Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Tuần sau Chúa nhật IV Mùa Chay

Chúa nhật IV Mùa Chay:

"...Nhưng giờ đây các ông nói rằng: 'Chúng tôi thấy',
nên tội các ông vẫn còn!"


1 Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: "Ngươi còn khóc thương Sa-un cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Ít-ra-en nữa? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua." 2 Ông Sa-mu-en thưa: "Con đi thế nào được? Vua Sa-un mà nghe biết thì vua sẽ giết con! " Ðức Chúa phán: "Ngươi hãy đem theo một con bò cái tơ và hãy nói: "Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên Ðức Chúa. 3 Ngươi sẽ mời Gie-sê đến dự hy lễ; phần Ta, Ta sẽ cho ngươi biết điều ngươi phải làm, và ngươi sẽ xức dầu tấn phong cho Ta kẻ Ta sẽ nói cho ngươi hay."
4 Ông Sa-mu-en làm điều Ðức Chúa đã phán; ông đến Bê-lem và các kỳ mục trong thành run sợ ra đón ông. Họ nói: "Ông đến có phải là để đem bình an không?" 5 Ông trả lời: "Bình an! Tôi tới đây là để dâng hy lễ lên Ðức Chúa. Các ông hãy thanh tẩy mình và đến dự hy lễ với tôi." Ông thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ.

6 Khi họ đến, ông thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: "Ðúng rồi! Người Ðức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Ðức Chúa đây!" 7 Nhưng Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: "Ðừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Ðức Chúa thì thấy tận đáy lòng." 8 Ông Gie-sê gọi A-vi-na-đáp và cho cậu đi qua trước mặt Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, Ðức Chúa cũng không chọn." 9 Ông Gie-sê cho Sa-ma đi qua, nhưng ông Sa-mu-en nói: "Cả người này, Ðức Chúa cũng không chọn." 10 Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: "Ðức Chúa không chọn những người này." 11 Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê: "Các con ông có mặt đầy đủ chưa?" Ông Gie-sê trả lời: "Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên." Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: "Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây." 12 Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: "Ðứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi! Chính nó đó!" 13 Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Ðức Chúa nhập vào Ða-vít từ ngày đó trở đi. Ông Sa-mu-en đứng dậy và đi Ra-ma.(1 Sm 16, 1b.6-7.10-13a)

(8) Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; (9) mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. (10) Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. (11) Ðừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. (12) Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. (13) Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra, (14) mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng:
Tỉnh giấc đi hỡi người con đang ngủ!
Từ chốn tử vong, chỗi dậy đi nào! 
Ðức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi! (Ep 5, 8-14)

(1) Ði ngang qua, Ðức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. (2) Các môn đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?" (3) Ðức Giêsu trả lời: "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.

(4) Chúng ta phải làm

những việc của Ðấng đã sai Thầy,

khi trời còn sáng;

đêm đến, không ai có thể làm việc được.

(5) Bao lâu Thầy còn ở thế gian,

Thầy là ánh sáng thế gian".

(6) Nói xong, Ðức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, (7) rồi bảo anh ta: "Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa (Silôác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

(8) Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?" (9) Có người nói: "Chính hắn đó!" Kẻ khác lại nói rằng: "Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!" Còn anh ta thì quả quyết: "Chính tôi đây!" (10) Người ta liền hỏi anh: "Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?" (11) Anh ta trả lời: "Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: 'Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa'. Tôi đã đi, và sau khi rửa tôi nhìn thấy được". (12) Họ lại hỏi anh: "Ông ấy đâu?" Anh ta đáp: "Tôi không biết".

(13) Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pharisêu. (14) Nhưng ngày Ðức Giêsu trộn chút bùn và làm mắt anh mở ra lại là ngày sabát. (15) Vậy, các người Pharisêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy". (16) Trong nhóm Pharisêu, người thì nói: "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát"; kẻ thì bảo: "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?" Thế là họ đâm ra chia rẽ. (17) Họ lại hỏi người mù: "Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Người là một vị ngôn sứ!"

(18) Người Dothái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. (19) Họ hỏi: "Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?" (20) Cha mẹ anh đáp: "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. (21) Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã lớn khôn rồi, tự nó nói về mình được." (22) Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Dothái. Thật vậy, người Dothái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô. (23) Vì thế, cha mẹ anh mới nói: "Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó".

(24) Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi". (25) Anh ta đáp: "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: Trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!" (26) Họ mới nói với anh: "Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?" (27) Anh trả lời: "Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?" (28) Họ liền mắng nhiếc anh: "Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Môsê. (29) Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê; nhưng chúng ta không biết ông ấy ở đâu mà đến". (30) Anh đáp: "Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt cho tôi! (31) Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. (32) Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. (33) Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì". (34) Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" Rồi họ trục xuất anh.

(35) Ðức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh, và khi gặp lại anh, Người hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" (36) Anh đáp: "Thưa Ngài, Ðấng ấy là ai để tôi tin?" (37) Ðức Giêsu trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây". (38) Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin". Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.

(39) Ðức Giêsu nói:

"Tôi đến thế gian này

chính là để xét xử:

cho người không xem thấy được thấy,

và kẻ xem thấy lại nên đui mù!"

(40) Những người Pharisêu đang đứng ở đó với Ðức Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?" (41) Ðức Giêsu bảo họ:

"Nếu các ông đui mù,

thì các ông đã chẳng có tội.

Nhưng giờ đây các ông nói rằng: 'Chúng tôi thấy',

nên tội các ông vẫn còn!" (Ga 9, 1-41)


- Những người láng giềng và những người quen biết anh mù bẩm sinh rất ngỡ ngàng khi thấy anh ta nhìn được và không muốn tin điều họ đã thấy. Họ dẫn anh mù, nay đã nhìn thấy được, đến với những người Phari-sêu. Những người Phari-sêu đã chia rẽ nhau, bên thì cho rằng người của Thiên Chúa không thể chữa bệnh ngày Sa-bát, bên thì bán tín bán nghi rằng nếu là người phàm thì tại sao lại làm được phép lạ ấy. Những người Do Thái thì không tin anh mù được sáng mắt, dù rành rành trước mắt, nên đã cật vấn cha mẹ của anh mù và trước khi sự việc xảy ra họ đã cố không tin Đức Jesus là Đấng được Xức Dầu. Anh mù đã làm chứng, đã giải thích rõ ràng rằng phép lạ đã xảy ra cho anh là nhờ ở người của Thiên Chúa, nhưng mọi người vẫn cố chấp phủ nhận điều minh nhiên đó...
Bây giờ đọc lại trình thuật này, có thể tôi cũng trách những người quen biết anh mù, trách những người Phari-sêu, trách những người Do Thái là cứng lòng, là chai lì, là đầy thành kiến. Nhưng nghĩ kỹ lại thì hình bóng và tâm tính họ thực sự đang ở trong con ngươi tôi.
- Lạy Chúa, xin cứu chữa chúng con, Amen.
------------------------
5:30 Mar 31 2014
Chép cho thứ Hai, hôm nay:



"Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, 
kẻo cháu nó chết mất!"

17 Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới,

không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa.

18 Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan

vì những gì chính Ta sáng tạo.

Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-sa-lem nên nguồn hoan hỷ

và dân ở đó thành nỗi vui mừng.

19 Vì Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ hoan hỷ, vì dân Ta, Ta sẽ nhảy mừng.

Nơi đây, sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la.

20 Nơi đây, sẽ không còn trẻ sơ sinh chết yểu

và người già tuổi thọ không tròn;

vì trăm tuổi mà chết là chết trẻ,

và chưa tròn trăm tuổi mà chết là bị nguyền rủa.
21 Người ta sẽ xây nhà và được ở,
sẽ trồng nho và được ăn trái.(Is 65, 17-21)
(43) Sau hai ngày, Ðức Giêsu bỏ nơi đó đi Galilê. (44) Chính Người đã quả quyết: ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. (45) Khi người đến Galilê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giêrusalem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.
 (46) Vậy Người trở lại Cana miền Galilê, là nơi Người đã làm cho nước hóa thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Caphácnaum. (47) Khi nghe tin Ðức Giêsu từ Giuđê đến Galilê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. (48) Ðức Giêsu nói với ông: "Nếu không thấy dấu lạ điềm thiêng, các ông sẽ chẳng tin đâu!" (49) Viên sĩ quan nói: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!" (50) Ðức Giêsu bảo: "Ông cứ về đi, con ông sống". Ông tin vào lời Ðức Giêsu nói với mình, và ra về. (51) Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. (52) Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: "Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt". (53) Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Ðức Giêsu đã nói với mình: "Con ông sống", nên ông và cả nhà đều tin. (54) Ðó là dấu lạ thứ hai Ðức Giêsu đã làm, khi Người từ miền Giuđê đến miền Galilê. (Ga 4, 43-54)
- Tại sao người sỹ quan cận vệ nhà vua lại tin vào quyền năng Chúa trong khi bao người Do Thái, bao người Pha-ri-sêu khác không tin? Người sỹ quan này chỉ muốn Chúa Jesus cứu chữa cho đứa con của mình, chứ không muốn tìm kiếm dấu lạ và ông tin rằng chì mình Chúa mới có thể cứu cho con ông khỏi chết.
- Lạy Chúa, xin cứu chữa chúng con và xin ban thêm lòng tin cho chúng con, Amen.
-----------------



21:50 Mar 31 2014
Chép cho thứ Ba, ngày mai:

(9) Người ấy liền được khỏi bệnh,
vác chõng và bước đi.

1 Người ấy dẫn tôi trở lại phía cửa Ðền Thờ, và này: có nước vọt ra từ dưới ngưỡng cửa Ðền Thờ và chảy về phía đông, vì mặt tiền Ðền Thờ quay về phía đông. Nước từ phía dưới bên phải Ðền Thờ chảy xuống phía nam bàn thờ. 2 Người ấy đưa tôi ra theo lối cổng bắc và dẫn tôi đi vòng quanh theo lối bên ngoài, đến cổng ngoài quay mặt về phía đông, và này: nước từ phía bên phải chảy ra. 3 Người ấy đi ra phía đông, tay cầm dây đo, đo năm trăm thước rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến mắt cá chân. 4 Người ấy đo năm trăm thước nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến đầu gối. Người ấy lại đo năm trăm thước nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến ngang lưng. 5 Người ấy còn đo năm trăm thước nữa: đó là một con sông, tôi không thể đi qua được vì nước đã dâng cao, khiến không thể đi qua mà chỉ bơi mới được thôi. 6 Người ấy bảo tôi: "Ngươi có thấy không, hỡi con người? " Rồi người ấy dẫn tôi trở lại bờ sông. 7 Khi tôi trở lại, thì này: có rất nhiều cây cối ở hai bên bờ sông. 8 Người ấy bảo tôi: "Nước này chảy về miền đất phía đông, xuống vùng A-ra-ba, rồi đổ ra biển Chết và làm cho nước biển hoá lành. 9 Sông chảy đến đâu thì mọi sinh vật lúc nhúc ở đó sẽ được sống. Sẽ có rất nhiều cá, vì nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống.
12 Trên hai bờ sông sẽ mọc lên mọi giống cây ăn trái, lá không bao giờ tàn, trái không bao giờ hết: mỗi tháng các cây đó sẽ sinh trái mới nhờ có nước chảy ra từ thánh điện. Trái dùng làm lương thực còn lá để làm thuốc."(Ed 47, 1-9.12)
(1) Sau đó, nhân dịp lễ của người Dothái, Ðức Giêsu lên Giêrusalem. (2) Tại Giêrusalem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Hipri gọi là Bếtdatha. Hồ này có năm hành lang. (3) Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt ở đó, (chờ cho nước động, (4) vì thỉnh thoảng có thiên thần Chúa xuống hồ khuấy nước lên; khi nước khuấy lên, ai xuống trước, thì dù mắc bệnh gì đi nữa, cũng được khỏi). (5) Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. (6) Ðức Giêsu thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói: "Anh có muốn khỏi bệnh không?" (7) Bệnh nhân đáp: "Thưa Ngài, tôi không có người đem tôi xuống hồ, khi nước khuấy lên. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi!" (8) Ðức Giêsu bảo: "Anh hãy chỗi dậy, vác chõng và đi!" (9) Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và bước đi.
Hôm đó lại là ngày sabát. (10) Người Dothái mới nói với kẻ được khỏi bệnh: "Hôm nay là ngày sabát, anh không được phép vác chõng!" (11) Nhưng anh đáp: "Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi: 'Anh hãy vác chõng và đi!'" (12) Họ hỏi anh: "Ai là người đã bảo anh: 'Vác chõng và đi'?" (13) Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Ðức Giêsu đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. (14) Sau đó, Ðức Giêsu gặp người ấy trong Ðền Thờ và nói: "Này, anh đã được khỏi bệnh. Ðừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước!" (15) Anh ta đi nói với người Dothái: Ðức Giêsu là người đã chữa anh khỏi bệnh. (16) Do đó, người Dothái chống đối Ðức Giêsu, vì Người hay chữa bệnh ngày sabát.(Ga 5, 1-16)

- Doc them:

ĐỨC PHANXICÔ PHẪN NỘ CHỐNG «TỘI HÌNH THỨC»
Nguồn: Radio Vatican, 1-4-2014

Trong bài giảng sáng thứ ba 1-4-2014 tại Nhà nguyện Thánh Mác-ta, Đức Phanxicô đã lên án tội lười biếng và tội hình thức, hai tội mà rất nhiều giáo hữu mắc phải. «Các Kitô hữu đã bị 
tê liệt nên không còn làm lợi cho Giáo hội. Họ đóng cửa lòng mình trước ơncứu rỗi», Đức Phanxicô nhấn mạnh. Ngài lập lại, không được ngừng ở bệnh hình thức, và cũng «không đứng tách riêng», phải thắng cơn bệnh lười biếng thiêng liêng và dám liều mình loan báo Tin Mừng. 

Đức Phanxicô khởi từ đoạn Phúc Âm thánh Gioan kể câu chuyện Chúa Giêsu gặp người bị liệt đã 38 năm, 
anh chờ được chữa lành. Người đàn ông này than trách vì anh không thể nào xuống hồ được, khi nào cũng có người đi trước anh. Lúc đó Chúa Giêsu ra lệnh cho anh đứng dậy và bước đi. Một phép lạ làm cho các người Pharisêu chỉ trích vì hôm đó là ngày thứ bảy, ngày cấm làm việc. «Trong câu chuyện này, Đức Phanxicô nhận xét, chúng ta thấy hai căn bệnh trầm trọng về mặt thiêng liêng. Hai căn bệnh mà chúng ta phải suy nghĩ kỹ». 
Bệnh lười biếng làm tê liệt đức tin

Trước hết, người bệnh cam chịu, lòng đầy cay đắng
 và anh than trách. Đức Phanxicô nói: «Tôi nghĩ đến nhiều Kitô hữu, nhiều người Công giáo uể oải và cũng đầy cay đắng! Mỗi người trong nhà mình, sống cuộc đời yên ổn» và không dám liều mình cho việc gì cả. «Đó là căn bệnh lười biếng của người Kitô hữu. Thái độ này biến người Kitô hữu thành những người bất động, yên ổn nhưng không phải trong nghĩa tốt của yên ổn: họ không tìm cách ra ngoài để loan báo Tin Mừng! Những người bị tê liệt. Và tê liệt, Đức Phanxicô nói thêm, là một kinh nghiệm tiêu cực». Sự kiện đứng tách riêng trở thành «một loại lười biếng thiêng liêng. Thật đáng buồn». 

«Nhưng chúng ta cũng thấy một tội khác trong đoạn Phúc Âm này, Đức Phanxicô triển khai, đó là tội hình thức, tội mà những người không dành chỗ cho ơn Chúa bị mắc phải. Cả đời họ chỉ chăm chăm sao cho mọi hồ sơ, mọi giấy chứng nhận họ có đều hợp lệ, Đức Phanxicô nói rõ. Các Kitô hữu này đạo đức giả như các người Pharisêu. Họ chỉ quan tâm đến hình thức. Ngày thứ bảy hả? Không, chúng tôi không thể làm phép lạ vào ngày thứ bảy, ơn Chúa không xuống vào ngày thứ bảy. Họ đóng cửa không cho ơn Chúa vào! Chúng ta có rất nhiều người như thế trong Giáo hội: rất nhiều người! Đó là một tội khác», theo Đức Phanxicô. «Hai cám dỗ này chúng ta phải biết rõ để gìn giữ mình», ngài kết luận.

Bản dịch của Nguyễn Tùng Lâm

--------------------
21:45 Apr 1 2014
Chép cho thứ Tư, ngày mai:


(23) để ai nấy đều tôn kính người Con
như tôn kính Chúa Cha.


8 Ðức Chúa phán thế này:

Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân,


phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ.

Ta đã gìn giữ ngươi, đặt ngươi làm giao ước giữa Ta với dân,
để phục hồi xứ sở, để chia lại những gia sản đã bị tàn phá,
9 để nói với người tù: "Hãy đi ra",
với những kẻ ngồi trong bóng tối: "Hãy ra ngoài."
Như bầy chiên, chúng sẽ được nuôi ăn trên các nẻo đường,
sẽ gặp được đồng cỏ trên mọi đồi hoang.
10 Chúng sẽ không phải đói phải khát,
không bị khí nóng và mặt trời hành hạ,
vì Ðấng thương xót chúng sẽ hướng dẫn
và đưa chúng đến những suối nước tuôn trào.
11 Mọi núi non của Ta, Ta sẽ biến thành đường sá,
những con lộ của Ta, Ta sẽ đắp cao.
12 Kìa chúng đang từ xa đến,
người từ phía bắc, phía tây, kẻ từ miền đất Xi-nim.
13 Trời hãy hò reo, đất hãy nhảy múa,
núi non hãy bật tiếng hò reo,
vì Ðức Chúa ủi an dân Người đã chọn
và chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ của Người.
14 Xi-on từng nói: "Ðức Chúa đã bỏ tôi,
Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi!"
15 Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,
hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau?
Cho dù nó có quên đi nữa,
thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ. (Is 49, 8-15)


(17) Nhưng Ðức Giêsu đáp lại: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". (18) Bởi vậy, người Dothái lại càng tìm cách giết Ðức Giêsu, vì không những Người phá luật sabát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.


 (19) Ðức Giêsu lên tiếng nói với họ rằng:

"Thật, tôi bảo thật các ông:
người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì,
ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm;
vì điều gì Chúa Cha làm,
thì người Con cũng làm như vậy.
(20) Quả thật, Chúa Cha yêu người Con
và cho người Con thấy mọi điều mình làm,
lại sẽ còn cho người Con thấy
những việc lớn lao hơn nữa,
khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc.
(21) Chúa Cha làm cho kẻ chết chỗi dậy
và ban sự sống cho họ thế nào,
thì người Con cũng ban sự sống cho ai tùy ý.
(22) Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai,
nhưng đã ban cho người Con
mọi quyền xét xử,
(23) để ai nấy đều tôn kính người Con
như tôn kính Chúa Cha.
Kẻ nào không tôn kính người Con,
thì cũng không tôn kính Chúa Cha,
Ðấng đã sai người Con.
(24) Thật, tôi bảo thật các ông:
ai nghe lời tôi
và tin vào Ðấng đã sai tôi,
thì có sự sống đời đời
và khỏi bị xét xử,
nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.
(25) Thật, tôi bảo thật các ông:
giờ đã đến - và chính là lúc này đây
giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa;
ai nghe thì sẽ được sống.
(26) Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào,
thì cũng ban cho người Con
được có sự sống nơi mình như vậy,
(27) lại ban cho người Con được quyền xét xử,
vì người Con là Con Người.
(28) Các ông chớ ngạc nhiên về điều này,
vì giờ đã đến,
giờ mọi kẻ ở trong mồ
sẽ nghe tiếng người Con
(29) và sẽ ra khỏi đó:
ai đã làm điều lành,
thì sẽ sống lại để được sống;
ai đã làm điều dữ,
thì sẽ sống lại để bị kết án.
(30) Tôi không thể tự ý mình làm gì.
Tôi xét xử theo như tôi được nghe,
và phán quyết của tôi thật công minh,
vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi,
nhưng theo ý Ðấng đã sai tôi. (Ga 5, 17-30)
- Lạy Chúa Thánh Thần là Nguồn Thông hiểu, xin Người ngự trong tâm
trí con để con xác tín rằng Chúa Jesus là người con duy nhất của Thiên
Chúa Cha, Chúa Jesus là Thiên Chúa Con với toàn quyền xét xử thế gian, Amen.

 --------------------
20:40 Apr 2 2014
Chep cho thu Nam dau thang, ngay mai:
(38) Các ông không giữ lời Người ở lại trong lòng,
     bởi vì chính các ông không tin vào Ðấng Người đã sai đến.

 7 Ðức Chúa phán với ông Mô-sê: "Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai-cập. 8 Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: "Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập." 9 Ðức Chúa lại phán với ông Mô-sê: "Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ. 10 Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn."
11 Ông Mô-sê cố làm cho nét mặt Ðức Chúa, Thiên Chúa của ông, dịu lại. Ông thưa: "Lạy Ðức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập? 12 Tại sao người Ai-cập lại có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài. 13 Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Ít-ra-en; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời." 14 Ðức Chúa đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe. (Xh 32, 7-14)

 (31) Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật.

(32) Có Ðấng khác làm chứng về tôi và tôi biết:

lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật.

(33) Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gioan,

và ông ấy đã làm chứng cho sự thật.

(34) Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân,

nhưng tôi nói ra những điêu này để các ông được cứu độ.

(35) Ông Gioan là ngọn đèn cháy sáng,

và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian.

(36) Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng

lớn hơn lời chứng của ông Gioan:

đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi

để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó

làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.

(37) Chúa Cha, Ðấng đã sai tôi,

chính Người cũng đã làm chứng cho tôi.

Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người,

cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người.

(38) Các ông không giữ lời Người ở lại trong lòng,

bởi vì chính các ông không tin

vào Ðấng Người đã sai đến.

(39) Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó

 các ông sẽ tìm được sự sống đời đời.

Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi.

(40) Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống.

(41) Tôi không cần người đời tôn vinh.

(42) Nhưng tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa.

(43) Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận.

Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận.

(44) Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang

phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?

(45) Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha.

Kẻ tố cáo các ông chính là Môsê, người mà các ông tin cậy.

(46) Vì nếu các ông tin ông Môsê, thì hẳn các ông cũng tin tôi,

bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi.

(47) Nhưng nếu các ông không tin các điều ông ấy viết,

thì làm sao tin được lời tôi nói?" (Ga 5, 31-47)

- Mọi vinh quang là của Thiên Chúa, mọi vinh quang là dành cho Thiên Chúa. Ngoài Thiên Chúa ra, tôi không cần phải tôn vinh ai khác ở trần gian này. Lúc nào đó tôi muốn được người khác tôn vinh và lúc nào đó tôi tìm vinh quang cho bản thân mình là chính lúc tôi đang vong thân, là chính lúc tôi đang quay lưng lại với Thiên Chúa, giống như dân Do Thái đúc con bê vàng để sụp xuống thờ lạy vậy.
- Lạy Thiên Chúa xin hãy cứu giúp con, Amen.
------------------------
                 22:30 Apr 3 2014
Chép cho ngày mai, thứ Sáu đầu tháng:
  "...(29) Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi 
từ nơi Người mà đến và chính Người đã sai tôi".
1 Thật vậy, suy tính sai lầm, chúng bảo nhau:
"Ðời ta thật buồn sầu, vắn vỏi:
không thuốc nào chữa cho con người khỏi chết,
chẳng ai biết có kẻ nào thoát được cõi âm ty.
12 Ta hãy gài bẫy hại tên công chính,
vì nó chỉ làm vướng chân ta,
nó chống lại các việc ta làm,
trách ta vi phạm lề luật,
và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo.
13 Nó tự hào là mình biết Thiên Chúa,
xưng mình là con của Ðức Chúa.
14 Nó như kẻ luôn chê trách tâm tưởng của ta,
thấy mặt nó thôi là ta chịu không nổi.
15 Vì nó sống thật chẳng giống ai,
lối cư xử của nó hoàn toàn lập dị.
16 Nó coi ta như bọn lọc lừa,
tránh đường ta đi như tránh đồ dơ bẩn.
Nó tuyên bố rằng thật lắm phúc nhiều may,
hậu vận của người công chính.
Nó huênh hoang vì có Thiên Chúa là Cha.
17 Ta hãy coi những lời nó nói có thật không,
và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào.
18 Nếu tên công chính là con Thiên Chúa,
hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù.
19 Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó,
để biết nó hiền hoà làm sao,
và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào.
20 Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã,
vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm."
Sai lầm của phường vô đạo
21 Chúng suy tính như vậy thật sai lầm,
vì ác độc mà chúng ra mù quáng.
22 Chúng không biết những bí nhiệm của Thiên Chúa,
chẳng trông chờ người thánh thiện sẽ được thưởng công,
cũng không tin kẻ tinh tuyền sẽ được ân thưởng.(Kn 2, 1a. 12-22)
(1) Sau đó, Ðức Giêsu thường đi lại trong miền Galilê; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giuđê, vì người Do-thái tìm giết Người.
(2) Lễ Lều của người Do-thái gần tới, 
   (10) Tuy nhiên, khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.
(25) Bấy giờ có những người ở Giêrusalem nói: "Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao? (26) Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Ðấng Kitô? (27) Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi; còn Ðấng Kitô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả". (28) Lúc giảng dạy trong Ðền Thờ, Ðức Giêsu nói lớn tiếng rằng:

"Các ông biết tôi ư?

Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư?

Tôi đâu có tự mình mà đến.

Ðấng đã sai tôi là Ðấng chân thật.

Các ông, các ông không biết Người.

(29) Phần tôi, tôi biết Người,

bởi vì tôi từ nơi Người mà đến

và chính Người đã sai tôi".

(30) Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.(Ga 7, 1-2.10.25-30)
- Lạy Chúa, nếu ở Giê-ru-sa-lem ngày xưa thì chúng con cũng không tin Chúa, chỉ vì chúng con nghĩ rằng do xuất thân quá đỗi bình thường của Chúa. Xin Chúa thương gỡ khỏi tâm trí chúng con những màng thành kiến, kiêu căng và đố kỵ, Amen.
      ------------------------
22:20 Apr 4 2014
Chép cho ngày mai 5 /4/2014, thứ Bảy đầu tháng: thánh Vinh Son Ferre linh muc,
 
"Ðấng Kitô mà lại xuất thân từ Galilê sao?
18 Ðức Chúa đã báo cho tôi và tôi đã biết. Bấy giờ Người cho tôi thấy âm mưu của chúng. 19 Phần con, con khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt, con đâu biết chúng đang mưu tính hại con. Chúng bảo nhau: "Cây đương sức, nào ta chặt nó đi, loại nó ra khỏi đất dành cho kẻ sống, để không còn ai nhớ đến tên tuổi nó nữa!"
20 Nhưng, lạy Ðức Chúa các đạo binh,
Ngài công minh khi xét xử,
Ngài thấu suốt tâm can từng gang tấc,
con thấy Ngài trị tội chúng thật là đích đáng,
vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài.(Gr 11, 18-20)
(40) Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói: "Ông này thật là vị ngôn sứ". (41) Kẻ khác rằng: "Ông này là Ðấng Kitô". Nhưng có kẻ lại nói: "Ðấng Kitô mà lại xuất thân từ Galilê sao? (42) Nào Kinh Thánh đã chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Ðavít và từ Bêlem, làng của vua Ðavít sao?" (43) Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. (44) Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.
(45) Các vệ binh, trở về với các thượng tế và người Pharisêu. Họ liền hỏi chúng: "Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây?" (46) Các vệ binh trả lời: "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!" (47) Người Pharisêu liền nói với chúng: "Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao? (48) trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pharisêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu? (49) Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa!" (50) Trong nhóm Pharisêu, có một người tên là Nicôđêmô, trước đây đã đến gặp Ðức Giêsu; ông nói với họ: (51) "Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?" (52) Họ đáp: "Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy: không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả".
(53) Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.(Ga 7, 40-53)
 









Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét