáo luôn luôn là những chứng nhân đáng tin về tình yêu này, xin Mẹ giữ gìn họ hiệp nhất với đá tảng là Phêrô, trên đó Giáo Hội được kiến thiết. Lạy Đức Mẹ Trung Quốc và Á Châu, xin cầu cho chúng con bây giờ và mãi mãi. Amen!


Câu chuyện cuối tuần 3

Thắp nén hương lòng cho các vị chủ chăn: Lạng Sơn
+ TGM Giuse Ngô quang Kiệt
   5/16/2011
 Trong tháng Năm Lạng sơn có nhiều lễ giỗ của các bậc tiền bối: Mồng 2 giỗ Đức Cha Jacq Mỹ, mồng 4 giỗ Đức Cha Hedde Minh, 18 giỗ bà cụ Mến, 27 giỗ Đức Ông Cothonay Chiểu và 30 giỗ cha già Quỳnh. Đặc biệt năm nay lễ giỗ 10 năm của Đức cha Jacq Mỹ và 51 năm của Đức Cha Hedde Minh, tôi thấy xúc động vì hoàn cảnh của các ngài và những kỷ niệm tôi có với các ngài.


Đức cha Hedde Minh là giám mục Đại diện Tông tòa tiên khởi của Giáo phận Đại diện Tông tòa Lạng sơn. Trước đó ngài đã là Đức Ông của Phủ doãn Tông tòa Lạng sơn, kế vị Đức Ông Cothonay Chiểu và Đức Ông Maillet Bính. Thời gian ngài coi sóc Lạng sơn là thời gian có nhiều biến động với nhiều cuộc chiến tranh: chiến tranh với Nhật, với Pháp, với Mỹ và cuộc di cư đã làm Giáo phận vốn mỏng manh lại thêm èo uột.


Sống trong cảnh bấp bênh thời chiến, ngài đã cẩn thận lựa chọn Đức Cha Phó Jacq Mỹ để phụ giúp ngài điều hành một giáo phận tuy ít người nhưng lại trải trên một địa bàn vừa rộng lớn, vừa hiểm trở và khó tiếp cận đặc biệt trong thời chiến tranh. Nhưng hoàn cảnh éo le đã khiến ngài cuối cùng phải một mình gồng gánh trách nhiệm trên đôi vai già yếu và bệnh tật.


Năm 1959, Nhà Nước ra lệnh trục xuất các Thừa sai nước ngoài. Đức Cha Jacq Mỹ đã lên đường sang Thái rồi vào miền Nam. Còn lại Đức Cha Hedde Minh già yếu bệnh tật không có thể di chuyển được, dù bị thúc ép nhưng ngài kiên quyết vùi thân nơi mảnh đất yêu dấu mà ngài đã gắn bó hơn nửa thế kỷ qua. Nhà Nước bao vây ngài rất kỹ lưỡng nên không ai được vào thăm nom chăm sóc. Nằm trên giường bệnh ngài than thở: “Je suis seul! Je suis seul”(Tôi cô đơn quá). Sức lực tàn tạ, Ngài trút hơi thở vào ngày 04-05-1960. Bị bao vây kỹ lưỡng nên các Đức Cha chung quanh không ai hay biết và đến dự đám tang của Ngài. Nghe nói Đức Cha Căn được tin đã lên đường ngay, nhưng chưa kịp đến nơi thì lễ an táng đã xong rồi.


Khi sống đã chịu nhiều khó khăn, khi chết ngài vẫn còn bị bắt bớ. Chính quyền lấy cớ ngài bị bệnh truyền nhiễm nên không cho an táng trong nghĩa địa, càng không cho an táng trong Nhà thờ Chính tòa theo thói tục của các Giáo phận. Nhưng với lòng yêu mến vị Chủ Chăn sống chết với đoàn chiên và với đức tin kiên vững, giáo dân quyết tâm an táng ngài trong nghĩa địa Cửa Nam trên đồi Tổ Sơn. Tuy lực lượng an ninh canh gác dày đặc, nhưng giáo dân Lạng sơn tuy ít ỏi mà rất kiên cường đã đàng hoàng tổ chức đám tang nghiêm trang trong tình cảm đau đớn tiếc nuối. Khi sống ngài đã luôn ở giữa giáo dân cả trong những thời khắc gian nan nhất, khi chết ngài vẫn hiện diện giữa đoàn chiên như một mục tử nhân lành sống chết với đoàn chiên theo cả nghĩa đen. Và thật là một quan phòng của Thiên Chúa, nếu ngài được an táng trong Nhà thờ Chính tòa thì có lẽ xác ngài sẽ không còn nguyên vẹn vì ngôi nhà thờ đã bị bom vào năm 1967 và sụp đổ tan tành.


Cuộc đời của Đức Cha Jacq Mỹ cũng không kém phần gian khổ. Làm giám mục phó, ngài xông xáo khắp nơi, đi lại những nơi rừng sâu núi thẳm để thăm viếng các linh mục và giáo dân trong thời chiến tranh. Có lần ngài suýt bỏ mạng trong trận Đông Khê. Đoàn xe bị mìn nhưng ơn Chúa gìn giữ xe của ngài đi qua đầu tiên thì mìn chưa kịp nổ.


Năm 1959, ngài bị trục xuất. Không trở về nước ngài vào miền Nam tiếp tục sứ mạng loan báo Tin mừng với tâm nguyện được chết tại đất nước mà ngài yêu quí rất mực này. Tại Long xuyên ngài chẳng làm việc gì quan trọng, chỉ làm tuyên úy cho bệnh viện. Ngoài những giờ kinh lễ cầu nguyện sốt sắng, ngài rảo khắp bệnh viện thăm nom các bệnh nhân. Lạ lùng, ngài nói tiếng Việt rất dở, nhưng mọi người đều hiểu ngài. Có lẽ ngài nói bằng trái tim nên ai cũng hiểu. Ngài cũng dành một chút thời giờ vào chủng viện dậy tiếng Pháp cho chủng sinh. Chẳng bao giờ người ta thấy ngài xuất hiện như một vị giám mục cân đai áo mão, suốt đời chỉ như một linh mục khiêm nhường ân cần phục vụ người nghèo.


Ước nguyện rất bình thường của ngài không được toại nguyện. Sau năm 1975, một lần nữa ngài bị trục xuất khỏi miền Nam và khỏi Việt nam, đất nước mà ngài yêu quí muốn hiến dâng cả cuộc đời và muốn được vùi thân ở đây.


Không rõ ngài làm gì khi trở về Pháp. Nghe nói ngài làm tuyên úy cho một trại tù. Năm 1993, khi tôi sang Pháp thì ngài đã về hưu. Chân ướt chân ráo đến Pháp, tôi muốn thăm ngài nhưng không biết ở đâu. May nhờ cha Alphongso Nguyễn hữu Long chúng tôi mới biết ngài nghỉ hưu nơi nhà các sơ Petites Soeurs des Pauvres tại phố Breteuil, rất gần Hội Thừa Sai Ba lê. Thế là chúng tôi thường xuyên đến thăm ngài.


Thấy người Việt nam đến các sơ rất mừng, vì trí nhớ của ngài đã bắt đầu suy giảm nhưng lại rất nhớ Việt nam. Ngài luôn nói tiếng Việt mà các sơ không hiều gì. Còn ngài thì vui mừng hết sức. Tỉnh táo, vui tươi, ngài hỏi thăm rất nhiều về Việt nam. Khi cha Phạm phúc Khánh soạn xong quyển “Lược sử giáo phận Lạng sơn”, đưa cho ngài một bản, ngài say sưa đọc và nhắc rất nhiều về Lạng sơn. Dịp kỷ niệm Ngọc Khánh Linh Mục, chúng tôi rủ nhau đến đồng tế với ngài khiến ngài rất hài lòng.


Nhưng năm 1996, tại Pháp nổ ra cuộc đình công của Đảng Xã Hội làm tê liệt giao thông trong 1 tháng trời. TV đưa tin rất nhiều về những đòi hỏi cải cách tiền lương và chế độ xã hội, ngài sợ hãi như mất trí. Ngài luôn lo sợ hỏi: Có phải chính quyền sắp bị lật đổ không. Có lẽ ngài sợ lại bị trục xuất một lần nữa. Sau đó ngài chìm dần vào hôn mê cho đến khi qua đời vào ngày 02-05- 2001.


Dường như gặp khó khăn là số phận của các vị chủ chăn Lạng sơn. Đức Ông Maillet Bính đã chết mất xác ở đâu đó trong núi rừng Cao bằng. Vào năm 1947, ngài cùng với các cha Hào, Điền, Đề bị dẫn vào rừng. Tính ngài vốn nóng này, dọc đường có phản kháng nên ngài bị chết trước. Các cha còn lại bị dẫn đi xa hơn, chết sau nhưng cũng không tìm được xác.


Đức Cha Vinh sơn Dụ thì khỏi nói, bị quản chế 33 năm tại Thất khê. Khi được công nhận thì ngài đã yếu vì bệnh tật, nhưng cũng không được phép đi lại trong giáo phận. Năm 1990, trong cuộc họp Hội đồng Giám mục, ngài trình bầy hoàn cảnh với Thủ tướng Phạm văn Đồng. Ông Thủ tướng cấp cho ngài một giấy để chính quyền địa phương cho ngài đi lại. Nhưng lần lên Cao bằng đầu tiên, bị hạch hỏi, ngài trình giấy của Thủ tướng, nhân viên xét hỏi đã tịch thu giấy và từ đó ngài trở lại tình trạng như cũ. Về Lạng sơn, ngài gặp rất nhiều khó khăn vì Tòa Giám mục bị chiếm, muốn xây nhà thờ Chính tòa nhưng đất đai cũng đã bị chiếm và cuộc tranh chấp kéo dài khiến việc xây nhà thờ không tiến hành được. Ngài bị tai biến mạch máu não nhiều lần và chết cái chết đau đớn trong tâm tư còn bao ước vọng cho giáo phận chưa thực hiện được.


Còn các vị có liên hệ đến Lạng sơn cũng gặp không ít khó khăn. Đức cha Lãng chết sớm, khi chết trong tay vẫn còn cầm tờ báo Công giáo và Dân tộc với những bài chống đối việc phong thánh cho 117 anh hùng tử đạo Việt nam. Đức cha Ngữ về hưu sớm và tự giam mình vì biết rằng có muốn đi đâu cũng chẳng được đi.


Nhưng nhờ những khó khăn của các vị tiền bối chịu đựng mà giờ đây giáo phận Lạng sơn được nhiều ơn lành của Chúa. Lạng sơn đang được hưởng mùa gặt vui mừng đã được gieo trong đau thương của các bậc tiền bối. Hôm nay một chút tưởng nhớ về các ngài như nén hương lòng xin các ngài tiếp tục chuyển cầu cho Lạng sơn để Chúa, qua những gian lao các ngài đã gánh chịu, đổ tràn ơn lành xuống giáo phận truyền giáo ở địa đầu đất nước này.

(Nguon: vietcatholic)

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

Tuần III sau Phục Sinh


Chúa Nhật III sau Phục Sinh:
                    Mắt họ sáng ra và nhận ra Người

- “Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó.” (x Cv 2, 14. 22-28)
- Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố. (x 1 Pr 1, 17-21)
- Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con những lời Thánh Kinh; xin làm cho tâm hồn chúng con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con. - Alleluia. (x. Lc 24, 32)
- Đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Đoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" (x Lc 24, 13-35)


- Tôi đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố. Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh 
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa Giêsu, xin giải thích cho chúng con những lời Thánh Kinh; xin làm cho tâm hồn chúng con sốt sắng khi nghe Chúa nói với chúng con. - Alleluia. Xin Chúa mở mắt, mở tai để chúng con thấy Chúa luôn ngự trong phép Thánh Thể, để chúng con luôn sẵn sàng đọc, nghe, hiểu và thực thi Lời Chúa. Amen
                                     ________________
17g 8/5/2011, cho thu Hai:
                            Việc của Thiên Chúa
Trong những ngày ấy, Têphanô đầy ân sủng và sức mạnh, làm nên những điều kỳ diệu và những phép lạ cả thể trong dân. Bấy giờ có nhóm người kia thuộc hội đường mệnh danh là "của những người Tự Do, người Xirênê và Alexandria", và những người khác từ xứ Cilicia và Tiểu Á, đã nổi dậy. Họ tranh luận với Têphanô, nhưng họ không thể đương đầu với sự khôn ngoan và Thánh Thần vẫn giúp cho ông nói... Toàn thể cử toạ trong công nghị chăm chú nhìn Têphanô, thấy mặt người giống như mặt thiên thần. (x Cv 6, 8-15)


Don nhan Manna
 

Chúa Giêsu đáp: "Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê. Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi. Người là Đấng mà Thiên Chúa Cha đã ghi dấu". Họ liền thưa lại rằng: "Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?" Chúa Giêsu đáp: "Đây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến". (x Ga 6, 22-29)




- “Hãy ra công làm việc không phải vì của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời”. "Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?" “Hãy tin vào Đấng Ngài sai đến"
Bài Tin Mừng hôm nay tiếp nối với bài Tin Mừng thứ Bảy tuần trước. Mọi người đã dùng bánh từ phép lạ của Chúa và hôm nay đi qua bờ kia biển hồ tìm gặp Chúa.
Những người chưa biết Chúa, chưa tin Chúa nhưng muốn được làm việc của Thiên Chúa thì trước tiên hãy tin vào Đấng được Thiên Chúa sai đến là chính Đức Giêsu Kitô, Người đang nói chuyện với họ.
Thế nhưng mọi người được nghe Chúa nói chuyện đã không tin vào Chúa, không tin vào lời Chúa: “Sẽ ban bánh bởi trời, chính Ta là bánh bởi trời, ai ăn vào sẽ được trường sinh”. Trong khi họ vẫn tin rằng cha ông họ được Thiên Chúa ban cho Man-na trong sa mạc…
Hôm nay đây, Chúa đã Phục Sinh. Tôi có vững tin Ngài là Chiên Thiên Chúa, Ngài là Bánh bởi trời- Bánh ban phúc trường sinh?
_____

Thu Ba (xem trong muc nhan xet cua blog: "Khong the viet moi va chinh sua bai cu")
_____

22g25, 10/5/2011: viet cho thu Tu:

         Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta,
                   sẽ không hề khát bao giờ

Ngày ấy, Hội Thánh ở Giêrusalem bị bách hại dữ tợn. Ngoài các tông đồ, mọi người đều phân tán đi các miền Giuđêa và Samaria. Còn những người đạo đức lo chôn cất Têphanô; họ than khóc ông rất nhiều. Lúc đó Saolô tàn phá Hội Thánh; ông vào nhà này sang nhà nọ, bắt đàn ông lẫn đàn bà và tống ngục họ.
Những người bị phân tán, đã đi khắp nơi rao giảng lời Thiên Chúa. Phần Philipphê thì đi xuống một thành thuộc xứ Samaria rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cùng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm, quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó, cả thành được vui mừng khôn tả. (Cv 8, 1-8)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán với đám đông rằng: "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ. Nhưng Ta đã bảo các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, nhưng các ngươi không chịu tin. Những ai Cha đã ban cho Ta sẽ đến với Ta. Và ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi ra ngoài. Bởi vì Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý Ta, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Ta. Vậy ý của Cha, Đấng đã sai Ta, là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết, Ta sẽ cho nó sống lại. Quả vậy, ý của Cha Ta là hễ ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời". (Ga 6, 35-40)

- Sau khi Chúa Phục Sinh và lên trời, Hội Thánh non trẻ đã bị bách hại, thánh Têphanô đã tử đạo tiên khởi, các tông đồ và mọi người đã phải phân tán đi các miền. Trong suốt nhiều thế kỷ tiếp theo và đến tận ngày nay, nhiều nơi nhiều chỗ đạo Chúa vẫn bị bách hại không ngừng. Các tông đồ ngày xưa phải phân tán thì cha ông ta cũng bị phân sáp (phân tán- sáp nhập; chia người Công Giáo thành những nhóm nhỏ đưa đến sống với lương dân để chịu sự giám sát ), giống nhau là án tử, án tù là gông xiềng khác nhau là các tông đồ tự phân tán để tránh bị bách hại còn cha ông ta bị triều đình phân sáp.

Đọc thêm về tên một ngôi làng:

Làng Tráng Liệt Bình , phủ Bình Giang, tỉnh Ðông (Hải Dương) được gọi là Kẻ Sặt, nguồn gốc do các nhà Truyền Giáo Tây Ban Nha đã muốn gọi người làng này là "Kẻ Sáp" nhưng vì phát âm sai vần thành ra Kẻ Sặt. Ðược gọi là "Kẻ Sáp" vì làng có nhiều người bị đày đi "phân sáp".  Từ đó dân làng Tráng Liệt Bình đã có một cái tên mới là Kẻ Sặt và được dùng chính thức trên các văn kiện Lịch Sử cho đến ngày nay. Năm 1695 làng Tráng Liệt trở thành một Giáo xứ toàn tòng Công Giáo với dân số khoảng 1000.
Năm 1712, Chúa Trịnh Cương cấm đạo, làng Tráng Liệt Bình đã bị đốt cháy cả làng, nhưng Thánh Ðường vừa được tu sửa là thoát nạn.
Chúa Trịnh Cương cấm đạo lần thứ hai, Tráng Liệt Bình bị bổ vây và cướp phá. Khoảng 150 giáo dân làng Tráng Liệt bị chính quyền giết và chôn tập thể tại ngôi mộ ghi chữ "Giặc Gia Tô".
Cha Ðỗ Yến, linh mục dòng Ða minh, sinh năm 1764 tại Trà Lũ, Nam Ðịnh là cha xứ Việt Nam đầu tiên tại làng Kẻ Sặt, Tử-Ðạo ngày 30-06-1838 tại Hải Dương, bi xử trảm đời vua Minh Mạng là một trong 117 vị Thánh Tử đạo tại Việt Nam...
Năm 1954 nhiều người Kẻ Sặt vào định cư tại Hố Nai, Biên Hòa. Sau 1975 một số định cư ở Bắc và Nam Cali. Tương truyền người Kẻ Sặt (Hố Nai) tuy không xinh đẹp lắm, vì hai mắt thường không cân đối, nhưng rất giỏi buôn bán làm ăn. Người có nhiều con gái thường âu lo vì khi gả con phải chia của hồi môn... (Nguon: internet)

                             _________

21g45 11/5/2011: cho thu Nam
   Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi.(Ga 3, 30)
"Ta đã ra lệnh cấm các ngươi nhân danh ấy mà giảng dạy. Thế mà các ngươi đã giảng dạy giáo lý các ngươi khắp cả Giêrusalem; các ngươi còn muốn làm cho máu người đó lại đổ trên chúng tôi ư?" Phêrô và các tông đồ trả lời rằng: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã cho Đức Giêsu sống lại, Đấng mà các ông đã giết khi treo Ngài trên thập giá. Thiên Chúa đã dùng quyền năng tôn Ngài làm thủ lãnh và làm Đấng Cứu Độ, để ban cho Israel được ăn năn sám hối và được ơn tha tội. Chúng tôi là nhân chứng các lời đó cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho mọi kẻ vâng lời Người?" (Cv 5, 27-33)

Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: "Đấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất. Đấng từ trời mà đến thì vượt trên hết mọi người. Điều gì Người thấy và nghe, thì Người làm chứng về điều đó. Nhưng lời chứng của Người không ai chấp nhận. Ai chấp nhận lời chứng của Người, thì quả quyết Thiên Chúa là Đấng chân thật. Đấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho thần linh khôn lường. Cha yêu mến Con, nên đã ban mọi sự trong tay Con. Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời. Còn ai không tin vào Con, thì sẽ không được thấy sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên người ấy". (Ga 3, 31-36)

- Thánh Gioan Baotixita đã ví mình như phụ rể của chú rể Jesus và rất vui mừng vì được nghe chú rể nói. Ngài chỉ là người làm chứng, Ngài còn khiêm nhường cho mình chỉ là người bởi đất mà ra và nói những sự thuộc về đất để làm chứng cho Chúa là đấng từ trên cao, là đấng từ trời, là đấng nói lời Thiên Chúa. Vì mọi người cứng lòng tin nên Ngài phải than lên rằng: “Nhưng lời chứng của Người không ai chấp nhận”
Tôi có sáng suốt chấp nhận lời chứng của biết bao người về một Thiên Chúa hết sức nhân từ, một Thiên Chúa vô cùng thương xót?
****
Hai bai Loi Chua tren la cua thu Nam tuan truoc (nham lan), duoi day moi dung nhung bai cua thu Nam tuan nay:
****
Đang đi dọc đường, đến nơi có nước, vị thái giám liền nói: "Này nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không?" Philipphê nói: "Nếu ông tin hết lòng thì được". Nhà quan đáp lại: "Tôi tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa". Ông ra lệnh cho dừng xe lại, Philipphê và viên thái giám, cả hai đi xuống nước, và Philipphê làm phép rửa cho ông.(x Cv 8, 26-40)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán với dân chúng rằng: "Không ai đến được với Ta, nếu Cha, là Đấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy, và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Trong sách các tiên tri có chép rằng: 'Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo'. Ai nghe lời giáo hoá của Cha, thì đến với Ta. Không một ai đã xem thấy Cha, trừ Đấng bởi Thiên Chúa mà ra, Đấng ấy đã thấy Cha. Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời. Ta là bánh ban sự sống. Cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Đây là bánh bởi trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết. Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống".(Ga 6, 44-51 )
                                                                ___________



19g53 Thu Bay 14 thang 5, 2011:
(Blogspot bi truc trac nen mat bai thu Sau minh da post ve ky niem Duc Me Fatima. Khong co thoi gian de viet lai lan nua)
                                                              ___________
                
               "chính Thầy đã chọn các con.”


Họ giới thiệu hai người: ông Giuse, tức Barsabba, biệt danh là Công chính, và ông Matthia. Đoạn họ cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa, Chúa thấu suốt tâm hồn mọi người, xin hãy tỏ ra Chúa chọn ai trong hai người này để nhận chức vụ và tước hiệu Tông đồ thay cho Giuđa, kẻ đã hư hỏng mà đi đến nơi của nó". Thế rồi họ bỏ thăm và Matthia đã trúng thăm: ông được kể vào số với mười một Tông đồ. (x Cv 1, 15-17. 20-26)
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy; cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người. Thầy nói với các con điều đó, để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn.
"Đây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền.
"Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt, để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là: các con hãy yêu mến nhau". (Ga 15, 9-17)

- Đoạn Phúc Âm hôm nay có rất nhiều câu dễ nhớ và rất đáng để suy gẫm, tôi có nhớ có thuộc được không?: “Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy. Đây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Thầy gọi các con là bạn hữu. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con.”

___________(Ket thuc mot tuan nhieu met moi vi lam viec)_____________

Cau chuyen cuoi tuan 1
Tác Giả: Võ An (danlambao)   
Thứ Bảy, 14 Tháng 5 Năm 2011 19:46

Sân bay Nội Bài và nhát búa của ông Phan Văn Khải

Võ An (danlambao) - Chiều ngày 11/05, tại sân bay Nội Bài, nắp bể nước thải bị bật, nước bẩn và cả phân người chảy tràn lan trên sân đổ máy bay, mùi hôi thối không thể chịu nổi lan tỏa khắp nơi, tất cả như đã phơi bày những điều xấu xa những tưởng được chôn kín từ lâu tại công trình đầy tai tiếng này.
Ngày 27/08/2004, tại lễ khởi công  sây dựng nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất, TT Phan Văn Khải trong bài phát biểu (không cầm giấy) của mình đã vừa gay gắt vừa chua chát mà rằng:
 Công trình này phải tránh được những khuyết điểm trong xây dựng sân bay Nội Bài. Có quá nhiều sai lầm lớn tại đây như: thiết bị mua về không sử dụng được, dự toán tăng 150%, dột nát, ngập nước, mất điện… mà không một người nào bị kỷ luật. Bây giờ nhìn lại tôi chỉ muốn đâp nó đi nhưng mà xin lỗi, muốn đập cũng phải có tiền để đập.
 Cô phiên dịch (là người của Cục Hàng Không Dân Dụng, tôi nhớ như vậy) ngay lập tức cho mình cái quyền kiểm duyệt bài nói của Thủ Tướng, không dịch đoạn trên mà không một chút lúng túng. Cô còn trẻ nhưng cô đã rất hiểu “luật chơi” của…: rủi ro do kiểm duyệt TT không lớn bằng rủi ro “phát tán” thông tin có hại....
 Nhưng tôi lại cho rằng cô này (cũng như rất nhiều người khác) đã đã trở thành cái máy của … từng cử chỉ, lời nói và hành động cho dù chính cô (và nhiều người khác) rất hiểu việc làm của mình là rất… hèn!
Ngồi cách Ông TT không xa, Tôi cũng cay đắng không kém ông với những thông tin tôi biết được trong các công trình của Bộ GTVT trong cuộc đời xây dựng 25 năm có lẻ…
 Du khách và người dân chỉ thấy những khuyết điểm của sân bay Nội Bài qua những phơi bày ngay trước mắt như dột nát, phân, mùi xú uế, cách hành xử thiếu văn hóa của nhân viên sân bay… nhưng những người trong cuộc và người có nghề sẽ phải đặt câu hỏi rằng:
- Tại sao dự toán tăng 150% và chất lượng công trình như… phân lại được cho qua một cách dễ dàng vậy?
Xin thưa, phía sau những người thực hiện là cả một thế lực tầm cỡ trên cả Phan Văn Khải và đó chính là một thế giới ngầm và nổi đang khuynh đảo chính trường, kinh tế và sự tồn vong sự nghiệp chính trị của nhiều người.
- Tại sao Ông Khải không kỷ luật được ai?
Ông đã than thở rằng không ai bị kỷ luật tức là Ông không kỷ luật được thuộc cấp của Ông. Công khai điều này Ông đã gián tiếp cho thấy Ông bất lực (và cả bất tài) đứng ngoài những việc đen tối này, …
- Có phải Ông Khải muốn đập nát sân bay Nội Bài? (...   ...)


Cau chuyen cuoi tuan 2
Tác Giả: Nguyễn Thanh   
Thứ Sáu, 13 Tháng 5 Năm 2011 06:43
Đức Hồng Y Ivan Dias và nỗi buồn Trung Hoa
Đức Hồng Y Ivan Dias, người vừa từ giã cương vị Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo, sinh ngày 14/4 năm 1936 trong một gia đình Công Giáo rất ngoan đạo. Ngài thường được báo chí mô tả như một người nhiệt thành và khẳng khái bảo vệ Giáo Hội. Tiêu biểu là ngài đã mạnh mẽ bênh vực tuyên ngôn “Dominus Iesus" giữa những tranh cãi và lo lắng cho những nỗ lực liên tôn và đại kết nổi lên từ những nhà thần học Á Châu, đặc biệt tại Ấn Độ. Ngài cũng được mô tả như một người nhiệt thành cổ vũ cho đối thoại. Tháng 12 năm 2001, giữa làn sóng tấn kích dữ dội nhắm vào người Công Giáo tại Ấn trong một thế giới còn hoang mang và ngơ ngác sau vụ khủng bố ngày 11/9 tại Hoa Kỳ, ngài đã có sáng kiến mở rộng cửa nhà mình đón đại diện của các tôn giáo tại Ấn để đối thoại hầu mở ra con đường chung sống trong hòa bình và trong sự hiểu biết lẫn nhau.Thế nhưng, đáng tiếc là sau 5 năm trong cương vị Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo, người ta thi nhau tiên đoán và chờ mong sự ra đi của ngài. Đặc biệt là sau cái tát của Bắc Kinh trong vụ truyền chức trái phép tại Thường Đức và Đại Hội Công Giáo Toàn Quốc diễn ra tháng Mười Một và Mười Hai năm ngoái.
“Ba năm sau khi Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI gởi lá thư của ngài cho anh chị em tín hữu Công Giáo tại Trung Hoa để kêu gọi họ hiệp nhất với nhau, Giáo Hội tại Trung Hoa chia rẽ hơn bao giờ hết.” [1] Đó là nhận định đầy chua chát của cha Bernado Cervellera, người đã từng lãnh đạo thông tấn xã Fides trong 5 năm và đã từng giảng dạy tại Hoa Lục trong 2 năm.
Đức Hồng Y Ivan Dias, một nhà ngoại giao với 38 năm kinh nghiệm, đã phải ra đi với nỗi buồn Trung Hoa. Nhưng chuyện vẫn chưa hết, các nhà quan sát tiên đoán…
Những hiểm nguy đang rình chờ
Không đầy 48 tiếng sau khi Đức Tổng Giám Mục Fernando Filoni nhậm chức Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo, ngày 12/5/2011, giám mục “phản thùng” Phòng Hưng Diệu (Fang Xinyao -
房興耀) của giáo phận Lâm Nghi (Linyi - 臨沂), chủ tịch Hội Công Giáo Yêu Nước “nắn gân” vị tân Tổng Trưởng bằng cách tổ chức “bầu giám mục” tại Sán Đầu (Shantou -汕頭). 15 linh mục, 5 nữ tu, 2 chủng sinh và 50 giáo dân đã bỏ phiếu bầu linh mục Giuse Huỳnh Bỉnh Chương (Huang Bingzhang - 黃秉章) làm giám mục Sán Đầu mặc dù Tòa Thánh đã bổ nhiệm Đức Cha Trang Kiện Kiện (Zhuang Jianjian - 莊健健) làm Giám Mục giáo phận này từ năm 2006.
Giám mục Phòng Hưng Diệu, năm nay 57 tuổi, là giám mục được tấn phong với sự phê chuẩn của Đức Giáo Hoàng vào tháng 7 năm 1997 ở tuổi 43. Trong Đại Hội Công Giáo Toàn Quốc lần thứ 8 từ 7 đến 9/12/2010, ông Diệu đã hô hào thiết lập ngay một Giáo Hội tự trị tại Trung quốc độc lập hoàn toàn với Vatican.

Hôm 11/4, trả lời phỏng vấn tờ Daily News, nhật báo Anh ngữ của đảng cộng sản Trung quốc, ông Diệu cho biết hiện nay trong số 97 giáo phận tại Hoa Lục, 44 giáo phận đang trống tòa (không có giám mục công khai – nhưng đa số trong các giáo phận ông Diệu nói đến đã có các Giám Mục Hầm Trú). Trong một cử chỉ ngang nhiên thách thức Tòa Thánh, ông nói: “Việc bầu các Giám Mục và tấn phong Giám Mục cho họ là những ưu tiên tối cần. Chúng tôi khích lệ 44 giáo phận tự bầu ra các nhà lãnh đạo tinh thần của họ nếu có thể được”[3].
Lưu Bách Niên phụ họa thêm, cho biết là trong tay ông ta đã có ít nhất là 15 linh mục là ứng viên Giám Mục cho các giáo phận hiện nay đang trống tòa.
Con số Giám Mục mà …Trung quốc dự định tấn phong có thể còn nhiều hơn là 44 nữa. Thật vậy, trong các cuộc đàm phán giữa Vatican với Hoa Lục trong 2 năm qua, Trung quốc luôn đề ra vấn đề phân chia lại lãnh thổ của các giáo phận cho phù hợp với địa giới hành chính của Trung quốc hiện nay. Dụng ý của Trung quốc trong trò "xóa bàn làm lại" này một mặt là xoá bỏ các giáo phận có các Giám Mục hầm trú coi sóc, mặt khác là giành quyền bổ nhiệm các Giám Mục công khai, và qua đó tạo một áp lực rất lớn trên các Giám Mục Trung quốc. Những vị nào "lừng khừng" không nhiệt thành bày tỏ lòng trung thành … thì “mất ghế”.
Tưởng cũng nên biết là hầu hết các Giám Mục tại Hoa Lục dù được tấn phong trái phép vẫn mưu tìm sự hiệp thông với Vatican. Trong đa số các trường hợp, các ngài được sự chấp thuận của Tòa Thánh. Ngược lại, các ngài cũng bày tỏ công khai sự hiệp thông với Đức Thánh Cha. Trung quốc không muốn thấy một tình hình như thế nhưng muốn tất cả các Giám Mục phải vâng phục tuyệt đối sự lãnh đạo của ..., chứ không phải là Rôma.
Trên thế giới có lẽ Trung Hoa là nước có các Giám Mục trẻ tuổi nhất. Đức Giám Mục Giuse Đồng Trường Bình (Tong Changping -
同長平) của giáo phận Vị Nam (Weinan - 渭南) được tấn phong lúc 34 tuổi, Đức Cha Giuse Hàn Chí Hải (Han Zhihai, 韓志海) của giáo phận Lan Châu (Lanzhou - 蘭州) lúc 35 tuổi, Đức Giám Mục Phêrô Phong Tân Mão (Feng Xinmao- 封新卯) của giáo phận Hành Thuỷ (Hengshui - 衡水) lúc 39 tuổi. Các Giám Mục Phaolô Mã Tồn Quốc (Ma Cunguo - 馬存國) của giáo phận Sóc Châu (Shuozhou - 朔州), Trương Hiến Vượng (Zhang Xianwang - 張獻旺) của Tế Nam, (Jinan - 濟南), Tô Vĩnh Đại (Su Yongda - 蘇永大) của Trạm Giang (Zhanjiang - 湛江) đều ở lứa tuổi 30. Tất cả các Giám Mục nêu trên đều hiệp thông với Tòa Thánh.
Nhận thấy các Giám Mục trẻ tại Trung quốc sẽ có một ảnh hưởng rất lâu dài trong đời sống của Giáo Hội tại quốc gia này, …
Giáo Hội Hầm Trú tại Trung quốc
Sau khi chiếm được toàn bộ Hoa Lục năm 1949, CT Mao thi hành ngay một chính sách thanh lọc giai cấp. Khỏi nói dài dòng chúng ta cũng dư biết người Công Giáo chịu đau khổ đến mức nào. Năm 1957, CT Mao cho ra đời Hội Công Giáo Yêu Nước. Một năm sau đó, Mao buộc một Giám Mục truyền chức trái phép cho 2 linh mục. Đa số các linh mục rút lui vào tình trạng hầm trú. Những linh mục còn làm việc mục vụ bị buộc phải gia nhập Hội, và phải treo hình Mao ngay trên gian cung thánh trong các nhà thờ do họ coi sóc. Đổi lại, họ được nhà nước cấp tem phiếu thực phẩm và các nhu yếu phẩm. Dân chúng gọi họ là các “linh mục quốc doanh” để phân biệt với các linh mục thầm lặng sống lẩn lút trong dân. Với sự khích lệ (hay cưỡng bách của nhà nước), một số rất đông các linh mục quốc doanh lập gia đình.
Từ đó hình thành Giáo Hội Thầm Lặng và Giáo Hội Quốc Doanh.
Trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hoá (10/1966-10/1976), bọn Hồng Vệ Binh cũng không tha cho các giám mục và linh mục quốc doanh. Các vị bị bắt đi cải tạo, nhà thờ bị tịch thu. Giáo Hội Quốc Doanh hoàn toàn tan rã, chỉ còn Giáo Hội Thầm Lặng tiếp tục được Thánh Thần Chúa chở che dìu dắt qua bao gian nan và bách hại.
Cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình thực hiện những cải cách sâu rộng trong xã hội. Các nhà thờ được trả lại dần, hàng giáo sĩ được trả tự do. Các linh mục quốc doanh sau khi ra tù hầu hết trở lại nhiệm sở cũ của họ. Một số linh mục hầm trú cũng hợp tác với các linh mục quốc doanh trong việc coi sóc mục vụ cho các giáo xứ vừa được mở lại. Tuy nhiên, hầu hết các linh mục hầm trú với đầy những kinh nghiệm đau thương đã cảnh giác không tham gia vào các giáo xứ này. Các ngài tiếp tục tình trạng hầm trú như trước đó.
Danh từ Giáo Hội Công Khai được bắt đầu nói đến như một tương phản với Giáo Hội Thầm Lặng.
Nhân đây, cũng xin nói thêm một ít về Giáo Hội Thầm Lặng hay đôi khi còn được gọi là Giáo Hội Hầm Trú.
Từ “hầm trú” chỉ có nghĩa bóng. Có người hỏi chúng tôi, “Khi các linh mục và anh chị em giáo dân cử hành thánh lễ có phải họ đi xuống các hầm để trốn tránh công an không?”
Thưa, họ không "đi xuống" nhưng mà “đi lên”. Thông thường, các vị cử hành thánh lễ ở các tầng rất cao của các chung cư. Tại sao vậy? Để khi công an ruồng bắt thì ở dưới ta gõ kẻng, la hét hay hiện đại hơn là gọi mobile lên cho ở trên chúng ta từ từ giải tán trong trật tự, ai về nhà nấy.
Trừ khu vực Hà Bắc, trong nhiều vùng khác ở Hoa Lục, có thể xảy ra trường hợp là không có nhà thờ nào do các linh mục công khai, tức là có đăng ký với nhà nước, phụ trách mà chỉ có các nhà thờ do các linh mục hầm trú chăm sóc. Các nhà thờ “hầm trú” này hoạt động gần như công khai. Có thể nhiều quan chức địa phương chẳng thấy có lợi gì khi bắt bớ các linh mục và giáo dân. Cũng có thể Thánh Thần Chúa hoạt động trong họ, soi rọi chút lương tâm còn sót lại trong lòng người, để họ lờ đi cho các cộng đoàn dân Chúa được yên ổn.
Trong báo cáo của sơ Betty Ann Maheu, MM đăng trên Web site của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, nữ tu này cho biết nhiều quan chức cộng sản tại địa phương mến mộ sự hy sinh và lòng bác ái của các nữ tu đối với những người nghèo, những người già cả, neo đơn và các trẻ em mồ côi nên bớt khó khăn với Giáo Hội[4].
Nhiều tác giả nghiên cứu về Trung Hoa cho rằng các khái niệm “Giáo Hội Thầm Lặng” và “Giáo Hội Công Khai” thay đổi theo thời gian và theo từng địa phương. Nhiều người nghiêng về ý kiến cho rằng chỉ có một Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Lục. Khác biệt là có các Giám Mục, linh mục và giáo xứ có đăng ký với nhà nước và có các Giám Mục, linh mục và giáo xứ không đăng ký với nhà nước.
Sơ Betty nói rằng khó lòng mà phân biệt được đâu là “công khai”, đâu là “thầm lặng”. Chị kể câu chuyện của một Giám Mục Thầm Lặng nhưng ngài lại là một linh mục công khai để có thể tiếp cận với dân chúng và cử hành các phép bí tích cho họ cách dễ dàng.
Khi được mời sang Đức, ngài đã tìm mọi cách để sang được Rôma và chụp hình chung với Đức Giáo Hoàng. Ngài in ra thành một tấm chân dung rất lớn, và tỏ ra quý tấm hình cách đặc biệt. Khi về lại Trung Hoa, những người trong tổ chức Trợ Giúp Các Giáo Hội Đau Khổ đã khuyên ngài không nên mang tấm hình đó về. Nhưng ngài nhất định mang về và treo ngay trong phòng làm việc.
Ngày nọ, một đám công an hùng hổ xông đến nắm cổ ngài hỏi “Ai cho mày làm Giám Mục?” Để che dấu vị Giám Mục Thầm Lặng đã tấn phong cho ngài, ngài chỉ lên tấm hình: “Đức Thánh Cha phong cho tôi chứ còn ai?” Lúc đó người ta mới biết tại sao ngài trân quý tấm hình như thế: Ngài đã tiên đoán trước được có ngày công an sẽ đến “hỏi tội” ngài.

Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Giáo Hội tại Hoa Lục
Năm 1979, Đức Cha Phêrô Giuse Phạm Học Yêm (Fan Xueyan -
范學淹) của giáo phận Bảo Định được trả tự do. Ngài bí mật viết thư cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về tình trạng tại Hoa Lục và xin Tòa Thánh phê chuẩn việc tấn phong một số Giám Mục vì lúc đó toàn Hoa Lục chỉ còn 33 Giám Mục sống sót và đa số đã quá già yếu.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lập tức phê chuẩn đồng thời lại ban cho Giáo Hội thầm lặng tại Hoa Lục nhiều đặc ân trong đó có viết rút ngắn thời gian đào tạo các linh mục.
Vì viết thư cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Đức Cha Phêrô Giuse bị bắt vào năm 1982 và bị kết tội “âm mưu với các thế lực thù địch gây nguy hại cho chủ quyền đất nước và an ninh của tổ quốc”. Năm 1987, ngài được tạm tha đến tháng 11/1990 thì bị bắt lại và bị … chết trong tù vào chiều ngày 13/04/1992. Sáng ngày 16/4/1992, công an… xác ngài trước cửa nhà một thân nhân.
Những ưu ái của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và lời cầu nguyện hàng ngày của ngài cho Giáo Hội tại Trung Hoa đã góp phần làm cho hàng Giáo Phẩm Thầm Lặng tại nước này phát triển nhanh chóng bất chấp những bách hại dã man... Cho đến năm 1989, Giáo Hội thầm lặng tại Hoa Lục đã có 50 Giám Mục.
Tháng 11/1989, các Giám Mục Hầm Trú quyết định thành lập riêng một Hội Đồng Giám Mục trong bối cảnh của sự sụp đổ lần lượt của các chế độ cộng sản tại Ba Lan, Hung Gia Lợi, Đông Đức, Bảo Gia Lợi, Tiệp Khắc và Rumani và cả biến cố Thiên An Môn vào tháng 6 năm ấy.
Trung quốc xem việc thành lập Hội Đồng Giám Mục Thầm Lặng là một hành vi khiêu khích của Tòa Thánh và lập tức tiến hành một cuộc chiến dịch bách hại khổng lồ nhắm vào các Giám Mục và linh mục hầm trú.
Dù bị bách hại dữ dội, Giáo Hội lại trở nên có sức thu hút đặc biệt nơi những người trẻ, các nhà trí thức và những người đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền. Họ tìm thấy nơi đức tin Công Giáo những giá trị cao thượng mà họ khát khao. Dân số Công Giáo không ngừng tăng lên mặc dù truyền thông nhà nước và cả các giám mục đã bị thúc đẩy để thi đua đưa ra những lời phỉ báng nhắm vào Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Trong cuộc diễn binh khổng lồ “mừng quốc khánh đầu thiên niên kỷ” tại quảng trường Thiên An Môn hôm 1/10/2000, thay mặt cho 120 đại biểu Công Giáo, giám mục quốc doanh Phó Thiết Sơn đã “cực lực lên án” Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người được ... Trung quốc xem là “kẻ thù nguy hiểm nhất vì đã làm sụp đổ các chế độ XH tại Đông Âu”, lại còn mang thêm một “tội trầm trọng” nữa là đã dám cho phép mở án phong thánh cho 120 vị tử đạo Trung Hoa, mà lại còn dám tổ chức Lễ Phong Thánh ấy vào đúng ngày quốc khánh của Trung quốc. Ông ta nói:
“Việc chọn ngày hôm nay để phong thánh cho những kẻ gọi là ‘thánh’ là một xúc phạm và sỉ nhục công khai chống lại người Công Giáo Trung Hoa. Đây là một hành vi khiêu khích không thể tha thứ được vì hôm nay là ngày lễ trọng đại đánh dấu sự giải phóng nước Trung Hoa khỏi tư bản, thực dân xâm lược, và bóc lột”  [5].
“Chúng tôi hiện diện nơi đây với một mục đích đặc biệt là mừng sự lớn mạnh của Giáo Hội Công Giáo Trung Hoa trong 5 thập niên qua, là những năm tháng thoát khỏi sự kiểm soát và can thiệp của các thế lực nước ngoài.” Cụm từ “sự kiểm soát và can thiệp của các thế lực nước ngoài” là “thành ngữ” thường được Phó Thiết Sơn dùng để ám chỉ Tòa Thánh.
Năm năm sau đó, giám mục quốc doanh Phó Thiết Sơn và đảng cộng sản Trung quốc thấy được nhãn tiền lòng căm thù vị Giáo Hoàng Ba Lan mà họ muốn cấy vào trong lòng người Công Giáo đi đến đâu.
Ngày 7/4/2005, phóng viên Jim Yardley của tờ Newyork Times tường trình như sau: “người Công Giáo cả thầm lặng lẫn công khai hiệp nhất với nhau than khóc Đức Gioan Phaolô II” [6].
“Với bức chân dung thật to của Đức Cố Giáo Hoàng được kính cẩn treo trên một bàn thờ dã chiến, một linh mục Trung Hoa, cha Giuse, đứng trước hàng trăm nông dân trên một mảnh đất đầy bụi bặm cử hành thánh lễ cầu hồn cho vị Giáo Hoàng. Khi cha dâng bánh và rượu, đám đông quỳ xuống nhưng những người canh chừng cho thánh lễ ‘chui’ vẫn đứng dáo dác nhìn tứ phiá, sẵn sàng báo động khi có công an ruồng bắt. Sau lễ, đoàn lũ dân chúng xếp hàng trong trật tự hôn kính chân dung vị Giáo Hoàng trước khi giải tán”.
“Đấy là cảnh ở Hà Bắc. Nhưng mà, ngay cả ở Bắc Kinh, nơi các giáo đường do nhà nước kiểm soát, các thánh lễ liên tục được tổ chức và dòng người đến cầu nguyện cho vị Giáo Hoàng này kéo dài suốt ngày không dứt”.

Đối thoại – Đối đầu
Tháng 5/2005, Bắc Kinh tuyên bố rằng cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, người bị chúng coi là “có tội” làm sụp đổ các chế độ ... trên thế giới, đã mở ra một trang mới trong quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Vatican.
Trong các cuộc thảo luận không chính thức giữa Vatican và tòa đại sứ Trung quốc tại Rôma, Bắc Kinh đồng ý cho 4 vị Giám Mục được tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục về Thánh Thể (10/2005) và cho các nữ tu của Mẹ Têrêsa được mở một nhà cho người nghèo và người già tại Hoa Lục.
Năm 2006, một viên chức cao cấp của Trung quốc lại hứa thêm với phái đoàn Tòa Thánh là sẽ cấm Hội Công Giáo Yêu Nước không được truyền chức Giám Mục trái phép nữa.
...toàn hứa…, nhưng chúng ta có lẽ đã quá chân thành trong quá trình "đối thoại" với Trung quốc. Trong hơn 3 năm qua, để đáp ứng những yêu cầu của ... Trung quốc, không một linh mục thầm lặng nào được thụ phong Giám Mục [7]. Trái lại, các chuyên viên của Bộ Truyền Giáo lại còn chân thành đến mức kêu gọi “xoá sổ” luôn Giáo Hội Thầm Lặng tại Trung Hoa để bày tỏ thiện chí đối thoại “hết ga” của mình.

Linh mục Jeroom Heyndrickx, cố vấn của Bộ Truyền Giáo, viết trên UCANews “Giáo Hội mà sống hầm trú thì không phải là tình trạng bình thường. Giờ đây, không có lý do gì để tồn tại Giáo Hội Thầm Lặng tại Trung Hoa. Đức Thánh Cha, do đó, bãi bỏ tất cả mọi quyền lợi đã được ban cho cộng đoàn hầm trú trong quá khứ. Các tín hữu Trung Hoa có thể tham dự phụng vụ Thánh Thể do các linh mục thuộc cộng đoàn công khai cử hành”[8].
Đức Hồng Y Ivan Dias ra đi mang theo nỗi buồn Trung Hoa. Người Công Giáo Trung Hoa ở lại tiếp tục gánh lấy những đau thương. Có lẽ cần phải suy gẫm sâu xa những lời của Đức Hồng Y Trần Nhật Quân:
“Đối thoại và thoả hiệp là cần thiết, nhưng phải có căn bản. Chúng ta không thể từ bỏ các nguyên tắc của đức tin chúng ta, và kỷ luật cơ bản của Giáo Hội chúng ta, hầu làm vui lòng nhà cầm quyền Bắc Kinh.
Giữa Giáo Hội tại Trung Hoa và nhà cầm quyền nước này chẳng có đối thoại gì hết. Người ta sẵn sàng đóng sầm cánh cửa lại thẳng ngay vào mặt của người đối thoại quá-đỗi-hiền lành của họ và chỉ quyết tâm đẩy đối phương vào vũng lầy của sự khuất phục.”

Những lời cảnh cáo của Đức Giáo Hoàng Piô XI, dù đã được nói ra từ năm 1937, thiết tưởng vẫn còn nguyên tính thời sự:
“Chúng tôi có bổn phận phải báo cho anh em biết đề phòng những mưu mô và mánh khoé xảo quyệt … dùng để lường gạt dân chúng, những mánh khoé trơ tráo đến nỗi chỉ có … mới dám dùng để đạt tới đích”. [9]
****
(Nguon: saigonecho)

Chu thich:
Khi copy lai, toi (LeTan), co bo di mot vai chu cho phu hop, tuy nhien viec copy van co the co nhung sai sot ngoai y muon.