Lời
Chúa và chú thích T Hai, Mùng 3 Tết 27/1/2020, thánh hóa công ăn việc làm (Bản
văn và chú thích từ CGKPV-LCCMN)
Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh !’
Bài Đọc I:
*4bNgày ĐỨC
CHÚA là Thiên Chúa làm ra đất và trời, 5chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ
ngoài đồng nào mọc lên, vì ĐỨC
CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người
để canh tác đất đai. 6Nhưng
có một dòng nước từ đất trào lên và tưới khắp mặt đất. 7ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi
từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một
sinh vật. 8Rồi ĐỨC CHÚA là
Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con
người do chính mình nặn ra.
9ĐỨC CHÚA là
Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với
cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.
15ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đem con
người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai. (St 2,4b-9.15)
Chú
thích:
* 2,4b Sau cuộc sáng
tạo vũ trụ ở chương đầu của Sáng thế, Kinh Thánh giới thiệu với chúng
ta một trình thuật cổ xưa hơn nhiều : người nam và người nữ trong vườn địa
đàng. Đối với chúng ta thì đấy là giấc mộng về một hạnh phúc đã mất, nhưng tác
giả câu chuyện không nghĩ thế. Thời đó, người ta không thắc mắc : Chúng ta đang
đi về đâu ? Người ta chỉ nghĩ rằng thời xửa thời xưa, thuở ban đầu, Thiên Chúa,
hoặc các thần đã thiết lập mọi vật thế nào thì chúng sẽ phải là thế, và vì vậy
mà cái gì cũng tốt đẹp hết. Vậy, sự tích về cặp vợ chồng đầu tiên là một tấm
gương trong đó người ta muốn nhìn lại được con người đang hiện hữu, các chọn
lựa và tương lai của họ.
Vậy,
chúng ta đừng mơ mộng về một con người đầu tiên thuộc loại A-đam / Tạc-dăng
kiểu Hollywood, đã phạm một tội kếch sù khiến cho nhân loại phải chuốc lấy tất
cả mọi khốn khổ hiện nay. Một số “giáo phụ” thời đầu nhìn rõ hơn, khi các ngài
coi lịch sử nhân loại như là được hướng dẫn bởi đường lối sư phạm của Thiên
Chúa, Đấng muốn cho “A-đam”, tức là nhân loại lớn lên, và đưa nó tới tuổi
trưởng thành (Ep 4,13).
Ở đây,
Đức Chúa, Thiên Chúa chí thánh, là sở hữu chủ của một thửa vườn kỳ diệu (Ê-đen
có nghĩa là hoan lạc), nơi mà Người thích đi dạo sau buổi trưa nóng bức (3,8).
Chúng ta không cần phải tưởng tượng ra một khung cảnh bao la : chỉ có hai cái
cây, con người và bạn đời của nó. Các sinh vật chỉ diễu qua để xem con người gọi tên chúng là gì : điều này
có nghĩa là chúng sẽ luỵ phục con người. Tuy nhiên, khu vườn của đôi vợ chồng
có nhỏ mấy đi nữa, thì chuyện sắp xảy ra ở đây cũng sẽ quyết định số phận của
cả địa cầu. Cũng vậy, ở đầu trình thuật, con suối nhỏ của Ê-đen cung cấp nước
cho các con sông lớn của thế giới, trong số đó có sông Êu-phơ-rát và sông
Ghi-khôn cách nhau cả mấy ngàn cây số.
Phải nói
về ông A-đam hay về con người ? Trong tiếng Híp-ri, A-đam có nghĩa là người. Khi từ này không có mạo từ đi trước
(ở 5,1 ; 5,3) thì là tên riêng và chúng tôi dịch là A-đam.
Thế nhưng ở đây Sách Thánh viết ha A-đam,
tức là con người. Về chuyện này, xin
nhắc lại lời của O-ri-giê-nê, nhà chuyên môn Kinh Thánh vĩ đại của tk III, như
sau : Chỉ những ai biết rằng trong tiếng
Híp-ri, A-đam có nghĩa là “người”, mới hiểu được ý nghĩa sâu xa của trình thuật
này. Trong những đoạn sách được viết ra như lịch sử của A-đam thì ông Mô-sê đưa
ra cho chúng ta giáo huấn của ông về bản tính loài người.
Đức Chúa,
người thợ thủ công lành nghề, vừa nhào nắn nắm bụi đất bằng đôi tay của mình,
vừa ngắm nhìn kẻ chưa có thể biết được Người, đồng thời chuẩn bị cho nó đón
nhận sinh khí và sự sống từ chính hơi thở của Người.
Sự hài
hoà giữa con người với vũ trụ tạo thành : con người ở Ê-đen như trong một ốc
đảo giữa sa mạc, đôi vợ chồng thì hợp nhất, đó là toàn thể thiên nhiên trong
trật tự tốt đẹp.
Con người
được đặt trong vườn để canh tác : khi làm chủ thế giới là nhân loại xây dựng
chính mình ; nhân loại phải vất vả suốt nhiều thế kỷ để tự phát triển, để tự
biết về mình và để biết mình có khả năng làm được gì.
Thiên
Chúa rời đi, nhưng con người sống nhờ ơn Thiên Chúa ban (cây trường sinh thời
xưa được coi như đặc quyền của các thần), mà hơi thở của Người giữ gìn cho con
người tỉnh thức và không ngủ gục cũng chẳng trở lại tình trạng con người xuất
phát. Nếu Thần Khí bỏ rơi con người, trong một vài giây lát hay một vài thế hệ,
con người sẽ trở về bụi đất : con người, tức là bạn và tôi, các gia đình và nền
văn minh. Người ta rêu rao rằng Thiên Chúa đã chết, nhưng thật ra, khi không có
Thiên Chúa, chính con người mới tiêu vong cùng với sự nghiệp của nó.
Cây cho biết điều thiện điều ác là gì ? Điều
thiện điều ác có nghĩa là cái tốt, hữu ích, và cái không tốt, vô ích. Như vậy,
cây này là cây làm cho nên khôn, biết nghệ thuật sống và được hạnh phúc. Thiên
Chúa mở cho con người một con đường khôn ngoan, nhưng con người thì tự do. Liệu
con người có chấp nhận không tự mình chiếm lấy khôn ngoan, chấp nhận không tự
quyết, như chủ tể, điều gì là tốt cho mình ?
Con người ở một mình thì không tốt (2,18). Thiên
Chúa là Đấng không biết đến cô đơn, sáng tạo nên hai giới nam, nữ, không phải
như phương thế bắt buộc để truyền sinh, nhưng để cho vợ chồng kết hợp trong
tình yêu, sự trao hiến chính mình và chia sẻ hạnh phúc với nhau.
Con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng (2,20). Cuộc
diễu hành của các giống vật giúp khám phá ra giá trị duy nhất của phụ nữ : một
người bạn đời chứ không phải là tỳ nữ.
Con người thiếp đi (2,21) để Thiên Chúa có thể thực hiện một biến đổi nơi con
người : hai người sẽ thành một, và đó là một cuộc sinh ra mới nữa đối với cả
hai.
Nàng sẽ được gọi là đàn bà Trong tiếng Híp-ri, các từ đàn
ông, đàn bà bắt đầu bằng cũng một vần : đấy là biểu tượng cho quan hệ thân tộc
sâu xa. Thế nhưng, dân Ít-ra-en xưa, cũng như chúng ta ngày nay, quên mất quan
hệ này là mối quan hệ loại trừ mọi quyền thống trị. Về vấn đề này, x. Mt 2,15 ;
Lc 8,1 ; 1 Cr 7,4.10 ; Ep 5,31.
Bởi thế người đàn ông lìa cha mẹ. Phong tục Do-thái
xưa đòi người phụ nữ phải xuất giá tòng phu để gia nhập dòng họ nhà chồng.
Nhưng khi ấy người ta cũng nhắc lại rằng thời xửa thời xưa thì ngược lại :
người chồng gia nhập dòng họ người vợ. Thật ra, cả hai bên đều phải rời khỏi
môi trường gia đình của mình để lập một tổ ấm mới.
Và cả hai thành một xương một thịt : trong tiếng
Híp-ri điều này có nghĩa là họ thành một. Tính duy nhất này của đôi lứa là một
phần của sứ mạng vợ chồng phải thi hành ; đó không phải là một thoả thuận tạm
thời để hai bên tận hưởng nhau, nhưng họ làm nên một gia đình, nơi đó công
trình của Thiên Chúa được thực hiện. Vậy gia đình sẽ sinh con đẻ cái và như thế
hai người sẽ trả lại cho đại gia đình nhân loại kho báu nhân tính mà họ đã nhận
được từ đó.
Không thể
nào đọc lại lời này mà không nhớ đến cách thức lời ấy đã được Tin Mừng lấy lại
(Mt 19,10). Những lời Chúa Giê-su nói về hôn nhân sẽ nằm trong số những lời của
Người gây khó hiểu nhất. Dầu sao thì ý muốn của Thiên Chúa trong bản văn cổ xưa
này là rõ : những năm tháng sống chung, những cố gắng để nghe nhau, thông cảm
nhau và cùng nhau đi đến những quyết định, khả năng tha thứ và mãi mãi trung
thành với nhau, những phiêu lưu cùng chấp nhận để cho ra đời và giáo dục cả một
gia đình : đấy là những phương thế dần dần biến đổi vợ chồng, làm cho họ đạt
được sự trưởng thành và biết được ý nghĩa trách nhiệm của họ. Và chính đó là
điều Thiên Chúa muốn thấy được nơi họ khi họ kết thúc cuộc đời, khi mà Người sẽ
là tất cả trong mọi người.
Cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau. Trong văn hoá
Híp-ri, trần truồng là không được bảo vệ. Vậy, ở đây chúng ta hãy hiểu rằng vợ chồng với nhau, có sao thì chấp nhận nhau như
vậy mà không lạm dụng những yếu đuối của nhau (TOB).
KINH THÁNH VÀ TIẾN HOÁ
Chúng ta
thừa biết rằng trình thuật này không hề có tham vọng mô tả chuyện loài người
xuất hiện thế nào và vì thế không mâu thuẫn với khoa học. Nếu bây giờ chúng ta
đặt câu hỏi : Thời tiền sử của loài người là gì ? Loài người liên hệ thế nào
với các hình thức khác của đời sống sinh vật ? Đấy là những thắc mắc mà những
con người xưa không đặt ra và Lời của Thiên Chúa cũng không có câu trả lời về
vấn đề này. Thiên Chúa để cho chúng ta tìm hiểu lấy : đó là việc của các nhà
khoa học.
Có những
người bị dội vì con người được làm ra từ bụi : nhưng trong văn chương Đông
Phương cổ thời, tất cả các thần đều tạo dựng các sinh vật từ bùn. Tác giả trình
thuật này đã theo văn học dân gian của thời mình và đã dùng lại những thần
thoại nhưng đưa vào đó một ý nghĩa mới.
Có những
người lại rất ấn tượng với các giả thuyết duy vật –xưa lắm rồi– và về chuyện
các giả thuyết ấy sử dụng thuyết tiến hoá, nên ở đây cần nói một chút về vấn đề
này. Khi người ta nghĩ rằng có sự mâu thuẫn giữa đức tin và quan niệm về một
thế giới đang tiến hoá, thì thường là do người ta lẫn lộn ba vấn đề rất khác
nhau :
1/ Có
những tiến hoá của toàn thể vũ trụ và cách riêng của các sinh vật không ? Có
thể nói rằng tất cả các giống loại còn hiện hữu hoặc đã biến mất đều là một
phần của cùng một gia đình và giống này xuất phát từ giống kia không ? Ngày nay
tất cả những ai đã nghiên cứu các sự kiện đều trả lời là có.
2/ Đâu là
nguyên nhân của một cuộc tiến hoá như thế ? Phải thú nhận rằng người ta chẳng
biết gì về điều đó. Người ta biết được nguyên nhân của một vài tiến hoá nhỏ,
nhưng cho tới nay người ta chưa biết được điều cốt yếu của tiến hoá. Và từ đó
có câu trả lời cho vấn đề thứ ba.
3/ Các
giả thuyết về tiến hoá có nghịch với đức tin không ? Các giả thuyết này không
còn thuộc về khoa học nữa, nhưng thuộc về triết học hoặc tưởng tượng, cho dù đã
được những nhà khoa học nổi tiếng như ông Đác-uynh xưa đưa ra. Một tín hữu hay
một người duy vật được hoàn toàn tự do chấp nhận những quan điểm trái nghịch
nhau.
Một ghi
nhận cuối cùng nữa. Điều lạ lùng nơi con người, là mỗi người nhận lãnh từ Thiên
Chúa thần khí, nhờ đó con người là một ngôi vị theo hình ảnh Thiên Chúa. Điều
đó chẳng thay đổi gì nếu chúng ta nhận lãnh thân xác chúng ta từ cha mẹ là
những con người, còn những con người đầu tiên thì nhận lãnh từ tổ tiên họ là
những thú vật. Thiên Chúa là Đấng đã khởi xướng và hướng dẫn toàn bộ cuộc tiến
hoá của các sinh vật để cho nó kết tinh nơi con người là tột đỉnh trong chương
trình của Thiên Chúa.
MỘT SỨ ĐIỆP MANG TÍNH TIÊN TRI
Như chúng
tôi đã nói về chương đầu, Tân Ước tìm lại được trong các bản văn cổ xưa này một
nét phác thảo cho những gì sau này sẽ thành rõ ràng trong
Đức Ki-tô.
Nếu A-đam
đại diện cho tất cả loài người, một loài duy nhất trong nguồn gốc và trong vận
mệnh của nó, thì Đức Ki-tô là A-đam đích thực. Ngay từ đầu cuộc sáng tạo, Đức
Ki-tô đã hiện diện trong tư tưởng của Thiên Chúa. Trong
Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã ban phúc lành cho loài người, trong đó mỗi người
có những nét độc đáo của mình, mà vẫn không tách rời khỏi toàn thể (Ep 1,10).
Tổ tiên
thứ nhất của chúng ta theo xác phàm hẳn là đáng được tưởng nhớ với lòng yêu
mến, nhưng vị thứ hai mới đáng kể, vì Người là Con Người, Đấng ban cho ta Thần
Khí (1 Cr 15,45-49).
Về phần
mình, đôi vợ chồng được giới thiệu như hình ảnh đích thực của một Thiên Chúa mà
trong chính bản tính của Người, Người là hiệp thông vĩnh cửu. Khi tạo dựng lứa
đôi, Thiên Chúa cho chúng ta hiểu được phần nào về mầu nhiệm Đức Ki-tô, Đấng
đến với cả nhân loại như là Hôn Phu (Mc
2,19). Bà E-và xuất phát từ cạnh sườn ông A-đam khi ông đang ngủ ; từ cạnh sườn
Đức Ki-tô đã chết trên thập giá, nước và máu trào ra (Ga 19,34) báo trước việc
sinh ra của một Hội Thánh đã được thanh tẩy bằng nước của phép rửa và máu Đức
Ki-tô (Ep 5,26-31).
Bài
Đọc II:
32“Giờ
đây, tôi xin phó thác anh em cho Thiên Chúa và cho lời ân sủng của Người, là
lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả
những người đã được thánh hiến.
33“Vàng
bạc hay quần áo của bất cứ ai, tôi đã chẳng ham. 34Chính anh em biết rõ : những gì cần thiết cho tôi và cho những
người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. 35Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau
yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã
dạy : cho thì có phúc hơn là nhận.” (Cv 20,32-35)
Tin
Mừng:
*14“Quả thế, cũng như
có người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ đến mà giao phó của cải mình cho họ. 15Ông cho người này
năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi
người. Rồi ông ra đi. Lập tức, 16người đã lãnh năm
yến lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm yến khác. 17Cũng vậy, người đã
lãnh hai yến gây lời được hai yến khác. 18Còn người đã lãnh
một yến thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc của chủ. 19Sau một thời gian
lâu dài, ông chủ đến tính sổ với các đầy tớ và thanh toán sổ sách với họ. 20Người đã lãnh năm
yến tiến lại gần, đưa năm yến khác, và nói : ‘Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi
năm yến, tôi đã gây lời được năm yến khác đây.’ 21Ông chủ nói với
người ấy : ‘Khá lắm ! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành ! Được giao ít mà anh
đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của
chủ anh !’ 22Người đã lãnh hai
yến cũng tiến lại gần và nói : ‘Thưa ông chủ, ông đã giao cho tôi hai yến, tôi
đã gây lời được hai yến khác đây.’ 23Ông chủ nói với
người ấy : ‘Khá lắm ! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành ! Được giao ít mà anh
đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của
chủ anh !’ 24Rồi người đã lãnh
một yến cũng tiến lại gần và nói : ‘Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà
khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. 25Vì thế, tôi đâm sợ,
mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy !’ 26Ông chủ đáp : ‘Hỡi
đầy tớ tồi tệ và biếng nhác ! Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo, thu nơi không
vãi, 27thì đáng lý anh
phải gửi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn
lời chứ ! 28Vậy các ngươi hãy
lấy yến bạc khỏi tay nó mà đưa cho người đã có mười yến. 29Vì phàm ai đã có,
thì được cho thêm và sẽ có dư thừa ; còn ai không có, thì ngay cái đang có,
cũng sẽ bị lấy đi. 30Còn tên đầy tớ vô
dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài : ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến
răng.’ (Mt 25,14-30)
Chú thích:
* 25,14 Chúa dùng vàng bạc để chỉ những tài
năng thiên phú của chúng ta.
Đầy tớ tài giỏi và trung thành. Nghĩa là “đáng tin cậy”. Trong dụ
ngôn này, không có từ ngữ tôn giáo nào cả : Chúa dựa vào cái cách đầu tư các
tài năng mà đánh giá, và xem là tội khi người ta giữ lại cho mình những gì đã
lãnh nhận. Đó cũng là lời tuyên án cho một xã hội trong đó ai nấy tiêu thụ cái
đã nhận lãnh : được học làm người, những kiến thức đã kế thừa từ quê hương xứ
sở mà không truyền lại cho con cháu, những phúc ấm ông bà để lại qua biết bao
hy sinh, và có thể là lời Chúa nữa, phải tuân hành để thể hiện ý định lớn lao
của Thiên Chúa trên thế giới.
Tôi sẽ giao nhiều (hơn) cho anh. Những gì chúng ta
xây dựng dưới trần gian không phải là cái chung cuộc, đó mới chỉ là giàn giáo :
những của cải mà Thiên Chúa sẽ tặng ban cho những ai sống trong Người sẽ còn
quý hơn gấp bội.
Anh đã biết tôi gặt chỗ không gieo (c.26). Như ở
Lc 18,1, Chúa Giê-su ghi nhận sự ngờ vực để bụng của chúng ta đối với Thiên
Chúa, và Người vịn vào thái độ của chúng ta mà xét xử. Nếu chúng ta không mơ
ước được chỗ mà chàng rể dành cho cô dâu (25,1), ít ra phải cố tránh sao cho
đừng trở nên những đầy tớ vô dụng.
Có nhiều
cơ hội trước mắt để đánh liều và đưa vai gánh vác công việc, mà thường thì
chúng ta hay sợ không dám xung phong : “Tôi không phải là người có tư cách
nhất.” – Nhưng nếu những người có tư cách lại không nhúc nhích ? Vậy hãy lấy
lại cái tài năng họ đang có mà cho người khác.
CUỘC PHÁN XÉT CHUNG-------------------------
Lời
Chúa và chú thích T Tư sau CN III TN, năm chẵn (Bản văn và chú thích từ
CGKPV-LCCMN)
14 Người gieo giống đây là người gieo lời
Tôi cầu nguyện:(TTL)
-
Lạy Thầy hết sức mến yêu của con, Lời hằng tồn
tại và vượt qua không thời gian để dến tận ngóc ngách thẳm sâu trong tâm hồn
mỗi người chúng con. Con mong muốn trở nên thửa đất phì nhiêu, không cỏ dại gai
góc và tràn ngập nắng vàng để Lời Thầy đơm hoa kết trái. Khi điược biến đổi nên
mảnh đất tốt rồi, con lại mong muốn bước theo Thầy để có thể gieo Lời đến bao
thửa đất khác.
Con hiểu, không thể mỗi
lần đọc hay nghe Lời là con sẽ hiểu được Lời, nhưng dù hiểu ít, hiểu nhiều hay không
hiểu, hiểu đúng hay sai thì con vẫn cần đọc đi đọc lại, nghe đi nghe lại để Lời
có thể chạm sâu vào con. Con hiểu Thần Khí Chúa luôn hoạt động qua các thừa tác
viên có chức thánh trong Hội Thánh của Thầy, cũng là Hội Thánh của chúng con;
con biết ơn những người hướng dẫn Lời cho con. Con hết lòng cảm tạ Thầy, Lời Thầy
Hằng Sống và Hiển trị đến muôn thuở muôn đời, Amen.
Bài
Đọc:
4 Nhưng ngay đêm ấy, có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Na-than rằng:
5 "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: ĐỨC CHÚA phán thế này: Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao?6 Thật vậy, từ ngày Ta đưa con cái Ít-ra-en lên từ Ai-cập cho tới ngày hôm nay, Ta không hề ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã nay đây mai đó trong một cái lều và trong một nhà tạm.7 Trong suốt thời gian rày đây mai đó với toàn thể con cái Ít-ra-en, có bao giờ Ta đã lên tiếng hỏi một trong các thủ lãnh Ít-ra-en mà Ta đã đặt lên chăn dắt dân Ta là Ít-ra-en: "Sao các ngươi không xây cho Ta một ngôi nhà bằng gỗ bá hương?8 Bây giờ ngươi hãy nói với tôi tớ Ta là Đa-vít như sau: ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en.9 Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi; mọi thù địch ngươi, Ta đã diệt trừ cho khuất mắt ngươi. Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi lẫy lừng, như tên tuổi những bậc vĩ nhân trên mặt đất.10 Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en một chỗ ở, Ta sẽ định cư chúng, và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ không còn run sợ, và quân gian ác cũng không còn tiếp tục áp bức chúng như thuở ban đầu,11 kể từ thời Ta đặt các thủ lãnh cai quản dân Ta là Ít-ra-en. Ta sẽ cho ngươi được thảnh thơi, không còn thù địch nào nữa, ĐỨC CHÚA báo cho ngươi biết là ĐỨC CHÚA lập cho ngươi một nhà.12 Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền.13Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi.14 Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Khi nó phạm lỗi, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm, bằng đòn của con người.15 Tình thương của Ta sẽ không rời khỏi nó, như Ta đã cho rời khỏi Sa-un, kẻ Ta đã bắt rời khỏi mặt ngươi.16 Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi."
17 Ông Na-than đã nói lại với vua Đa-vít, đúng y như tất cả những lời ấy và tất cả thị kiến ấy. (2, Sm 7,4-17)
4 Nhưng ngay đêm ấy, có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Na-than rằng:
5 "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: ĐỨC CHÚA phán thế này: Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao?6 Thật vậy, từ ngày Ta đưa con cái Ít-ra-en lên từ Ai-cập cho tới ngày hôm nay, Ta không hề ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã nay đây mai đó trong một cái lều và trong một nhà tạm.7 Trong suốt thời gian rày đây mai đó với toàn thể con cái Ít-ra-en, có bao giờ Ta đã lên tiếng hỏi một trong các thủ lãnh Ít-ra-en mà Ta đã đặt lên chăn dắt dân Ta là Ít-ra-en: "Sao các ngươi không xây cho Ta một ngôi nhà bằng gỗ bá hương?8 Bây giờ ngươi hãy nói với tôi tớ Ta là Đa-vít như sau: ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Chính Ta đã cất nhắc ngươi, từ một kẻ lùa chiên ngoài đồng cỏ, lên làm người lãnh đạo dân Ta là Ít-ra-en.9 Ngươi đi đâu, Ta cũng đã ở với ngươi; mọi thù địch ngươi, Ta đã diệt trừ cho khuất mắt ngươi. Ta sẽ làm cho tên tuổi ngươi lẫy lừng, như tên tuổi những bậc vĩ nhân trên mặt đất.10 Ta sẽ cho dân Ta là Ít-ra-en một chỗ ở, Ta sẽ định cư chúng, và chúng sẽ ở luôn tại đó, chúng sẽ không còn run sợ, và quân gian ác cũng không còn tiếp tục áp bức chúng như thuở ban đầu,11 kể từ thời Ta đặt các thủ lãnh cai quản dân Ta là Ít-ra-en. Ta sẽ cho ngươi được thảnh thơi, không còn thù địch nào nữa, ĐỨC CHÚA báo cho ngươi biết là ĐỨC CHÚA lập cho ngươi một nhà.12 Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền.13Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi.14 Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Khi nó phạm lỗi, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm, bằng đòn của con người.15 Tình thương của Ta sẽ không rời khỏi nó, như Ta đã cho rời khỏi Sa-un, kẻ Ta đã bắt rời khỏi mặt ngươi.16 Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi."
17 Ông Na-than đã nói lại với vua Đa-vít, đúng y như tất cả những lời ấy và tất cả thị kiến ấy. (2, Sm 7,4-17)
Tin Mừng:
*1 Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Một đám người rất đông tụ họp chung quanh Người, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi dưới biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ.2 Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều. Trong lúc giảng dạy, Người nói với họ:
3 "Các người nghe đây! Người gieo giống đi ra gieo giống.4 Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất.5 Có hạt rơi trên sỏi đá, chỗ không có nhiều đất; nó mọc ngay, vì đất không sâu;6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô.7 Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt và không sinh hoa kết quả.8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nó mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả: hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi, hạt thì được một trăm."9 Rồi Người nói: "Ai có tai nghe thì nghe! "
*10 Khi còn một mình Đức Giê-su, những người thân cận cùng với Nhóm Mười Hai mới hỏi Người về các dụ ngôn.11 Người nói với các ông: "Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em; còn với những người kia là những kẻ ở ngoài, thì cái gì cũng phải dùng dụ ngôn,12 để họ có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ."
*13 Người còn nói với các ông: "Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn?*14 Người gieo giống đây là người gieo lời.15 Những kẻ ở bên vệ đường, nơi lời đã gieo xuống, là những kẻ vừa nghe thì Xa-tan liền đến cất lời đã gieo nơi họ.16 Còn những kẻ được gieo trên sỏi đá là những kẻ khi nghe lời thì liền vui vẻ đón nhận,17 nhưng họ không đâm rễ mà là những kẻ nông nổi nhất thời; sau đó, khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì lời, họ vấp ngã ngay.18 Những kẻ khác là những kẻ được gieo vào bụi gai: đó là những kẻ đã nghe lời,19 nhưng những nỗi lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác xâm chiếm lòng họ, bóp nghẹt lời khiến lời không sinh hoa kết quả gì.20 Còn những người khác nữa là những người được gieo vào đất tốt: đó là những người nghe lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả, kẻ thì ba mươi, kẻ thì sáu mươi, kẻ thì một trăm." (Mc 4,1-20)
*1 Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Một đám người rất đông tụ họp chung quanh Người, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi dưới biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ.2 Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều. Trong lúc giảng dạy, Người nói với họ:
3 "Các người nghe đây! Người gieo giống đi ra gieo giống.4 Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất.5 Có hạt rơi trên sỏi đá, chỗ không có nhiều đất; nó mọc ngay, vì đất không sâu;6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô.7 Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt và không sinh hoa kết quả.8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nó mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả: hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi, hạt thì được một trăm."9 Rồi Người nói: "Ai có tai nghe thì nghe! "
*10 Khi còn một mình Đức Giê-su, những người thân cận cùng với Nhóm Mười Hai mới hỏi Người về các dụ ngôn.11 Người nói với các ông: "Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em; còn với những người kia là những kẻ ở ngoài, thì cái gì cũng phải dùng dụ ngôn,12 để họ có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ."
*13 Người còn nói với các ông: "Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn?*14 Người gieo giống đây là người gieo lời.15 Những kẻ ở bên vệ đường, nơi lời đã gieo xuống, là những kẻ vừa nghe thì Xa-tan liền đến cất lời đã gieo nơi họ.16 Còn những kẻ được gieo trên sỏi đá là những kẻ khi nghe lời thì liền vui vẻ đón nhận,17 nhưng họ không đâm rễ mà là những kẻ nông nổi nhất thời; sau đó, khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì lời, họ vấp ngã ngay.18 Những kẻ khác là những kẻ được gieo vào bụi gai: đó là những kẻ đã nghe lời,19 nhưng những nỗi lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác xâm chiếm lòng họ, bóp nghẹt lời khiến lời không sinh hoa kết quả gì.20 Còn những người khác nữa là những người được gieo vào đất tốt: đó là những người nghe lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả, kẻ thì ba mươi, kẻ thì sáu mươi, kẻ thì một trăm." (Mc 4,1-20)
Chú thích:
* 4,1 X. phần bình giải Mt 13,1 và Lc 8,9.
Bây giờ
Mc trình bày cho ta một số dụ ngôn về Nước Thiên Chúa, vì Chúa Giê-su loan báo
: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, và
đây là một sứ điệp mới lạ. Thỉnh thoảng, trong cộng đồng Do-thái thời đó, người
ta nói về Triều Đại Thiên Chúa, nhưng để nói rằng Thiên Chúa sẽ trả tự do cho
dân Người trên đất nước Ít-ra-en và sẽ trừng phạt những kẻ áp bức dân. Chúa
Giê-su khẳng định rằng Thiên Chúa đến ngự trị giữa chúng ta : Nước Thiên Chúa
đã đến rồi, ngay ngoài cửa nhà chúng ta.
Người gieo giống ra đi gieo giống (c.3). Người
ta nôn nóng muốn thu hoạch hoa trái của biết bao đau khổ và xương máu đã đổ ra
trong thời kỳ người Rô-ma đô hộ tại Ít-ra-en. Thế mà Chúa Giê-su nói đến gieo
vãi.
Như vậy,
nghịch lý lớn của Tin Mừng : Nước Thiên Chúa đã đến và, cùng với Nước Thiên
Chúa, ta có được tất cả những gì Thiên Chúa muốn ban cho ta ở trần gian này.
Nhưng thật ra tất cả còn là trong hy vọng (Rm 8,24). Sau hai mươi thế kỷ Ki-tô
giáo, Nước Thiên Chúa vẫn giống như một thửa đất vừa mới được gieo giống.
Một số
hạt giống sinh hoa kết quả và
được nhân lên (c.8). Ai có mắt để nhìn thì không thể không thấy những điều phát
sinh từ Tin Mừng và còn phát sinh tại những nơi Tin Mừng được đón nhận. Nước
Thiên Chúa được biểu lộ trong đời sống và gương sáng của các thánh, dù là được
biết đến hay không. Nền văn hoá Tây Phương có thể chối bỏ Tin Mừng, nhưng không
thể chối rằng văn hoá này đã phát sinh từ tính năng động của Tin Mừng. Tin Mừng
ở đằng sau những công trình đã và đang thực hiện nhằm đem lại hợp nhất và hoà
bình cho thế giới.
Chúa
Giê-su còn mặc khải cho ta nhiều điều khác liên quan đến phẩm giá và trách
nhiệm của con người ; nhưng phải để những điều ấy có thời gian chín muồi và
phát triển trong lòng những người chính trực.
* 4,10 Phần
anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em. Chúa Giê-su
nhắc lại cho các môn đệ biết rằng nếu họ được ở với Người và nghe được lời
Thiên Chúa từ miệng Người, thì tất cả đều do ân sủng của Thiên Chúa. Thiên Chúa
đã chọn họ để đón nhận và truyền lại cho người khác lời loan báo về Nước Thiên
Chúa. Nhưng thay vì dừng lại ở đây và thán phục lòng quảng đại của Thiên Chúa,
ta lại thường hiểu sai lời Chúa Giê-su và tự hỏi : “Vậy là Thiên Chúa muốn cho
người khác có trố mắt nhìn cũng chẳng
thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu sao ?”
C.12 này
là một câu trích dẫn từ một đoạn quan trọng trong sách ngôn sứ I-sai-a (6,9).
Ga và Cv cũng sẽ lấy câu này (Ga 12,40 ; Cv 28,26). Nhưng muốn hiểu ý nghĩa câu
này, phải nhớ rằng ngôn sứ I-sai-a đã sử dụng một hình thức ngữ pháp riêng của
tiếng Híp-ri và cũng rất khó dịch sang một thứ tiếng khác. Thiên Chúa nói với
ngôn sứ đại khái như sau : “Hãy làm cho chúng ra cứng lòng. Hãy nói sao đó mà
dù có nghe chúng cũng sẽ không hiểu.” Nhưng phải hiểu lời này như sau : “Con sẽ
chỉ có thể làm cho chúng ra cứng lòng thôi. Con có nói thì chúng sẽ nghe đó,
nhưng sẽ không muốn hiểu đâu.” Nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ muốn cho bất
cứ một ai phải lầm lạc hay phải chịu ngu muội.
Còn với những kẻ ở ngoài, thì cái gì cũng phải dùng dụ ngôn : những người
không được gọi để gặp Chúa Ki-tô, hay được gọi nhưng đã từ chối, thì sống trong
thế giới của những kẻ ở ngoài. Trong đó, không phải họ không có ánh sáng của
Thiên Chúa, nhưng ánh sáng này đến với họ “bằng dụ ngôn” nghĩa là qua những
trung gian và giới hạn của con người. Và Mt nói : Thầy
dùng dụ ngôn mà nói với họ vì họ nhìn mà không nhìn (Mt 13,13).
Họ không
hiểu ý nghĩa sâu xa của dụ ngôn, nhưng Chúa Giê-su dùng dụ ngôn không phải để
trừng phạt họ. Tin Mừng đem ánh sáng đến cho ngay cả những người không tin.
Thiên Chúa thích nghi với khả năng của họ vì họ sống trong thế giới chỉ có sự
thật nửa vời, và Thiên Chúa cũng ban cho họ điều đó để giúp họ tiến tới.
Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em : Anh em đã đáp
lại lời Thiên Chúa mời gọi và gia nhập nhóm môn đệ, thì Thầy sẽ từ từ tỏ ra cho
anh em biết cách thức Thiên Chúa hành động.
* 4,13 Làm sao anh em hiểu được tất cả các dụ ngôn ? Khi nhấn mạnh hoàn cảnh các Tông Đồ không hiểu lời
Người giảng dạy, Chúa Giê-su muốn cảnh giác ta về một cái nhìn đơn giản quá mức
: một bên là các môn đệ, bên kia là những
người ở ngoài. Hiểu biết các mầu
nhiệm Nước Thiên Chúa không bao giờ là chuyện đùa, con người không bao giờ là
chủ nhân các ân huệ Chúa ban. Ranh giới giữa môn đệ và người ở ngoài nằm ngay trong mỗi người chúng ta ; trong ta, vừa có môn đệ vừa có người ở ngoài, tuỳ lúc.
Trong dụ ngôn cỏ lùng, Chúa Giê-su sẽ nhắc nhở ta về điều này.
* 4,14 X. phần bình giải Mt 13,18.
Dụ ngôn
người gieo giống đứng đầu tất cả các dụ ngôn khác. Chúa Giê-su nói cho ta biết
sứ mạng của Người : Người đến khai mở một thời đại mới trong lịch sử nhân loại
: Nước Thiên Chúa ở giữa chúng ta, ngay bây giờ.
Đôi khi
ta có cảm tưởng Tin Mừng không đủ sức đổi mới cuộc sống, nhưng tại sao ta đã
chà đạp biết bao hạt giống được mang đến cho ta ? Tất cả là tuỳ ta.
Chúa
Giê-su nói ta phải sinh hoa kết quả : ba
mươi, sáu mươi hay một trăm. Lời chúng ta nghe có sức đổi mới cuộc đời
chúng ta, làm cho các nỗ lực của chúng ta trở thành hữu hiệu để cứu độ thế
giới. Ai có thể kể hết tất cả những gì mà một người tự do theo nghĩa Tin Mừng
có thể làm được.
---------------------
---------------------
Lời
Chúa và chú thích T Năm sau CN III TN, 30/01/2020 (Bản văn và chú thích từ
CGKPV-LCCMN)
22Vì chẳng có gì che giấu mà không phải là để được tỏ bày, chẳng có gì bí ẩn mà
không phải là để đưa ra ánh sáng.
Bài Đọc:
18Vua Đa-vít vào ngồi chầu trước nhan ĐỨC CHÚA và thưa : “Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa
Thượng, con là ai và nhà của con là gì, mà Ngài đã đưa con tới địa vị này ? 19Nhưng lạy ĐỨC CHÚA là Chúa
Thượng, Ngài còn coi đó là quá ít ; Ngài lại hứa cho nhà của tôi tớ Ngài một
tương lai lâu dài. Phải chăng đó là luật chung cho con người, lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng ?
24Ngài đã lập Ít-ra-en, dân Ngài, để nó
thành dân Ngài mãi mãi ; còn Ngài, lạy ĐỨC CHÚA, Ngài đã trở thành
Thiên Chúa của chúng. 25Giờ đây, lạy ĐỨC CHÚA là Thiên
Chúa, lời Ngài đã phán về tôi tớ Ngài và nhà của nó, xin Ngài giữ mãi mãi, và
xin hành động như Ngài đã phán. 26Danh Ngài sẽ vĩ đại mãi mãi và người ta sẽ nói : ‘ĐỨC CHÚA các đạo binh là Thiên Chúa thống trị Ít-ra-en.’ Nhà của tôi tớ
Ngài là Đa-vít sẽ vững bền trước nhan Ngài. 27Thật vậy, lạy ĐỨC CHÚA các đạo binh,
Thiên Chúa của Ít-ra-en, chính Ngài đã mặc khải cho tôi tớ Ngài rằng : Ta sẽ xây cho
ngươi một nhà. Vì thế tôi tớ Ngài đủ can đảm dâng lên Ngài lời cầu nguyện ấy. 28Giờ đây, lạy ĐỨC CHÚA là Chúa
Thượng, chính Ngài là Thiên Chúa, những lời Ngài phán là chân lý, và Ngài đã
hứa ban cho tôi tớ Ngài điều tốt đẹp ấy. 29Vậy giờ đây, cúi xin Ngài giáng phúc cho nhà của tôi tớ Ngài,
để nhà ấy được tồn tại mãi trước nhan Ngài. Bởi vì, lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, chính Ngài đã phán, và nhờ Ngài giáng
phúc mà nhà của tôi tớ Ngài sẽ được chúc lành mãi mãi.” (2 Sm 7, 18-19.24-29)
Tin Mừng:
*21Người nói với các ông : “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái
thùng hay dưới gầm giường ? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao ? 22Vì chẳng có gì che giấu mà không phải là để được tỏ bày, chẳng
có gì bí ẩn mà không phải là để đưa ra ánh sáng. 23Ai có tai nghe thì nghe !”
24Người nói với các ông : “Hãy để ý tới điều anh em nghe. Anh em
đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em
hơn nữa. 25Vì ai đã có, thì được
cho thêm ; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất.” (Mc 4,21-25)
Chú
thích:
* 4,21 Hãy
để ý tới điều anh em nghe. Chúa Giê-su lưu ý chúng ta : “Anh em mất
thì giờ nếu anh em nghe mà không để cho lời tôi sinh hoa kết quả. Đấu mà anh em
dùng để đong sẽ được dùng để đong điều mà anh em đã nhận được, nghĩa là anh em
làm theo điều anh em đã học được thì sẽ nhận được những sức mạnh và những điều
hiểu biết mới từ Thiên Chúa. Nhưng nếu anh em không làm gì, thì tin đạo cũng
chẳng sinh ích lợi gì cho anh em, thậm chí dẫn anh em đến trước nhan Thiên Chúa
cũng không. Anh em đang đọc sách Tin Mừng, hãy tự vấn mình trước khi tiến xa
hơn.”
Chẳng có gì che giấu. Lời hoạt động âm thầm trong lòng người. Nhưng khi khám phá
ra sự biến đổi mà Lời đang thực hiện trong cuộc sống, ta sẽ tuyên xưng Chúa
Giê-su và nói lên điều bí ẩn làm
cho ta được hạnh phúc (Ep 2,3-5 ; Cl 3,3 ; Pl 2,10).
------------------
HẠT GIỐNG
------------------
Lời
Chúa, chú thích và lời nguyện T Sáu sau CN III TN, 31/01/2020 (Bản văn và chú
thích từ CGKPV-LCCMN)
27Đêm
hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và
mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết
Tôi cầu nguyện: (TTL)
Lạy Cha, Đấng hằng yêu
thương và chăm sóc chúng con, xin Cha thương ban ơn bình an và hiệp nhất cho
toàn nhân loại chúng con trong đầu năm 2020 này. Xin Cha hóa giải mọi thù hận
tranh chấp lãnh thổ, chủng tộc giữa các vùng và quốc gia, nhất là khu vực Trung
Đông và Biển Đông; xin Cha giúp sức để chúng con có thể vượt qua các cơn hoạn
nạn do cháy rừng, động đất, bão lũ, nhất là cơn đại dịch Corona Wuhan; xin Cha
ban ơn để chúng con luôn nhận biết và trông cậy vào thánh ý Cha trong mọi sự.
Chúng con cầu xin nhờ công nghiệp của Đức Giê-su Kitô, Con Cha, Chúa chúng con,
Amen.
Lạy Thầy cực thánh,
nguồn Ơn Cứu Chuộc của chúng con, chúng con xin dâng lên Thầy lời nguyện mà chủ
tế hằng đọc trong mỗi thánh lễ:
“Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi
mọi sự dữ,
xin đoái
thương cho những ngày
chúng con đang sống được bình an.
Nhờ Chúa rộng lòng thương cứu
giúp,
Chúng con
sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi và được an toàn
khỏi mọi biến loạn, đang khi
chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc, và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Ðộ chúng con”
Bài Đọc:
*1Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, vua Đa-vít sai ông Giô-áp đi, cùng với các bề tôi của vua và toàn thể Ít-ra-en. Họ giết hại con cái Am-mon và vây hãm Ráp-ba. Còn vua Đa-vít thì ở lại Giê-ru-sa-lem.
*1Lúc xuân về, thời mà các vua ra quân, vua Đa-vít sai ông Giô-áp đi, cùng với các bề tôi của vua và toàn thể Ít-ra-en. Họ giết hại con cái Am-mon và vây hãm Ráp-ba. Còn vua Đa-vít thì ở lại Giê-ru-sa-lem.
2Vào một buổi chiều, vua Đa-vít từ trên giường trỗi dậy
và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà
đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời. 3Vua Đa-vít sai
người đi điều tra về người đàn bà, và người ta nói : “Đó chính là bà Bát
Se-va, con gái ông Ê-li-am, vợ ông U-ri-gia người Khết.” 4Vua Đa-vít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng
đến với vua và vua nằm với nàng ; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế.
Rồi nàng trở về nhà. 5Người đàn bà thụ thai.
Nàng sai người đến báo tin cho vua Đa-vít rằng : “Tôi có thai.”
6Vua Đa-vít sai người đến nói với ông Giô-áp :
“Hãy sai U-ri-gia, người Khết, về gặp ta.” Ông Giô-áp sai ông U-ri-gia về
gặp vua Đa-vít. 7Khi ông U-ri-gia đến
với vua, vua Đa-vít hỏi thăm về ông Giô-áp, về quân binh, về
chiến sự. 8Rồi vua Đa-vít bảo
ông U-ri-gia : “Hãy xuống nhà của ngươi và rửa chân.” Ông U-ri-gia ra
khỏi đền vua, có người bưng ra một phần thức ăn của nhà vua theo sau. 9Nhưng ông U-ri-gia nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề
tôi của chúa thượng ông, và ông không xuống nhà mình.
10Người ta báo tin cho vua Đa-vít rằng : “Ông U-ri-gia đã
không xuống nhà ông.” Vua Đa-vít hỏi ông U-ri-gia : “Chẳng phải
ngươi đi đường xa mới về ư ? Tại sao ngươi không xuống nhà của ngươi ?” 11Ông U-ri-gia thưa với vua Đa-vít : “Hòm Bia
cũng như Ít-ra-en và Giu-đa đang ở lều, chủ tướng tôi là
ông Giô-áp và các bề tôi của chúa thượng đang đóng trại ở ngoài đồng
trống, mà tôi đây lại về nhà ăn uống và nằm với vợ tôi sao ? Tôi xin lấy mạng
sống của ngài, lấy chính mạng sống của ngài mà thề : tôi sẽ không làm điều ấy
!” 12Vua Đa-vít bảo
ông U-ri-gia : “Hãy ở lại đây hôm nay nữa, ngày mai ta sẽ cho ngươi
đi.” Ông U-ri-gia ở lại Giê-ru-sa-lem ngày hôm đó. Ngày hôm
sau, 13vua Đa-vít mời ông ; ông ăn uống trước mặt vua, và vua
cho ông uống say. Đến chiều, ông ra nằm giường của ông cùng với các bề tôi của
chúa thượng ông, nhưng không xuống nhà mình.
14Sáng hôm sau, vua Đa-vít viết thư cho ông Giô-áp và
gửi ông U-ri-gia mang đi. 15Trong thư, vua viết
rằng : “Hãy đặt U-ri-gia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút
lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết.” 16Ông Giô-áp đang thám sát thành liền để ông U-ri-gia ở
chỗ ông biết là có quân hùng mạnh nhất. 17Người trong thành xông
ra, giao chiến với ông Giô-áp. Một số người trong quân binh, trong các bề
tôi vua Đa-vít đã ngã gục, và ông U-ri-gia, người Khết, cũng
chết. (2 Sm
11, 1-4a.5-10a.13-17)
Chú thích:
* 11,1 “Tội phạm” của vua Đa-vít giúp chúng ta
suy nghĩ về tình trạng yếu đuối và đồi bại mà ngay cả những người bạn của Thiên
Chúa vẫn có thể sa vào.
Nhiều lần
chúng ta đã để ý đến các thói hư tật xấu của vua Đa-vít. Ông là người nông nổi
và dối gian, không phải luôn thuận theo ý Chúa. Nhưng ở đây, tất cả mọi yếu tố
đều cho thấy tội ác của ông thật là gớm ghiếc :
– Ông
U-ri-gia là một người ngoại bang đã vào phục vụ nhà vua ;
– Ông
U-ri-gia nghiêm túc tuân giữ tất cả các Lề Luật của ông Mô-sê liên quan đến
thời đi đánh giặc (không ăn nằm với đàn bà), sống hoà mình với các bạn đồng
đội, trong khi nhà vua, đang ở xa mặt trận hiểm nguy, lại buông theo những đam
mê của mình ;
– Nhà vua
lập kế truyền đưa ông U-ri-gia đến chỗ chết, mà còn đang tâm nhờ chính tay ông
này mang lá thư đi nữa.
Làm sao
một thiên sử nhằm lưu lại cho hậu thế những kỷ niệm về một đức vua gương mẫu
lại dám kể ra câu chuyện này, mà không giấu nhẹm các chi tiết làm cho tội ác
của nhà vua càng thêm đáng tởm và nạn nhân càng thêm đáng quý ? Điều này, không
một sử gia chính thức nào trong một nước khác đã từng dám làm. Nhưng Kinh Thánh
không phải là một cuốn sách được viết để tôn vinh một ông vua hay một dân tộc.
Kinh Thánh là “mặc khải của Thiên Chúa” theo nghĩa mạnh của từ này. Khi suy gẫm
Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa, con người học cách nhận biết Thiên Chúa, học cho
biết nhận chân cả chính mình nữa, trong ánh sáng của Người : phàm nhân là “kẻ
có tội”, một kẻ có tội đáng thương và cần đến Vị Cứu Tinh mà Thiên Chúa gửi
đến.
Tin
Mừng:
*26Người nói : “Chuyện Nước Thiên
Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. 27Đêm hay
ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách
nào, thì người ấy không biết. 28Đất tự động sinh ra hoa màu : trước hết cây
lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. 29Lúa vừa
chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa.”
*30Rồi Người lại nói : “Chúng ta ví Nước Thiên
Chúa với cái gì đây ? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được ? 31Nước Thiên
Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt
đất. 32Nhưng
khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi
chim trời có thể làm tổ dưới bóng.”
33Người
dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể
nghe. 34Người
không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi chỉ có thầy trò
với nhau, thì Người giải nghĩa hết. (Mc 4,26-34)
Chú thích:
* 4,26 Con người luôn nôn nóng. Triều đại công
lý sẽ xuất hiện nay mai hay không ? Bạo lực và tham nhũng sẽ sớm chấm dứt không
? Chúa Giê-su trả lời : Có những sức mạnh không ai đánh bại được đang hoạt động
vào chính thời điểm này trong thế giới : nó đang làm cho Nước Thiên Chúa chín
muồi.
HẠT GIỐNG
Có biết
bao hạt giống bị gió cuốn bay ! Một lối sống mới, một bài hát mới, một phát
minh mới, một chương trình truyền thanh hay truyền hình... Một vài hạt đâm rễ
và mọc lên đến nỗi trở thành những phong trào huy động đám đông dân chúng.
Nhưng ta phải biết khám phá ra các khởi đầu khiêm tốn của công trình Thiên Chúa
thực hiện : vài người thiện chí hội họp lại để giải quyết một vấn đề của cộng
đoàn, một cử chỉ thân thiện trong một môi trường khép kín và lạnh lùng, một cố
gắng đầu tiên để mỉm cười với cuộc sống sau một thất vọng nặng nề. Hạt giống
phát triển, và kẻ đón nhận Lời càng thêm vững mạnh để tiến tới trên con đường
Thiên Chúa đã vạch ra cho họ.
(* 4,30 X. phần bình giải Mt 13,31). Mt * 13,31:
Trong dụ ngôn hạt cải, Chúa Giê-su
cho biết Nước Trời phải là một dấu chỉ : nó lớn lên thế nào đó mà người ta
không thể không biết đến nó trong thế giới.
Mọi trào
lưu đạo đức, mọi cách tân văn hoá, mọi phong trào cách mạng, đều phải trụ vào
trong một cơ cấu cho nó có một bộ mặt để trở nên hữu hình và hữu hiệu. Đó là
một cách Chúa Giê-su tiên báo về Hội Thánh, nơi thể hiện Nước Trời (không phải
chủ nhân độc quyền). Nghĩa gốc Hy-lạp của từ “Hội Thánh” là “cộng đoàn những
người được gọi”. Hội Thánh này phải có hai đặc điểm sau đây :
– hữu
hình và hữu ích cho trần thế, như cây cành cho chim đậu làm tổ ;
– đâm rễ
vào những thực tại nhân sinh. Người có đức tin là men cho đời, vì vậy họ không
được sống tách rời những người không có đức tin.
Chúa
Giê-su không chỉ hài lòng với một “Hội Thánh vô hình”, một nhóm huynh đệ tình
cảm, một tình hiệp thông thiêng liêng giữa tất cả những ai tin vào Người. Người
muốn một thứ cây cao bóng cả (nơi khác Chúa nói đến một thành phố xây trên đỉnh
núi cao), để mọi người thấy được rằng hạt giống này là loại tốt và đầy sức
sống. Chúng ta cần có những cộng đoàn có tổ chức, có qua lại với nhau, một phẩm
trật. Nhưng các nhóm người Ki-tô hữu không nên khép kín, mỗi nhóm chỉ biết có
nhóm của mình, cũng không dành hết thời giờ mà làm việc chỉ cho giáo xứ, Giáo Hội
của mình mà thôi. Họ phải là những người hữu ích trong xã hội, hiệp thông với
tất cả những người có thiện chí khác.
Họ phải
là men trong toàn khối bột chớ không phải để dành làm một thứ bột riêng biệt
mịn màng hơn đâu. Men đó biến đổi lịch sử loài người, không phải bằng cách đưa
mọi người đi đến nhà thờ, nhưng bằng cách đổ tràn Thần Khí xuống, ban sức sống
cho mọi hoạt động của con người.
---------------------
Chú thích:
---------------------
Lời
Chúa và chú thích T Bảy đầu tháng sau CN III TN, 01/02/2020 (Bản văn và chú
thích từ CGKPV-LCCMN)
"Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin? "
Bài Đọc:
*1 ĐỨC CHÚA sai ông Na-than đến với vua Đa-vít. Ông vào gặp vua và nói với vua: "Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo.
2 Người giàu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm.
3 Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông: ông coi nó như một đứa con gái.
4 Có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông."
5 Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy và nói với ông Na-than: "Có ĐỨC CHÚA hằng sống! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết!6 Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót."7Ông Na-than nói với vua Đa-vít: "Kẻ đó chính là ngài! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: Chính Ta đã xức dầu phong ngươi làm vua cai trị Ít-ra-en, chính Ta đã giải thoát ngươi khỏi tay vua Sa-un 10 Ấy vậy, gươm sẽ không bao giờ ngừng chém người nhà của ngươi, bởi vì ngươi đã khinh dể Ta và cướp vợ của U-ri-gia, người Khết, làm vợ ngươi.
11 "ĐỨC CHÚA phán thế này: Ta sắp dùng chính nhà của ngươi mà gây hoạ cho ngươi. Ta sẽ bắt các vợ của ngươi trước mắt ngươi mà cho một người khác, và nó sẽ nằm với các vợ của ngươi giữa thanh thiên bạch nhật.12 Thật vậy, ngươi đã hành động lén lút, nhưng Ta, Ta sẽ làm điều ấy trước mặt toàn thể Ít-ra-en và giữa thanh thiên bạch nhật."
13 Bấy giờ vua Đa-vít nói với ông Na-than: "Tôi đắc tội với ĐỨC CHÚA." Ông Na-than nói với vua Đa-vít: "Về phía ĐỨC CHÚA, Người đã bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết.14 Thế nhưng vì trong việc này ngài đã cả gan khinh thị ĐỨC CHÚA, nên đứa trẻ ngài sinh được, chắc chắn sẽ phải chết."15 Rồi ông Na-than trở về nhà.
16 Vua Đa-vít cầu khẩn Thiên Chúa cho đứa trẻ, vua ăn chay nhiệm nhặt, và khi về nhà ngủ đêm thì nằm dưới đất.17 Các kỳ mục trong nhà của vua nài nỉ xin vua trỗi dậy, nhưng vua không chịu và cũng chẳng ăn chút gì với họ (2 Sm 12,1-7a.10-17)
*1 ĐỨC CHÚA sai ông Na-than đến với vua Đa-vít. Ông vào gặp vua và nói với vua: "Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo.
2 Người giàu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm.
3 Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông: ông coi nó như một đứa con gái.
4 Có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông."
5 Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy và nói với ông Na-than: "Có ĐỨC CHÚA hằng sống! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết!6 Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót."7Ông Na-than nói với vua Đa-vít: "Kẻ đó chính là ngài! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: Chính Ta đã xức dầu phong ngươi làm vua cai trị Ít-ra-en, chính Ta đã giải thoát ngươi khỏi tay vua Sa-un 10 Ấy vậy, gươm sẽ không bao giờ ngừng chém người nhà của ngươi, bởi vì ngươi đã khinh dể Ta và cướp vợ của U-ri-gia, người Khết, làm vợ ngươi.
11 "ĐỨC CHÚA phán thế này: Ta sắp dùng chính nhà của ngươi mà gây hoạ cho ngươi. Ta sẽ bắt các vợ của ngươi trước mắt ngươi mà cho một người khác, và nó sẽ nằm với các vợ của ngươi giữa thanh thiên bạch nhật.12 Thật vậy, ngươi đã hành động lén lút, nhưng Ta, Ta sẽ làm điều ấy trước mặt toàn thể Ít-ra-en và giữa thanh thiên bạch nhật."
13 Bấy giờ vua Đa-vít nói với ông Na-than: "Tôi đắc tội với ĐỨC CHÚA." Ông Na-than nói với vua Đa-vít: "Về phía ĐỨC CHÚA, Người đã bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết.14 Thế nhưng vì trong việc này ngài đã cả gan khinh thị ĐỨC CHÚA, nên đứa trẻ ngài sinh được, chắc chắn sẽ phải chết."15 Rồi ông Na-than trở về nhà.
16 Vua Đa-vít cầu khẩn Thiên Chúa cho đứa trẻ, vua ăn chay nhiệm nhặt, và khi về nhà ngủ đêm thì nằm dưới đất.17 Các kỳ mục trong nhà của vua nài nỉ xin vua trỗi dậy, nhưng vua không chịu và cũng chẳng ăn chút gì với họ (2 Sm 12,1-7a.10-17)
Chú thích:
* 12,1 Vua Đa-vít sẽ là mẫu gương người có tội
biết ăn năn. Ông có gì đặc biệt mà được Thiên Chúa chọn ? Mọi sự trong đời ông
đều là do công trình yêu thương của Đức Chúa mà có. Người đã chọn một tên mục
đồng vô danh tiểu tốt để đặt nó làm vua, lại còn chọn vua của một xứ nhỏ bé như
vậy để thành lập một vương quốc trường tồn. Vua Đa-vít không có gì để tự bào
chữa hết.
C.9 Vậy tại sao ngươi lại khinh dể lời Đức Chúa ? Đức
Chúa muốn tìm gặp một tâm hồn thanh bạch và đầy nhân ái, chứ không phải một
người chỉ giữ đạo bên ngoài.
Ngươi đã dùng gươm đâm U-ri-gia, cướp vợ của y. Thiên Chúa đưa ra
ánh sáng những gì nhà vua đã giấu hết mọi người và chính lương tâm ông nữa.
Thái độ
vua Đa-vít : khiêm tốn nhận tội và chấp nhận các hậu quả. Kinh Thánh đã gán cho
ông công sáng tác Tv 51, là lời cầu nguyện thật cảm động của một người có tội
nói lên lòng sám hối của mình.
Thái độ
Thiên Chúa : Đức Chúa bỏ qua tội của
ngài (c.13). Thiên Chúa vẫn trung thành và giữ lời hứa của Người đối
với dòng dõi vua. Hơn nữa, chính Sa-lô-môn, đứa con của vua với bà Bát Se-va,
sẽ là người thừa hưởng những lời hứa ấy : Thiên Chúa ban ân sủng của Người qua
chính con đường đã đưa tội ác vào.
C.11 Ta sắp dùng chính nhà của ngươi mà gây hoạ cho
ngươi. Thiên Chúa tha thứ, nhưng không xoá bỏ những hậu quả của tội ác.
Tin Mừng:
*35 Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Chúng ta sang bờ bên kia đi!"36 Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền; có những thuyền khác cùng theo Người.37 Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước.38 Trong khi đó, Đức Giê-su đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói: "Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?"39 Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: "Im đi! Câm đi! " Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.40 Rồi Người bảo các ông: "Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin? "41 Các ông hoảng sợ và nói với nhau: "Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh? " (Mc 4,35-41)
*35 Hôm ấy, khi chiều đến, Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Chúng ta sang bờ bên kia đi!"36 Bỏ đám đông ở lại, các ông chở Người đi, vì Người đang ở sẵn trên thuyền; có những thuyền khác cùng theo Người.37 Và một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước.38 Trong khi đó, Đức Giê-su đang ở đàng lái, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Người dậy và nói: "Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?"39 Người thức dậy, ngăm đe gió, và truyền cho biển: "Im đi! Câm đi! " Gió liền tắt, và biển lặng như tờ.40 Rồi Người bảo các ông: "Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin? "41 Các ông hoảng sợ và nói với nhau: "Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh? " (Mc 4,35-41)
Chú thích:
* 4,35 Trong hai dụ
ngôn cuối cùng, Chúa Giê-su đã cho thấy sức mạnh và sự phát triển không gì
chống lại được của Nước Thiên Chúa. Và như thể để chứng tỏ điều này, Người cho
ta một dấu chỉ : Người sang bờ bên kia.
Tại đây Người sẽ làm hai phép lạ. Điều này cho ta thấy rằng chiến thắng của
Người trên ma quỷ vượt ra ngoài biên giới Ít-ra-en.
Theo não
trạng của người Do-thái, biển là biểu tượng của quyền lực ma quỷ. Mỗi ngày,
biển cũng nhắc mọi người nhớ lại thời hỗn mang nguyên thuỷ : tại đây, thuỷ thần
vẫy vùng và chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng mới có thể thách thức
chúng : Bơ-hê-mốt, Giao Long, Ra-háp. Khi truyền cho biển : “Im đi ! Câm đi !” như khi truyền cho ma
quỷ (Mc 1,25), Chúa Giê-su chứng tỏ thần lực của Người trên quyền lực sự dữ.
Đối mặt
với mọi hình thức sự dữ đang tấn công con người trong các trận cuồng phong nó
gây nên, đôi khi con người cũng tự hỏi : Phải chăng Thiên Chúa cũng đang ngủ ?
Thế mà Chúa Giê-su có mặt đó : Người không ngạc nhiên vì các môn đệ sợ hãi
trong trận cuồng phong, nhưng vì họ chưa có lòng tin. Chỉ có lòng tin tưởng vào
Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, Đấng đã chiến thắng quyền lực sự dữ, mới cho phép
họ vượt qua sợ hãi.
Nhưng
ngay trong lúc khám phá ra thần lực của Chúa Giê-su, thì các Tông Đồ hoảng sợ, như ông Mô-sê trước bụi gai bốc
cháy (Xh 3,1), như ngôn sứ I-sai-a khi nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa trong
đền thờ (Is 6,5), như tất cả mọi người khi Thiên Chúa tỏ mình ra cho họ một
cách đặc biệt : còn hơn một người bạn, còn hơn một người thầy, Chúa Giê-su tỏ
cho họ biết Người là ai trong thực chất của Người. Và khi khám phá ra Thiên
Chúa thật gần gũi với họ, thì các Tông Đồ lại càng hoảng
sợ hơn là giữa trận cuồng phong trước đó không lâu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét