Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống CN 03/01/2021, LỄ CHÚA HIỂN LINH, lễ trọng (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
--Bài đọc 1 (Is 60,1-6)
Vinh quang của Đức Chúa chiếu toả trên ngươi.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
1Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi,
vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa
như bình minh chiếu toả trên ngươi.
2Kìa bóng tối bao trùm mặt đất,
và mây mù phủ lấp chư dân ;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
3Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
4Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem,
tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi :
con trai ngươi từ phương xa tới,
con gái ngươi được ẵm bên hông.
5Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ,
lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng,
vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả,
của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi.
6Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha :
tất cả những người từ Sơ-va kéo đến,
đều mang theo vàng với trầm hương,
và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.
Nay mầu nhiệm được mặc khải là các
dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông
đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
2 Thưa anh em, hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân
sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. 3a
Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Ki-tô. 5 Mầu nhiệm
này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết,
nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ
của Người. 6 Mầu nhiệm đó là : trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin
Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm
thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.
--Tin Mừng (Mt 2,1-12)
Từ phương Đông chúng tôi đến bái lạy Người.
✠Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua
Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, 2
và hỏi : “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao
của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” 3
Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. 4
Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi
cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. 5 Họ trả lời : “Tại Bê-lem,
miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng : 6 Phần ngươi, hỡi
Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi
là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”
7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi
cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. 8 Rồi vua phái các vị ấy
đi Bê-lem và dặn rằng : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã
tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” 9
Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại
dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. 10 Trông thấy
ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. 11 Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân
mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng,
nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. 12 Sau đó, họ được báo mộng là
đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
-- Trích sách Lẽ Sống
-Bí Quyết Hạnh Phúc-
Trong một chương trình truyền hình Mỹ, người ta phỏng vấn một cụ già, tuổi hạc rất cao. Người ta đặt câu hỏi như sau: "Thưa cụ, chắc cụ có một bí quyết đặc biệt để được hạnh phúc?"
Cụ già trả lời một cách đơn sơ như sau: "Không, tôi chẳng có bí quyết nào gọi là đặc biệt cả. Trái lại, nó rất đơn giản như chiếc mũi trên mặt ông vậy!". Cụ già giải thích như sau: "Mỗi buổi sáng mai, lúc thức dậy, tôi có hai điều chọn lựa, một là sống hạnh phúc, hai là sống bất hạnh. ông nghĩ xem, tôi sẽ chọn điều nào? Dĩ nhiên tôi phải chọn được hạnh phúc".
Câu trả lời trên đây của cụ già thật đơn giản. Abraham Lincol đã nói như sau: "Con người sở dĩ có được hạnh phúc, sung sướng hay không cũng tại lòng tưởng nghĩ như vậy". Bạn có thể hạnh phúc, nếu bạn muốn như thế. Ðó là điều dễ thực hiện nhất trên đời. Bạn hãy chọn lựa sự bất hạnh. Ði đến đâu bạn cũng than thân trách phận, chắc chắn bạn sẽ được như ý.
Nhưng nếu lúc nào bạn cũng tự nhủ rằng: "Mọi việc đều tốt đẹp, đời vẫn đẹp và đáng sống. Tôi chọn sống hạnh phúc", thì chắc chắn bạn sẽ được điều bạn muốn.
Trẻ con rành về nghệ thuật sống hạnh phúc hơn người lớn. Trẻ em mang vào giấc ngủ của mình vô số những mộng mơ và chúng cũng thức giấc với vô số những mộng ước, trong đó cơ bản nhất vẫn là được vui chơi.
Người lớn mà có được một tinh thần như trẻ thơ lúc tráng niên và vào tuổi già, thì quả là một thiên tài, vì họ nắm được niềm hạnh phúc thật trong tâm hồn mà Chúa đã dành để cho tuổi thanh xuân. Chúa Giêsu quả là tế nhị khi Ngài nói với chúng ta rằng cần phải có tinh thần trẻ thơ thì mới vào được Nước Trời. Nước Trời là gì nếu không phải là được sống hoan lạc trong tình yêu thương của Chúa?
-----------------
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống
T Hai 04/01/2021, sau CN LỄ HIỂN LINH (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
-- Bài đọc 1 (1 Ga 3,22-4,6)
Hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay
không ?
Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.
3 22Anh em thân mến,
bất cứ điều gì chúng ta xin,
chúng ta được Thiên Chúa ban cho,
bởi vì chúng ta tuân giữ các điều răn của Người
và làm những gì đẹp ý Người.
23Đây là điều răn của Người : chúng ta phải tin
vào danh Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người,
và phải yêu thương nhau,
theo điều răn Người đã ban cho chúng ta.
24Ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa
thì ở lại trong Thiên Chúa
và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.
Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được
Thiên Chúa ở lại trong chúng ta,
đó là nhờ Thần Khí,
Thần Khí Người đã ban cho chúng ta.
4 *1Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin,
nhưng hãy cân nhắc xem thần khí nào
mới phát xuất từ Thiên Chúa,
vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian.
2Căn cứ vào điều này,
anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa :
thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô
là Đấng đã đến và trở nên người phàm,
thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa ;
3còn thần khí nào không tuyên xưng Đức Giê-su,
thì không bởi Thiên Chúa ;
đó là thần khí của tên Phản Ki-tô.
Anh em đã nghe nói là nó đang tới,
và hiện nay nó ở trong thế gian rồi.
4Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
anh em thuộc về Thiên Chúa,
và anh em đã thắng được các ngôn sứ giả đó,
vì Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian.
5Các ngôn sứ giả đó thuộc về thế gian ;
vì thế, chúng nói theo thế gian, và thế gian nghe chúng.
6Còn chúng ta, chúng ta thuộc về Thiên Chúa.
Ai biết Thiên Chúa thì nghe chúng ta.
Ai không thuộc về Thiên Chúa thì không nghe chúng ta.
Chúng ta cứ dựa vào đó mà nhận ra
thần khí dẫn đến sự thật và thần khí làm cho sai lầm.
--Tin Mừng (Mt 4,12-17.23-25)
Nước Trời đã đến gần.
✠Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
12 Khi ấy, Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người
lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở
Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và
Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15
Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn
sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân
đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi
trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh
em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”
23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong
các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật
nguyền trong dân. 24 Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri. Thiên hạ
đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền : những kẻ bị
quỷ ám, kinh phong, bại liệt ; và Người đã chữa họ. 25 Từ miền
Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông
Gio-đan, dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người.
--Chú thích 1Ga:
* 4,1 Thánh Gio-an đã từng nhấn mạnh vai trò của Thánh Thần, Đấng hướng dẫn ta trong sự thật, nhưng ở đây, ngài khuyên chúng ta cảnh giác đối với các ngôn sứ giả : lời nói của họ không phù hợp với đức tin đã nhận được từ các Tông Đồ trong Giáo Hội.
Vẫn luôn có mâu thuẫn giữa những người có quyền bính và những người nói năng, phê bình phóng khoáng. Dĩ nhiên, không ai được linh hứng mà lại có thể nói ngược với đức tin truyền thống của Giáo Hội. Nhưng nghĩ sao về những phương cách sống và hoạt động trong Giáo Hội ? Chúng ta có buộc phải luôn luôn ủng hộ những người có trách nhiệm không ? Nếu vậy là quên rằng Tin Mừng tạo ra những con người tự do. Chúng ta không thể cứ mù quáng nghe theo ý kiến dù là của giáo hoàng, giám mục hay của số đông, khi lương tâm chúng ta chống lại ý kiến đó, trừ phi điều đó có thể làm hại tình hợp nhất trong Giáo Hội. Chúng ta phải suy nghĩ để có lập trường và đánh giá theo các tiêu chuẩn của Tin Mừng.
Vậy chúng ta có thể ủng hộ những người có vẻ như được Thần Khí hướng dẫn không ? Nếu Thánh Thần thật sự linh hứng họ, thì dù họ có chỉ trích những gì đáng phải chỉ trích, họ sẽ không bao giờ tìm cách chia rẽ Giáo Hội. Cộng đoàn có thể khai trừ họ, nhưng họ sẽ không chịu trách nhiệm về sự tuyệt giao này. Và ngay cả khi bị cộng đoàn địa phương hất hủi, họ vẫn không bao giờ chấp nhận tự tách rời khỏi tình hiệp thông với Giáo Hội toàn cầu. Mà cuối cùng thì, với thời gian, Giáo Hội luôn nhận ra những ai là ngôn sứ chân chính.
-- Trích sách Lẽ Sống
"Trăm năm bia đá thì mòn,
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ"
Nhà độc tài nào sau khi ra đi cũng trở thành bia cho không biết bao nhiêu những lời đàm tiếu của thiên hạ. Năm 1986, người ta nói đến trên 3,000 đôi giày đã trở thành bảo tàng viện của bà Imelda Marcos, phu nhân của cựu tổng thống Phi Luật Tân, ông Ferdinand Marcos. Sau đó, người ta lại bàn tán về những đôi giày của bà Elena, vợ của nhà độc tài Ceaucescu bị hành quyết tại Rumani.
Khi vợ chồng của cựu tổng thống Marcos bị bắt buộc phải bỏ nước Phi, dân chúng đã tuôn đến dinh tổng thống như một ngày hội: họ đến đó chỉ để xót xa so sánh cái cảnh giàu sang quá mức của gia đình nhà độc tài với cái đói khổ mạt rệp của dân chúng. Người dân Phi nói rằng, trong 9 năm liền, bà Imelda Marcos chỉ có thể mang một đôi giày không quá 3 lần là cùng. Sau khi hành quyết vợ chồng Ceaucescu, người ta mới khám phá ra rằng căn nhà mà họ cho là bình thường của họ chính là một biệt thự sang trọng với 40 phòng khác nhau được trang trí bằng những bức tranh đắt giá, phòng tắm được khảm bằng vàng. Mỗi phòng đều có truyền hình và máy video.
Tài sản của ông Ceaucescu cũng không thua kém gì những của cải biển lận của ông Noriega, cựu tổng thống bị truất phế của Panama. O?g tướng này không chỉ có những căn nhà lộng lẫy trong nước, mà còn không biết bao nhiêu biệt thự tại Pháp và các nước khác. Máy bay và những chuyến du thuyền của ông không còn là những phương tiện để di chuyển, mà là cả một thú sưu tầm.
Không có một nhà độc tài nào mà không tham lam tiền của. Người ta nói đến hàng tỷ Ðôla của ông Marcos. Nhà độc tài của một nước nghèo nàn như Haiti cũng có đến 400 triệu Mỹ kim. Somoza, người bị lật đổ tại Nicaragua, thì có đến hàng trăm triệu Ðô la đầu tư vào những kinh doanh đồi trụy như đĩ điếm, cờ bạc. Cựu hoàng đế Pokassa của một nước nghèo nàn lạc hậu như Cộng Hòa Trung Phi bên Phi Châu, đã làm lễ đăng quang năm 1976 với một phí tổn là 20 triệu Mỹ kim. Và hiện nay, người ta ước tính tài sản của tổng thống Zaire là ông Mobutu Sese Seko lên đến gần 5 tỷ Mỹ kim.
Giá của những tài sản bất chính ấy thường giống nhau: một cuộc lưu vong nhục nhã, một cuộc chốn chạy không kèn không trống, một cuộc hành quyết dã man hay một cuộc sống trong lo sợ từng ngày và làm mục tiêu cho những oán ghét.
Mỗi dịp đầu năm, dường như ai cũng muốn làm một quyết tâm. 50% người Hoa Kỳ quyết tâm giảm thiểu sự ăn uống để gìn giữ sức khỏe.
Ðối với người Kitô chúng ta, sức khỏe tinh thần, sự cường tráng tâm linh có lẽ là điều quan trọng hơn cả. Quyết tâm của chúng ta phải là quyết tâm điều chỉnh lại sự lựa chọn cơ bản của chúng ta. Ðâu là cùng đích của cuộc sống chúng ta? Ðâu là lý tưởng của chúng ta? Ðâu là giá trị cao cả nhất trong cuộc sống của chúng ta? Tiền bạc và nhất là tiền bạc bất chính có đem lại hạnh phúc cho đời Người không?
--------------Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống
T Ba 05/01/2021, sau CN LỄ HIỂN LINH (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
--Bài đọc 1 (1 Ga 4,7-10)
Thiên Chúa là tình yêu.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.
*7Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau,
vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra,
và người ấy biết Thiên Chúa.
8Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa,
vì Thiên Chúa là tình yêu.
9Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta
được biểu lộ như thế này :
Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian
để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống.
10Tình yêu cốt ở điều này :
không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa,
nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta,
và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.
--Tin Mừng (Mc 6,34-44)
Khi hoá bánh ra nhiều, Đức Giê-su tỏ
mình là ngôn sứ.
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
34 Khi ấy, Đức Giê-su thấy một đoàn người đông đảo, thì chạnh
lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ
họ nhiều điều. 35 Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người
và thưa : “Nơi đây hoang vắng và giờ đã khá muộn. 36 Xin Thầy cho
dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” 37
Người đáp : “Chính anh em hãy cho họ ăn đi !” Các ông nói với Người : “Chúng
con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn sao ?” 38
Người bảo các ông : “Anh em có mấy cái bánh ? Đi coi xem !”. Khi biết rồi, các
ông thưa : “Có năm cái bánh và hai con cá.” 39 Người ra lệnh cho các
ông bảo mọi người ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh. 40 Họ ngồi
xuống thành từng đám, chỗ thì một trăm, chỗ thì năm mươi. 41 Người
cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, rồi
bẻ bánh ra, trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Người cũng chia
hai con cá cho mọi người. 42 Ai nấy đều ăn và được no nê. 43
Người ta thu lại những mẩu bánh được mười hai thúng đầy, cùng với cá còn dư. 44
Số người ăn bánh là năm ngàn người đàn ông.
--Chú thích 1Ga:
* 4,7 Ở đây bắt đầu phần thứ ba : Thiên Chúa Tình Yêu là nguồn mạch của tình yêu và đức tin.
Thiên Chúa là tình yêu (cc. 8 và 16). Đó là mặc khải tối cao và đặc trưng của niềm tin Ki-tô giáo. Các tôn giáo khác nói đến một vị Thần tốt lành và từ bi lân ái, nhưng không một tôn giáo nào biết được rằng toàn thể tạo thành mãi luôn khởi sắc nhờ có một tình yêu đầy năng động bắt nguồn từ Thiên Chúa Tình Yêu.
Trong đoạn văn tuyệt vời này, thánh Gio-an nhấn mạnh tương quan bất khả phân ly giữa tình yêu Thiên Chúa và tình yêu đồng loại.
Mọi người chúng ta biết rõ điều ấy, nhưng thánh Gio-an cho ta biết lý do nguyên thuỷ là tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa (c.7). Nếu chúng ta có khả năng yêu mến Thiên Chúa, ấy là vì Người đã yêu thương ta (c.10) ; nếu chúng ta yêu nhau, ấy có nghĩa là nơi chúng ta có tình yêu Thiên Chúa (c.12).
Thánh Gio-an cũng thấy có liên hệ giữa tình yêu Thiên Chúa và niềm tin vào Thiên Chúa : người Ki-tô hữu đích thực là người trước hết tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa (c.16). Người đã yêu thương và chọn chúng ta từ thuở đời đời (Ep 1,4) ; Người đã chứng tỏ như thế bằng cách sai Con của Người đến (Rm 5,8). Nếu chúng ta yêu thương thật sự thì không bao giờ dựa vào đó mà cho mình là hơn người, không nghĩ mình có công đức gì trong đó. Chúng ta chỉ lãnh hội được rằng tình yêu Thiên Chúa hoạt động nơi chúng ta thôi.
Điều ấy lý giải cuộc sống của những người vì yêu thương mà hiến mình phục vụ những người bị bỏ rơi, những bệnh nhân, người cao niên, những người không còn hữu ích cho xã hội nữa. Và cũng được lý giải như thế, cuộc sống của những người từ bỏ cách sống thường tình để tận hiến mình cho một tình yêu dành trọn cho Thiên Chúa.
-- Trích sách Lẽ Sống
-Chiếc Áo Rách-
Một linh sư Anh giáo nọ rất hài lòng về sự tiến bộ của người đệ tử. Nhận thấy rằng người đệ tử không cần đến sự dìu dắt của ông nữa, cho nên ông mới bỏ mặc anh trong túp lều tranh rách nát bên cạnh một bờ sông. Một buổi sáng, khi thức dậy, người đệ tử xuống dòng sông thanh tẩy theo đúng nghi thức, rồi giặt chiếc áo rách rưới của mình. Ðây là tài sản duy nhất của anh ta.
Ngày nọ, anh đau đớn vô cùng khi nhận ra chiếc áo phơi ở bờ sông đã bị chuột cắn tả tơi. Không còn cách nào nữa, người đệ tử đành phải vào làng gõ cửa để xin một chiếc áo khác. Cái áo lần nữa cũng bị chuột gặm nát. Anh mới xin được một con mèo. Lần này anh khỏi phải lo lắng về mấy con chuột nữa. Nhưng không xin áo mặc, thì người đệ tử cũng phải xin cơm, bánh mà thôi.
Ngày ngày phải vác bị đi khất thực, người đệ tử cảm thấy mình như một thứ gánh nặng đối với dân làng. Nghĩ thế, cho nên anh mới tìm cách tậu cho bằng được một con bò để lấy vốn làm ăn. Nhưng có bò thì cũng phải có cỏ cho bò ăn. Những ngày đầu, anh còn tự mình cắt cỏ cho bò ăn. Về lâu về dài, nhận thấy không còn thì giờ cho sự cầu nguyện nữa, cho nên anh đành phải thuê người cắt cỏ cho bò. Bò càng ngày càng sinh sản ra nhiều, người cắt cỏ cũng phải gia tăng. Không mấy chốc, mảnh đất xung quanh túp lều của anh đã biến thành một nông trại. Con người đã một thời muốn bỏ đi tất cả mọi sự để trở thành một tu sĩ nay nghiễm nhiên trở thành một chủ nông trại giàu có. Có tiền, có mọi sự, cho nên anh cũng muốn có người chia sẻ công việc của anh. Anh đành phải cưới vợ. Và không mấy chốc, anh đã trở thành một trong những chủ nông trại giàu có nhất trong làng.
Vài năm sau, khi có dịp trở lại thăm ngôi làng cũ, vị linh sư đã một thời dẫn dắt anh, ngạc nhiên vô cùng vì thay cho túp lều nghèo nàn bên bờ sông, nay là cả một cơ nghiệp đồ sộ. Dò hỏi được tung tích của người chủ nông trại, vị linh sư mới lên tiếng hỏi người đệ tử của mình: "Thế này nghĩa là gì hả con?". Người đệ tử mới trả lời: "Có lẽ thầy không tin. Nhưng tất cả cơ nghiệp này hiện hữu là cũng chỉ vì con đã không làm cách nào để giữ được chiếc áo rách".
Vì chén cơm manh áo, người ta có thể đánh mất lý tưởng của mình. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chà đạp phẩm giá của mình cũng như của người khác. Vì chén cơm manh áo, người ta có thể chối bỏ niềm tin của mình. Ðó là mối hiểm nguy mà bất cứ ai cũng có thể rơi vào.
Ðầu một Năm Mới, tiến thêm một bước trong cuộc hành trình đức tin, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm sáng suốt để thấy được bậc thang giá trị trong cuộc sống của chúng ta. Xin Ngài ban thêm can đảm để trong khi mưu cầu của cải vật chất, chúng ta có đủ sức khước từ mọi hành động bất chánh, mọi thỏa hiệp với lừa đảo, gian trá. Xin Ngài ban thêm lòng quảng đại để chúng ta biết mở rộng quả tim và đôi bàn tay để chia sớt, để san sẻ với mọi người khốn khổ.
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống
T Tư 06/01/2021, sau CN LỄ HIỂN LINH (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
--Bài đọc 1 (1Ga 4,11-18)
Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong
chúng ta.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.
11Anh em thân mến,
nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta,
chúng ta cũng phải yêu thương nhau.
12Thiên Chúa, chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ.
Nếu chúng ta yêu thương nhau,
thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta,
và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo.
13Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng
chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta :
đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta.
14Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng
và làm chứng rằng : Chúa Cha đã sai Con của Người đến
làm Đấng cứu độ thế gian.
15Hễ ai tuyên xưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa,
thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy
và người ấy ở lại trong Thiên Chúa.
16Còn chúng ta, chúng ta đã biết
tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta,
và đã tin vào tình yêu đó.
Thiên Chúa là tình yêu :
ai ở lại trong tình yêu, thì ở lại trong Thiên Chúa,
và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.
17Căn cứ vào điều này
mà tình yêu đã nên hoàn hảo với chúng ta :
đó là chúng ta được mạnh dạn trong ngày phán xét,
vì Đức Giê-su thế nào
thì chúng ta cũng như vậy ở thế gian này.
18Tình yêu không biết đến sợ hãi ;
trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi,
vì sợ hãi gắn liền với hình phạt,
và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo.
--Tin Mừng (Mc 6,45-52)
Các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt biển.
✠Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
45 Sau khi cho năm ngàn người được ăn no nê, lập tức, Đức
Giê-su bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, về phía thành
Bết-xai-đa, trong lúc Người giải tán đám đông. 46 Sau khi cho họ đi,
Người lên núi cầu nguyện. 47 Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa
biển hồ, chỉ còn một mình Người ở trên đất. 48 Người thấy các ông
phải vất vả chèo chống vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi
trên mặt biển mà đến với các ông, và Người định vượt các ông. 49
Nhưng khi các ông thấy Người đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên. 50
Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Người và đều hoảng hốt. Lập tức, Người
bảo các ông : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” 51 Người lên
thuyền với các ông, và gió lặng. Các ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt, 52
vì các ông đã không hiểu phép lạ bánh hoá nhiều : lòng các ông còn chai đá !
-- Trích sách Lẽ Sống
-Vị Vua Thứ Tư-
Hôm nay lễ Ba Vua. Phúc Âm chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư. Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài.
Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế những dọc đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết. Người thứ nhất mà ông đã gặp là một cụ già rét run vì lạnh. Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất. Ði thêm một đoạn đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng để chuộc lại cô gái. Cuối cùng khi tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát các hài nhi trong một ngôi làng lân cận. Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác.
Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình.
Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người cần giúp đỡ.
Mùa Giáng Sinh là mùa của những bất ngờ. Bất ngờ của một Thiên Chúa hóa thân làm người. Bất ngờ của một thiên Chúa giáng hạ trong hang súc vật. Bất ngờ sự việc những người nghèo hèn nhất trong xã hội đã nhận ra Tin Mừng. Bất ngờ của những người dân ngoại tìm đến triều bái Vua các vua. Nhưng điều khiến con người sẽ không bao giờ ngờ đến: đó là Ðấng Thiên Chúa hóa thân làm người ấy lại tự đồng hóa với mỗi một con người sinh ra trên cõi đời này, nhất là những con người bé mọn nhất trong xã hội. Ngài đã nói: tất cả những gì các người làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là các người làm cho chính Ta. Từ đây, người ta chỉ có thể gặp gỡ được Ngài qua tha nhân. Tất cả những gì người ta làm cho tha nhân là làm cho chính Ngài. Lễ dâng làm đẹp lòng Ngài nhất chính là những gì người ta trao tặng cho tha nhân, nhất là những người nghèo hèn túng thiếu hay bất cứ ai cần sự giúp đỡ.
--------------
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống
T Năm 07/01/2021, sau CN LỄ HIỂN LINH (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
-- Bài đọc 1 (1Ga 4,19-5,4)
Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.
4 19Anh em thân mến,
chúng ta yêu mến Thiên Chúa,
vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước.
20Nếu ai nói : “Tôi yêu mến Thiên Chúa”
mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ;
vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy,
thì không thể yêu mến Thiên Chúa
mà họ không trông thấy.
21Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người :
ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình.
5 *1Phàm ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô,
kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra.
Và ai yêu mến Đấng sinh thành,
thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra.
2Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được
mình yêu thương con cái Thiên Chúa :
đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa
và thi hành các điều răn của Người.
3Quả thật, yêu mến Thiên Chúa
là tuân giữ các điều răn của Người.
Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu,
4vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian.
Và điều làm cho chúng ta thắng được thế gian,
đó là lòng tin của chúng ta.
--Tin Mừng (Lc 4,14-22a)
Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.
✠Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
14 Khi ấy, được đầy quyền năng Thần Khí, Đức Giê-su trở về
miền Ga-li-lê, và tiếng đồn Người lan ra khắp vùng lân cận. 15 Người
giảng dạy trong các hội đường của họ, và được mọi người tôn vinh.
*16 Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người đã được dưỡng
dục. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên
đọc Sách Thánh. 17 Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a.
Người mở ra, gặp đoạn chép rằng : 18 Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù
biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19 công bố
một năm hồng ân của Đức Chúa.
20 Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường
rồi ngồi xuống. Trong hội đường, trăm con mắt đều đổ dồn về phía Người. 21
Người bắt đầu nói với họ : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa
nghe.” 22a Mọi người đều tán thành và thán phục những lời ân sủng từ
miệng Người nói ra.
--Chú thích Ga 1:
* 5,1 Thiên Chúa Tình Yêu là Đấng yêu cầu chúng ta tin vào Con của Người, mà đức tin là một chiến thắng. Thánh Gio-an đã viết sách Khải huyền để khích lệ các tín hữu đang bị bách hại : ngài cho họ thấy họ đang chia sẻ cuộc chiến thắng của Chúa Ki-tô chỉ nhờ giữ vững niềm tin vào Người. Ở đây thì thánh Gio-an diễn đạt điều đó một cách khác.
Chiến thắng lớn lao của chúng ta là được thừa hưởng “gia nghiệp của con cái Thiên Chúa”, nghĩa là sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa. Những ai tin vào Chúa Ki-tô thì đã đạt tới sự thật, là Thiên Chúa.
Làm sao chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa (c.2) ? Thánh Gio-an đã nói ở trên : ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình. Nhưng ở đây, ngài đảo ngược câu nói : người ta nhận ra ai là kẻ yêu thương anh em mình ở chỗ họ yêu mến Thiên Chúa.
Có nhiều thứ được gọi là tình yêu và có thể có ít nhiều tình yêu trong mỗi thứ ấy. Tuy nhiên, tình Thiên Chúa yêu chúng ta và tình yêu Người thông ban cho ta để ta yêu thương người khác không thể lẫn lộn được với những thứ tình yêu khác. Tình yêu phát xuất từ một tình hiệp thông đích thực với Thiên Chúa thì không thể so sánh với thứ tình yêu lãng mạn, hay mù quáng hoặc đầy vụ lợi. Tình yêu ấy hữu hiệu để giúp tha nhân được tự do và giúp chúng ta trở nên giống Chúa Ki-tô.
Cc. 6-9 đưa ra ba khía cạnh của kinh nghiệm Ki-tô giáo, được thể hiện trước tiên nơi bản thân Chúa Ki-tô. Thánh Gio-an dùng ba từ ngữ để cho thấy đặc tính của nó :
– nước, là biểu trưng của sự trong sạch và đời sống mới ;
– máu của hy lễ, của việc đền tội trong đau thương, máu của các vị tử đạo ;
– Thần Khí, là sức mạnh làm cho các chứng nhân của Chúa Ki-tô có một khí thế bất khuất ; là sức sáng tạo không ngờ của những con người và những tổ chức dựa vào nền tảng đức tin.
Ba thực tại trên làm chứng cho Chúa Ki-tô và là đặc tính của ơn cứu độ Ki-tô giáo. Chúng ta dễ dàng nhận thấy nó tương ứng với ba bí tích Thánh Tẩy, Thánh Thể và Thêm Sức.
--Chú thích Lc:
* 4,16 Sau một thời gian, khi người ta đã biết Người là ai rồi, Chúa Giê-su ghé qua Na-da-rét, nhưng lại bị đối xử rất tệ. Trong trình thuật của mình, thánh Lu-ca cho thấy vì sao Chúa Giê-su thu hút dân chúng và vì sao, ít là tại Na-da-rét, Người lại bị chối bỏ.
Người gặp đoạn chép rằng (c.17). Đoạn tiếp theo sau trích từ I-sai-a 61,1-2. Ngôn sứ nói về chính sứ mạng của ông : Thiên Chúa đã sai ông đến với những người Do-thái lưu đày để báo cho họ biết Người sắp đến viếng thăm họ. Nhưng đem áp dụng lời này cho Chúa Giê-su thì càng đúng hơn nữa, vì Người mang lại cho loài người tự do đích thực.
Cụm từ trả lại tự do cho người bị áp bức (c.18) không có trong bản văn I-sai-a : thánh Lu-ca đã lấy từ một chỗ khác cũng của ngôn sứ ấy (Is 58,6) mà đưa vào đây, bởi vì từ “trả tự do” thâu tóm rõ nhất sự nghiệp của Chúa Giê-su.
Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh (c.21). Chúa Giê-su đến khai mở thời đại mới, trong đó Thiên Chúa đích thân hiện diện để hoà giải loài người với nhau. Thời xưa, cứ mỗi năm mươi năm thì Ít-ra-en mừng năm toàn xá : trong thời gian một năm ấy, nợ nần được tha, nô lệ được phóng thích (Lv 25,10). Giờ đây cũng vậy, năm hồng ân của Chúa bắt đầu. Thời gian hứa hẹn và nói tiên tri đã chấm dứt, và Thiên Chúa bắt đầu tỏ mình ra cho loài người được biết Người là ai : Chúa Giê-su mặc khải Cha của Người và Chúa Cha mặc khải Con mình bằng những điềm thiêng dấu lạ mà người Con ấy thực hiện.
Trả lại tự do cho người bị áp bức. Chúa Giê-su mang lại sự giải thoát đích thực, bởi vì những việc Người làm đưa tất cả chúng ta trở về với chân lý : Người Con giải phóng các ông... sự thật sẽ giải phóng các ông (Ga 8,36.32). Lẽ cố nhiên, điều mà người Do-thái lúc ấy khát mong nhất là cuộc giải phóng quốc gia. Tại sao Chúa Giê- su không ra tay làm chuyện đó ? Phải chăng vì Người chỉ lo “phần linh hồn” mà thôi ?
Thật ra, Cựu Ước chưa bao giờ loan báo về “phần rỗi linh hồn” theo như kiểu một số người ngày nay. Những người tín hữu này tưởng cứu được linh hồn mình, trong khi, bằng thái độ giả câm giả mù, chính họ ngày ngày là kẻ tòng phạm làm cho tội lỗi thâm nhiễm toàn bộ đời sống xã hội và kinh tế.
Cựu Ước đã từng loan báo Chúa Giê-su sẽ là Đấng cứu độ dân tộc và nòi giống của mình. Lời nói, việc làm của Người khơi dậy niềm hy vọng trong lòng kẻ yếu thế, và mở đường giải phóng nhân loại ở mọi lãnh vực. Nhưng đó như là những hạt giống, và cần phải kiên nhẫn chờ đợi mới được thấy nó chín muồi và sinh hoa trái.
Chúa Giê-su chẳng hề ước muốn kết thân với nhóm người cuồng tín, nhóm người bạo động trong dân tộc mình, để áp đặt trên đất nước một chủ quyền nào đó có lẽ cũng tàn bạo không kém gì ách thống trị của người Rô-ma. Người đã làm chứng cho sự thật và đặt nền tảng cho mọi phong trào giải phóng tương lai. Trong thời đại chúng ta cũng vậy, nếu có những hành động giúp cho con người được giải phóng thì có thể nói đến chuyện rao giảng Tin Mừng.
Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn (c.18) : x. phần bình giải Lc 6,17.
Trong phần hai, thánh Lu-ca giải thích tại sao dân Na-da-rét đã chối bỏ Chúa Giê-su :
– Trước hết, vì họ kiêu ngạo : nhiều người hăm hở chạy theo một người lạ, nhưng không chấp nhận thấy một người cùng giới với mình tự nhiên nổi danh hoặc lên chức làm thầy mình : Ông này không phải là con ông Giu-se đó sao ? (x. phần bình giải Mc 6,1).
– Vì họ ích kỷ : họ không chấp nhận thấy người khác được hưởng ơn lộc của Thiên Chúa. Vậy Chúa Giê-su nhắc cho họ nhớ rằng các ngôn sứ thời xưa đâu chỉ làm ơn cho những người đồng hương của các ông mà thôi (x. 1 V 17,7 và 2 V 5).
-- Trích sách Lẽ Sống
-33 Năm Sau-
Với tựa đề "33 năm sau", đó là một câu chuyện thuật lại như sau: "Những gì đã xảy ra cho đứa bé năm nào?". Một trong ba vua đã đi triều bái vua Do Thái mới sinh tự hỏi. Suốt cuộc đời mình, nhà vua không thể nào quên được cuộc hành trình cách đây khoảng 33 năm, một cuộc hành trình dõi theo ánh sáng sao lạ dẫn ông đến hang đá Bêlem.
Câu hỏi: "Liệu đứa bé ấy có trị vì dân Israel được không?". Làm cho nhà vua bồn chồn đứng ngồi không yên. Rồi chẳng dừng được, một lần nữa nhà Vua quyết định lên đường đi đến Palestine. Tại Giêrusalem, những bậc bô lão còn nhớ đến những vì sao lạ, nhưng không ai biết gì đến đứa bé được sinh ra dưới điềm lạ ấy. Còn tại Bêlem mọi người được hỏi đều lắc đầu, ngoại trừ một cụ già cho nhà Vua biết: Làm gì có ông Giêsu Bêlem, chỉ có ông Giêsu Nagiarét, một người nói phạm thượng tự xưng mình là Con Thiên Chúa, nên cách đây mấy tuần đã bị xử "tử hình thập giá".
Thất vọng ê trề, nhà Vua thẫn thờ nhập vào đoàn những người hành hương trở lại Giêrusalem, vào đúng ngày Lễ Ngũ Tuần. Chen lấn vào đoàn lũ đang mừng lễ Tạ Ơn Sau Mùa Gặt, nhà Vua chú ý đến một đám đông đang bu quanh một nhóm người. Tò mò ông lấn qua đám đông để đến gần và nghe có kẻ nói: "Tưởng gì chứ lại gặp mấy tên say rượu nói tầm xàm".
Nhưng tai nhà Vua lại nghe một người trong nhóm nói tiếng nước mình và rõ ràng ông ta nói về ông Giêsu Nagiarét, người đã bị đóng đinh, nhưng đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết. Như bị một sức mạnh vô hình thúc đẩy, nhà Vua chen vào đám đông cất tiếng hỏi: "Vậy bây giờ ông Giêsu đó ở đâu?". Ðại diện nhóm người đứng ở giữa đám đông là Simon Phêrô trả lời: "Ngài đang ở giữa chúng tôi. Ngài đang ở trong chúng tôi. Chúng tôi là môi miệng, là tai mắt, là đôi tay, là đôi chân của Ngài".
Trong lúc Phêrô đang nói, bỗng có một luồng gió thổi mạnh và hình lưỡi lửa một lần nữa thổi tràn xuống mọi người. Nhà Vua bỗng lại thấy ánh sao Bêlem, nhưng lần này ánh sao ấy chia ra nhiều ánh sao khác rơi xuống mọi người. Trong tâm hồn, nhà Vua chợt hiểu: Mỗi người phải trở nên máng cỏ nơi Ðức Giêsu sinh ra và mỗi người phải mang Ngài đến cho mọi người xung quanh.
Câu chuyện trên nối liền ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh, mừng biến cố Ngôi Lời nhập thể với Lễ Tưởng Niệm Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Ðồng thời câu chuyện cũng nêu nổi bật bổn phận của mọi người Kitô, là những kẻ phải trở nên tai mắt, trở nên môi miệng và chân tay của Ðức Kitô để mang Tin Mừng của Ngài đến cho mọi người chúng ta gặp gỡ và cộng tác hằng ngày.
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống
T Sáu 08/01/2021, sau CN LỄ HIỂN LINH (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
--Bài đọc 1 (1Ga 5,5-13)
Thần Khí, nước và máu.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.
5Anh em thân mến,
ai là kẻ thắng được thế gian,
nếu không phải là người tin rằng
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa ?
6Chính Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đến, nhờ nước và máu ;
không phải chỉ trong nước mà thôi,
nhưng trong nước và trong máu.
Chính Thần Khí là chứng nhân,
và Thần Khí là sự thật.
7Có ba chứng nhân :
8Thần Khí, nước, và máu.
Cả ba cùng làm chứng một điều.
9Chúng ta vẫn nhận lời chứng của người phàm,
thế mà lời chứng của Thiên Chúa còn cao trọng hơn,
vì đó là lời chứng của Thiên Chúa,
lời Thiên Chúa đã làm chứng về Con của Người.
10Ai tin vào Con Thiên Chúa,
người đó có lời chứng ấy nơi mình.
Ai không tin Thiên Chúa,
thì coi Thiên Chúa là kẻ nói dối,
vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa
đã làm chứng về Con của Người.
11Lời chứng đó là thế này :
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống đời đời,
và sự sống ấy ở trong Con của Người.
12Ai có Chúa Con thì có sự sống ;
ai không có Con Thiên Chúa thì không có sự sống.
13Tôi đã viết những điều đó cho anh em
là những người tin vào danh Con Thiên Chúa,
để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời.
--Tin Mừng (Lc 5,12-16)
Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh.
✠Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
12 Khi ấy, Đức Giê-su đang ở trong một thành kia ; có một
người toàn thân mắc bệnh phong vừa thấy Người, liền sấp mặt xuống, xin Người
rằng : “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” 13
Người giơ tay đụng vào anh và bảo : “Tôi muốn, anh hãy được sạch.” Lập tức,
bệnh phong biến khỏi anh. 14 Rồi Người ra lệnh cho anh không được
nói với ai, và Người bảo : “Hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được sạch,
thì hãy dâng của lễ như ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.”
15 Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng ; dân chúng lũ lượt
tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. 16 Nhưng Người lui vào
những nơi hoang vắng mà cầu nguyện.
-- Trích sách Lẽ Sống
-Sứ Giả Hòa Bình-
Thánh Phanxico Assisi, vị sứ giả Hòa Bình, không những đã có một tình bác ái cao độ đối với con người, Ngài còn trải dài tinh yêu thương ấy đến cả muôn vật, cỏ cây.
Cây cỏ gợi lại cho Thánh nhân chính Cây thập giá của Chúa Giêsu, do đó, Thánh nhân cảm thấy thương tâm vô cùng mỗi khi có người hành hạ cây cỏ. Ngài nói với người làm vườn như sau: Anh hãy để lại một góc vườn nguyên vẹn. Ðừng sờ đến cây cỏ, hãy để cho chúng sinh sôi nảy nở và lớn lên, ngay cả cỏ dại và hoa dại.
Mỗi lần đi qua góc vườn ấy, Ngài bước đi nhẹ nhàng và cẩn thận để không sát hại bất cứ một loại sâu bọ, côn trùng nào. Gặp người ta mang chiên và chim rừng ra chợ bán, Ngài mua hết để rồi phóng sinh chúng.
Ngài nói với chim chóc như sau: "Hỡi những người anh em nhỏ bé của tôi, anh em phải ca ngợi Ðấng Tạo Hóa hơn ai hết, vì Ngài đã ban cho anh em bộ lông đẹp, giọng hát hay cũng như lúa thóc anh em ăn thỏa thuê mà không phải gieo vãi".
Với chú chó sói, thánh nhân nhắn nhủ: "Anh sói ơi, anh quả thật đáng chết, vì anh đã cắn xé trẻ em. Anh hãy làm hòa với loài người. Từ nay, anh hãy ăn ở hiền lành và mọi người sẽ cung cấp đầy đủ cho anh". Chú sói ấy đã cùng với thánh nhân lên tỉnh và trở thành người bạn thân của các trẻ em ở Gubbio.
Một con người có tâm hồn như thế quả thực xứng đáng được chọn làm sứ giả Hòa Bình qua mọi thời đại.
Năm 1979, Ðức Gioan Phaolô II đã công bố Thánh Phanxico là quan thầy của những người khởi xướng phong trào của những người bảo vệ môi sinh. Ngài nói trong phần mở đầu sứ điệp Hòa Bình năm 1990 như sau: "Ngày nay, con người mỗi lúc một ý thức rằng Hòa Bình của thế giới không những chỉ bị đe dọa vì cuộc chạy đua võ trang, vì các xung đột giữa các vùng và những bất công liên tục giữa các dân tộc và quốc gia, nhưng còn bởi vì thiếu tôn trọng đối với thiên nhiên nữa".
Ðức Gioan Phaolô II đã nói đến việc bảo vệ và tôn trọng môi sinh như một nghĩa vụ luân lý.
Người Kitô nhận thức được nghĩa vụ ấy, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn vật tốt đẹp và để con người hưởng dụng một cách hợp lý. Trong phần kết thúc sứ điệp, Ðức Thánh Cha đã nhắc đến Thánh Phanxico Assisi như mẫu gương của sự tôn trọng đối với thiên nhiên vạn vật. Thánh nhân đã mời gọi vạn vật dâng lời chúc tụng và thờ lạy Thiên Chúa. Trong sự bình an của Thiên Chúa, Thánh nhân kiến tạo ngay cả sự hòa hợp với thiên nhiên và sự hòa hợp ấy cũng là điều kiện tiên quyết để được hòa bình với tha nhân.
----------------Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống
T Bảy 09/01/2021, sau CN LỄ HIỂN LINH (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
--Bài đọc 1 (1Ga 5,14-21)
Chúa nhậm lời chúng ta, khi chúng ta xin điều hợp ý Người.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.
14Anh em thân mến,
lý do khiến chúng ta được mạnh dạn
trước mặt Thiên Chúa, đó là :
Người nhậm lời chúng ta, khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người.
15Nếu chúng ta biết rằng Người nhậm mọi lời chúng ta xin,
thì chúng ta cũng biết rằng
chúng ta sẽ được những gì chúng ta đã xin Người.
16Nếu ai biết anh em mình phạm thứ tội
không đưa đến cái chết, thì hãy cầu xin,
và Thiên Chúa sẽ ban sự sống cho người anh em ấy ;
đó là nói về những ai phạm thứ tội không đưa đến cái chết.
Có một thứ tội đưa đến cái chết,
tôi không bảo phải cầu xin cho những người phạm thứ tội ấy.
17Mọi điều bất chính đều là tội,
nhưng có một thứ tội không đưa đến cái chết.
18Chúng ta biết rằng phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra,
người đó không phạm tội ;
nhưng có Đấng Thiên Chúa đã sinh ra giữ gìn người ấy,
và Ác thần không đụng đến người ấy được.
19Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Thiên Chúa,
còn tất cả thế gian đều nằm dưới ách thống trị của Ác thần.
20Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến
và ban cho chúng ta trí khôn để biết Thiên Chúa thật.
Chúng ta ở trong Thiên Chúa thật,
ở trong Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô.
Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa thật và là sự sống đời đời.
21Hỡi anh em là những người con bé nhỏ,
hãy tránh xa các tà thần !
--Tin Mừng (Ga 3,22-30)
Người bạn của chú rể vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói
của chàng.
✠Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
22 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đi tới miền Giu-đê. Người
ở lại nơi ấy với các ông và làm phép rửa. 23 Còn ông Gio-an, ông
cũng đang làm phép rửa tại Ê-nôn, gần Sa-lim, vì ở đấy có nhiều nước, và người
ta thường đến chịu phép rửa. 24 Lúc ấy, ông Gio-an chưa bị tống
giam.
25 Bấy giờ, có một cuộc tranh luận xảy ra giữa các môn đệ của
ông Gio-an và một người Do-thái về việc thanh tẩy. 26 Họ đến gặp ông
Gio-an và nói : “Thưa thầy, người trước đây đã ở với thầy bên kia sông Gio-đan
và được thầy làm chứng cho, bây giờ ông ấy cũng đang làm phép rửa, và thiên hạ
đều đến với ông.” 27 Ông Gio-an trả lời : “Chẳng ai có thể nhận được
gì mà không do Trời ban. 28 Chính anh em làm chứng cho thầy là thầy
đã nói : ‘Tôi đây không phải là Đấng Ki-tô, mà là kẻ được sai đi trước mặt
Người.’ 29 Ai cưới cô dâu, người ấy là chú rể. Còn người bạn của chú
rể đứng đó nghe chàng, thì vui mừng hớn hở vì được nghe tiếng nói của chàng. Đó
là niềm vui của thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. 30 Người phải
nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi.”
--Chú thích Ga:
* 3,22 Tin Mừng ngụ ý rằng nhiều môn đệ của ông Gio-an Tẩy Giả không đón nhận Chúa Giê-su. Những người môn đệ này đã được gương sáng của thầy mình chinh phục : ông Gio-an là người cục mịch ăn nói thẳng thừng, rất nghiêm khắc trong cái ăn, cái uống hay cái mặc. Có thể điều rất hệ trọng đối với họ là Thiên Chúa phải biểu lộ sự công bằng của Người bằng cách trừng phạt kẻ ác cho đích đáng. Cũng như nhiều người hăng say tranh đấu cho bất kỳ một chính nghĩa nào, các môn đệ của ông Gio-an quá gắn bó với người hùng của mình nên không dễ đón nhận người khác. Để trở thành môn đệ Đức Ki-tô, chúng ta nhiều khi phải thấy xa hơn người mà chúng ta tôn là ngôn sứ.
Vị ngôn sứ vĩ đại nhất khẳng định : Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi (c.30). Chỉ một mình Chúa Giê-su đến từ trời cao và có thể làm thoả mãn trái tim con người. Nơi Người, không có gì tốt lành bị mất đi, vì Người hàm chứa tất cả.
Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa ở lại trên người ấy (c.36). Những ai không đón nhận Con Thiên Chúa thì vẫn ở nguyên trong tình trạng như khi con người bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng. Nếu họ không thể chấp nhận lời chứng của Chúa Con, Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, thì họ không bao giờ giải quyết được các mâu thuẫn trong cuộc sống của họ và trong cái thế giới họ đang sống.
-- Trích sách Lẽ Sống
-Cánh Cửa Sổ-
Trong nhiều năm qua, cứ mỗi lần mùa Giáng Sinh đến, một đài truyền hình bên Phi Luật Tân đều cho trình chiếu một phim ca vũ nhạc kịch mang tựa đề: "Tiếng âm nhạc".
Trong cuốn phim, một nữ tập sinh thủ vai chính mang tên là Maria phải trạm trán với một quyết định quan trọng có thể thay đổi cả hướng đi của cuộc đời cô: Một là tiếp tục đường tu, hai là chấp nhận đóng vai trò làm mẹ của 7 đứa bé mồ côi. Cô đã thốt lên một câu mang đầy ý nghĩa: "Khi Thiên Chúa đóng cửa chính, thì ở đâu đó trong gian nhà, Ngài luôn mở một cánh cửa sổ".
Trong cuộc sống, hàng triệu nguời mang niềm tin Kitô hình như cũng phải đương đầu với những cửa chính bị đóng kín mang nhiều hình thức của: những thử thách, đàn áp, nghi kỵ, thất bại, bệnh tật v.v… Nhưng họ luôn luôn ngẩng cao đầu lên để thưa: "Amen", một lời thưa, một câu nói biểu lộ niềm tin không bao giờ xao xuyến, lung lay bất chấp mọi nghịch cảnh.
Họ có thể so sánh với những vĩ nhân trên thế giới đã từng thực hiện được những kỳ công bất chấp những khó khăn có thể so sánh với những then cài: - Họ giống như văn sĩ John Milton hoàn thành hai tuyệt tác văn chương mang tựa đề là: "Thiên Ðàng đã mất" và "Thiên Ðàng được tìm lại", trong lúc đã sống hoàn toàn trong đêm tối dày đặc, không thấy được một tia sáng mặt trời, không ngắm được các màu sắc sặc sỡ của một cánh hoa cũng như không thể thả hồn theo mộng trước những vẻ đẹp của thiên nhiên, - Họ giống như nhạc sĩ Beethoven sáng tác những khúc đại hòa tấu xuất sắc nhất, kể cả đại khúc giao hưởng thứ 9, trong lúc ông đã không nghe được một tiếng chim hót, một tiếng suối chảy róc rách hay một tiếng khóc của trẻ thơ vì đôi tai ông bị điếc hoàn toàn.
"Khi Thiên Chúa đóng cửa chính, thì ở đâu đó trong gian nhà, Ngài luôn mở một cánh cửa sổ".
Bước vào cuộc sống hằng ngày của năm mới, chúng ta, những người mang niềm tin Kitô, phải khám phá ra những cửa sổ bé nhỏ Thiên Chúa luôn hé mở để cho chúng ta thấy:
Một tia sáng trong những vấn đề chúng ta tưởng là hoàn toàn đen tối. - Một luồng gió mát trong những hoàn cảnh chúng ta tưởng là hoàn toàn ngột ngạt khó thở. - Một tia hy vọng trong những trường hợp chúng ta tưởng là hoàn toàn tuyệt vọng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét