Thứ Bảy, 29 tháng 2, 2020

Lời Chúa và chú thích Tuần sau Chúa nhật I Mùa Chay

Lời Chúa và chú thích Chúa nhật I Mùa Chay, 01/03/2020

7Đức Giê-su đáp: “Nhưng cũng đã có lời chép rằng: 
Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi
Bài Đọc I:
7ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. 8Rồi ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra.
9ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác. 
*1Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà : “Có thật Thiên Chúa bảo : ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn’ không ?” 2Người đàn bà nói với con rắn : “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. 3Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo : ‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.’” 4Rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! 5Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” 6Người đàn bà thấy trái cây đó : ăn thì phải ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình ; ông cũng ăn. 7Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng : họ mới kết lá vả làm khố che thân. (St 2,7-9;3,1-7)

Chú thích:
* 3,1 CÁM DỖ VÀ TỘI PHẠM
Phần thứ hai của bài trình thuật về vườn Ê-đen cho thấy một bộ mặt khác của số phận con người. Sau khi chương 2 trình bày kế hoạch của Thiên Chúa, giới thiệu con người lý tưởng, chương 3 lại cho thấy số kiếp hiện tại của con người thì khác, và đặt ra câu hỏi : lỗi tại ai ?
Rắn là loài xảo quyệt nhất... Trong văn chương các dân tộc Trung Đông, rắn vừa là loài độc ác vừa là vật linh thiêng. Cái xấu không đến từ Thiên Chúa, cũng không từ một thần linh nào khác đối thủ của Chúa, mà từ một nhân vật rất quan trọng thuộc thượng giới, như Xa-tan trong sách Gióp chẳng hạn (Kn 2,24 ; Ga 8,44).
Bài trình thuật phân biệt ba thì : cám dỗ, phạm tội và phán xét.
Cám dỗ : hãy quên đi chuyện trái táo thường hay được nhắc tới nhưng lại không có trong bài trình thuật. Chỉ nói về cây cho biết điều thiện điều ác và hoa trái của nó. Chước cám dỗ đến, nguỵ trang dưới chiếc áo tốt lành là rủ ta đi tìm sự khôn ngoan. Nên biết người xưa dùng động từ ăn chỉ việc học đi học lại cho thuộc lòng những lời nói của các thánh hiền : người ta ăn những hoa trái của sự khôn ngoan (Cn 9,5 ; Hc 24,19). Cây cho biết thiện ác có nghĩa là nghệ thuật sống và thành công (x. 1 V 3,11), và cũng chính sự tự do của con người mở ra cho nó con đường dẫn tới thiện và ác, sống và chết (Đnl 30,15). Mà đây, Thiên Chúa lại đặt con người trong một hoàn cảnh có mâu thuẫn, khi để sự khôn ngoan ở trong tầm tay của nó mà đồng thời lại nói : Ngươi không được ăn ! Vậy trước hết, con người phải khước từ việc chiếm đoạt sự khôn ngoan.
Điều con rắn nói là không sai : đối với con người, đâu có gì là quá cao vời, không với tới được. Nhưng nó cũng khơi dậy nơi lòng người sự nghi ngờ đối với Thiên Chúa.
Kế đến là tội phạm. Cuộc đối thoại tay ba này thật kỳ lạ ! Người đàn bà thèm ăn, mà người đàn ông mới thật sự là thủ phạm ! Người đàn bà dụ dỗ : đây chẳng phải là sự thật sao ? Lúc bấy giờ, đó chẳng phải là sự thật sao ? Vào cái thời xa xưa ấy, tác giả thấy nhởn nhơ trước mắt những cảnh người ta khai thác phụ nữ, cũng như cái khéo léo của kẻ bị khai thác để lấy lòng các ông chủ của họ. Nhưng vì thấy hai bên không đau khổ đồng đều, nên tác giả kết luận là chắc chắn người đàn bà là người đầu tiên đã bất trung với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đâu chấp nhận những kiểu chạy tội của người đàn ông.
Có hai chi tiết nói lên cách mỉa mai nỗi thất vọng ê chề của người có tội : Mắt ông bà sẽ mở ra – để thấy mình trần truồng ; và Ông bà sẽ nên như vị thần biết điều thiện điều ác – mà họ thì chỉ còn biết có cái ác.
Có những đoạn Kinh Thánh khác nữa liên quan đến các đề tài này :
– con rắn thời xưa : Kn 2,24 ; Ga 8,44 ; 2 Cr 11,3 ; Kh 12,19 ;
– ý niệm sai lầm về một Thiên Chúa ghen tương : Mk 6,7 ; G 10,13 ; Mt 25,24 ;
– phản nghịch Thiên Chúa : Is 14,14 ; Ed 28,2 : Đn 11,36 ; Lc 5,11 ; 2 Tx 2,4 ;
– cám dỗ : Mt 4,6-25 ; Hc 15,11 ; Rm 7,8 ; 1 Cr 10,13 ; Gc 1,13.
A-ĐAM VÀ ĐỨA CON HOANG ĐÀNG
Tội phạm này của A-đam, mở đầu lịch sử cứu độ, phải được suy xét trong ánh sáng của Tin Mừng, và chính xác hơn, của truyện đứa con hoang đàng (Lc 15,11tt). Dụ ngôn này đi xa hơn việc nhắc nhớ chúng ta về lòng nhân hậu vô bờ của Thiên Chúa đối với kẻ có tội sám hối trở về : nó cho thấy đời người như một cuộc phiêu lưu trước mặt Thiên Chúa, cuộc phiêu lưu của đứa con hoang đàng. Nhưng trong khi A-đam của St dừng lại ở việc khám phá ra tội phạm của mình, thì đứa con trai trong dụ ngôn khám phá rằng nó là con. Chúa Giê-su là người Con, và Người làm cho chúng ta trở thành những người làm con : Người giải thoát chúng ta như vậy đó.
Bài Đọc II:
*12Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. 13Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. 14Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới.
15Nhưng sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người. 16Ơn Thiên Chúa ban cũng khác với hậu quả do một người phạm tội đã gây ra. Quả thế, vì một người duy nhất phạm tội, con người đã bị xét xử để phải mang án, còn sau nhiều lần sa ngã, thì lại được Thiên Chúa ban ơn cho trở nên công chính. 17Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, thì sẽ được sống và được thống trị.
18Tóm lại, cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống. 19Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính. (Rm 5,12-19)

Chú thích:
* 5,12 Xin cố gắng theo dõi dòng tư tưởng của thánh Phao-lô, vì ở đây ngài rẽ sang một hướng mới.
Trong hai chương đầu, ngài đã chứng minh rằng nếu không tin vào Chúa Ki-tô thì loài người sống trong tội lỗi, kể cả người Do-thái đã đón nhận Lời Thiên Chúa. Rồi ngài quả quyết rằng người ta được cứu độ không phải do vâng phục Lề Luật, mà là do đức tin. Chỉ có cách đó chúng ta mới được giao hoà với Thiên Chúa và được bước vào một mối tương giao thân tình với Người. Mối tương quan này dần dần sẽ đưa chúng ta tới mục đích của mọi đời người là chia sẻ “vinh quang” Thiên Chúa, sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa.
Nhưng giờ đây thánh Phao-lô lại mở rộng chân trời. Chúa Giê-su đâu đã đến chỉ để giao hoà các tội nhân, rất nhiều tội nhân, nhưng là để cứu độ nhân loại xét như một tổng thể. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, Người đã đến cứu vãn lịch sử nhân loại. Nói theo ngôn ngữ Kinh Thánh, Người đã đến để cứu “A-đam”.
Đối với thánh Phao-lô, cũng như đối với người Do-thái đương thời, A-đam vừa là con người đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng vừa là toàn thể nhân loại. “Con cái A-đam” với ông tổ mà họ mang tên chỉ là một. Ngay từ khởi thuỷ nhân loại cho đến ngày nay, vẫn là một A-đam đầy ngờ vực, phản loạn và hung bạo.
Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian (c.12). Thánh Phao-lô nói theo trình thuật sách Sáng thế, nhưng không phải để nhấn mạnh tầm quan trọng của cái tội con người đầu tiên đã phạm, như một số người đã làm sau này. Chúa Giê-su đã quên nói với chúng ta về cái tội đẩy ta xuống hoả ngục ấy, và những gì Kinh Thánh nói trước Chúa thì rất tinh vi (x. Kn 10,1-2 ; Hc 49,16). Ở đây thánh Phao-lô muốn cho chúng ta thấy chúng ta có quan hệ liên đới đôi ngả : trong A-đam, tất cả mọi người đều có tội, trong Chúa Ki-tô, tất cả lại được hoà giải. Thiên Chúa đã sáng tạo thế giới và đã viếng thăm thế giới để cứu nhân loại xét như một tổng thể duy nhất, được hợp nhất trong Chúa Ki-tô. Đó là lý do tại sao thánh Phao-lô đặt đối lập nhau hai vị thuỷ tổ : con người đầu tiên trong các trình thuật cổ xưa, và vị đứng đầu trong kế hoạch của Thiên Chúa.
Nhưng cho dù vai trò của một thuỷ tổ vẫn còn rất bí nhiệm, thánh Phao-lô quả quyết rõ ràng với chúng ta rằng nhân loại không được giao hoà với Thiên Chúa theo lẽ tự nhiên, và không thể đạt tới mục tiêu của mình nếu không được Chúa Ki-tô cứu thoát.
Chớ nói rằng nhân loại xấu xa, vì chính Thiên Chúa đã tạo dựng nên nó. Có lẽ phải nhắc lại rằng, vào các tk XVI và XVII, lịch sử phương tây đã mang đậm dấu vết những tranh luận về tội lỗi và ân sủng. Khi ấy người ta nói lên những điều ghê rợn (ví dụ Thiên Chúa kết án tất cả loài người phải sa hoả ngục vì tội của A-đam !), đến nỗi phản ứng gây nên là một chủ nghĩa vô thần hung hãn : một Thiên Chúa võ đoán và độc dữ như thế thì phải tống khứ đi thôi. Và chính khi ấy thì Rousseau cùng với các nhà tư tưởng khác quả quyết rằng bản chất con người là tốt, chỉ có xã hội làm cho nó ra xấu. Phương Đông chúng ta cũng có câu “nhân chi sơ tính bản thiện...”.
Các Tông Đồ vẫn giữ lập trường cho rằng nhân loại đang ở trong tình trạng bị tha hoá. Để nói lên điều đó, thánh Gio-an dùng hai kiểu nói : “thế gian” và “thủ lãnh của thế gian này”, nghĩa là quỷ dữ (x. phần bình giải Ga 3,16 và 1 Ga 2,15). Về phần mình, thánh Phao-lô sẽ nói về “tội lỗi”.
Trong các đoạn này, tội là toàn bộ những sức mạnh giam hãm một nhân loại vốn nghiêng theo con đường xấu. Chúng ta không hoàn toàn chịu trách nhiệm về các tội chúng ta thường khi không cố tình muốn phạm (7,16-24), và đây chính là bằng chứng tình cảnh nô lệ hay tha hoá của chúng ta. Đối với chúng ta, nhận diện chân lý và xét đoán theo chân lý là một điều biết bao khó khăn. Chỉ việc này thôi cũng cho thấy rằng tội đã có mặt đó rồi : chúng ta không phải là con cái Thiên Chúa tự bẩm sinh.
A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới (c.14). Đối lập với cái nhìn về số phận con người theo sách Sáng thế (các ch. 2 – 3), thánh Phao-lô đưa ra một hình ảnh khác : Chúa Ki-tô chịu đóng đinh. Đối lập với màn phạm tội bên cây trái cấm, thánh Phao-lô đưa ra cảnh tượng chuộc tội hoàn tất trên cây thập giá. Có ba nhân vật trong cảnh thứ nhất : con người (A-đam), tội (con rắn) và cái chết. Trong cảnh thứ hai thì có bốn : con người (Chúa Ki-tô), tội, cái chết và sự công chính (hay sự sống được Thiên Chúa đặt trở lại trong trật tự).
Ân sủng của Thiên Chúa còn dồi dào hơn biết mấy (c.15). Hậu quả của tội chỉ có gia tăng. Ngày nay chúng ta cảm thấy mình bị đánh gục và bất lực trước những tai ương trong xã hội, trước những vùng bạo lực. Nhưng thánh Phao-lô thì nhìn thấy tầm cao trọng của ân huệ Thiên Chúa ban : trong khi nhân loại tăng số và tội lỗi nắm những phương tiện mạnh hơn để khẳng định thế lực của nó, thì số người được Thiên Chúa kêu gọi thoát cảnh nô lệ sự dữ cũng tăng lên nhiều hơn.
Trong đoạn văn hơi phức tạp này còn có một điều khác : Thánh Phao-lô quả quyết rằng ơn cứu chuộc mà Chúa Ki-tô ban cho chúng ta không giới hạn trong việc sửa mình lánh tội. Thiên Chúa chưa thoả lòng nếu chỉ giúp được chúng ta thoát khỏi sự dữ : Người kêu gọi chúng ta đến với Người, và trong khi nâng loài người dậy, Người cũng đồng thời mời họ thống trị, nghĩa là chia sẻ chính vinh quang của Người.
Những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào, thì sẽ được sống và được thống trị (c.17). Chúa Ki-tô tập hợp chúng ta lại ; Người quy tụ chúng ta bằng cuộc hiến tế của Người và trở nên thủ lãnh mới của nhân loại. Thánh Phao-lô nghĩ trước hết đến ơn cứu độ dành cho những ai đón nghe Tin Mừng, tin vào Chúa Ki-tô và gia nhập Hội Thánh. Nhưng ngài nhấn mạnh sự kiện này là Chúa Ki-tô cứu độ một thế giới gồm những người tội lỗi. Chúa Ki-tô là A-đam mới : vậy Người không chỉ là thủ lãnh những người có đức tin, nhưng còn là thủ lãnh toàn thể nhân loại. Tất cả mọi người tiếp tục bị lôi cuốn theo sự dữ phát sinh từ sa ngã của A-đam, nhưng tất cả đều cùng được Chúa Ki-tô cứu độ, trong mức độ họ tích cực liên đới với công trình của Người. Ai không dự phần vào việc cứu vớt anh em mình là tự xem mình như kẻ xa lạ với công trình cứu độ ấy, bởi vì đây đâu phải là chuyện cứu rỗi “riêng tôi”, nhưng là cứu rỗi A-đam.
Lề Luật đã xen vào, để cho sự sa ngã tràn lan (c.20). Xem Luật là ân huệ lớn lao Thiên Chúa ban là sai (như trước đây người ta đã nghĩ, và Cựu Ước cũng nói như thế !). Hoặc giả nên nói rằng chính nhờ Luật mà người Do-thái khám phá sớm hơn rằng các dân tộc khác cần được cứu độ biết bao. Thành quả đầu tiên của Luật là gia tăng tội phạm, vì từ nay ai nấy đã biết bổn phận của mình là gì nhưng lại không làm.
Tin Mừng:
*1Bấy giờ Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. 2Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. 3Khi ấy tên cám dỗ đến gần Người và nói : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi !” 4Nhưng Người đáp : “Đã có lời chép rằng : Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”
5Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, 6rồi nói với Người : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi ! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”
7Đức Giê-su đáp : “Nhưng cũng đã có lời chép rằng : Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”
8Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, 9và bảo rằng : “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” 10Đức Giê-su liền nói : “Xa-tan kia, xéo đi ! Vì đã có lời chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”
11Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Người (Mt 4,1-11)

Chú thích:
* 4,1 Một phần bình giải biến cố này ở Lc 4,1-13.
Như vậy Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa theo nghĩa mà người ta hiểu từ này vào thời ấy : Người được sai phái với tư cách là vua, ngôn sứ và cứu tinh, và Người biết như vậy. Nhưng Người sẽ thể hiện những vai trò ấy như thế nào, và Thiên Chúa sẽ đối xử thế nào với người con này đây ? Đó là vấn nạn sắp được đặt ra, mà cuộc thử thách sẽ làm sáng tỏ. Thử thách sẽ kéo dài suốt thời gian Chúa Giê-su thi hành sứ vụ của Người : những kẻ chống đối sẽ đòi những điềm thiêng dấu lạ, và chính các môn đệ sẽ nài xin Người lo cho bản thân Người nhiều hơn. Đoạn văn Mt lược thuật cho chúng ta hiểu cuộc thử thách thường nhật này qua ba cơn cám dỗ. Nhưng tác giả cố ý chọn hoang địa làm khung cảnh, đặt bài tường thuật ngay ở đầu đoạn văn, và khẳng định rằng Chúa Giê-su đã chiến thắng ác thần ngay trước khi khởi đầu sứ vụ.
Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày. Bốn mươi ngày là thời gian có giá trị tượng trưng cho bốn mươi tuần thai nghén, thời gian chuẩn bị một cuộc sinh nở mới. Đó là thời gian đã được ghi chép trong cuộc đời hai ông Mô-sê và Ê-li-a : Xh 24,18 ; 1 V 19,8. Đối với Chúa Giê-su, đây là thời gian thử thách, như đối với ông Áp-ra-ham khi được lệnh đem con đi sát tế, như đối với ông Mô-sê trong vụ con bò vàng. Đang khi Chúa Giê-su cảm thấy tinh thần được kiên định nhờ chay tịnh, hoàn toàn sáng suốt, thì ma quỷ tìm hết cách để thuyết phục Người rằng không thể nào chu toàn sứ mạng nếu theo đường lối Thiên Chúa dạy.
Điều kỳ lạ là Tin Mừng trình bày cuộc chạm mặt giữa Chúa Giê-su và quỷ cám dỗ (“tên cám dỗ”, là nghĩa của từ “ma quỷ”) như một cuộc tranh luận giữa hai nhà luật sĩ nảy sinh từ lời Kinh Thánh ; có lẽ mục đích là giúp cho ta hiểu rằng ngay cả lời Kinh Thánh cũng có thể làm cho ta lạc hướng nếu ta không có tinh thần vâng phục Thiên Chúa.
Ba cơn cám dỗ nhắc ta nhớ lại những cám dỗ mà dân Híp-ri đã kinh qua trong sa mạc ( Xh 16,2 ; 17,1 ; 32). Tại suối nước Ma-ra, dân kêu trách Thiên Chúa đã dẫn họ đi một con đường quá gian khổ ; tiếp theo là họ thử thách Người : “Đức Chúa có làm gì được cho ta không ?” Cuối cùng, họ đổi Thiên Chúa, đã từng là niềm vinh dự của họ, để thờ một thần minh khác tự tay họ tạo ra cho vừa tầm của mình : đó là con bò vàng. Và để trả lời, Chúa Giê-su dẫn ba câu trong Đệ nhị luật, một cuốn sách kể rõ những cuộc nổi loạn của dân Chúa trong sa mạc. Lòng vâng phục hoàn hảo của Con Thiên Chúa tương phản với những bất trung của dân.
Qua cơn thử thách, Chúa Giê-su đã thắng trận, nhưng Hội Thánh của Người sẽ còn phải đối phó với những cám dỗ tương tự. Hội Thánh có thể bị cám dỗ làm thoả mãn những ước vọng của người đời thay vì đem tặng họ ơn cứu độ đích thực. Chúa Giê-su dạy chúng ta phải kiên cường trước những cạm bẫy của ma quỷ, bằng cách dựa vào lời Kinh Thánh, như Người đã làm.
Các sứ thần tiến đến hầu hạ Người. Sau khi đẩy lui cơn cám dỗ, Chúa Giê-su được hoàn toàn bình an. Trái tim trong sáng của Người được đưa vào một thế giới linh thiêng vô hình nhưng thiết thực không kém thế giới xung quanh ta. Vì là Con Thiên Chúa, Người hiển trị giữa các thiên thần đang hầu cận trước tôn nhan của Cha Người.
--------------
Lời Chúa và chú thích T Hai 02/03.2020, sau Chúa nhật I Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

‘Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như
thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.’ 
Bài Đọc:
1ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê rằng :
2“Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en và bảo chúng : Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh.
11Các ngươi không được trộm cắp, không được nói dối, không được lừa gạt đồng bào mình. 12Các ngươi không được lấy danh Ta mà thề gian : làm thế là (các) ngươi xúc phạm đến danh Thiên Chúa của (các) ngươi. Ta là ĐỨC CHÚA. 13Ngươi không được bóc lột người đồng loại, không được cướp của ; tiền công người làm thuê, ngươi không được giữ lại qua đêm cho đến sáng. 14Ngươi không được rủa người điếc, đặt chướng ngại cho người mù vấp chân, nhưng phải kính sợ Thiên Chúa của ngươi. Ta là ĐỨC CHÚA. 15Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử : không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào. 16Ngươi không được vu khống những người trong dòng họ, không được ra toà đòi người đồng loại phải chết. Ta là ĐỨC CHÚA. 17Ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. 18Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là ĐỨC CHÚA. (Lv 19,1-2.11-18)
Tin Mừng:
*31“Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. 32Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. 33Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. 34Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng : ‘Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sãn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. 35Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; 36Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.’ 37Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng : ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; 38có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? 39Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu ?’ 40Đức Vua sẽ đáp lại rằng : ‘Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.’ 41Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng : ‘Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sãn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. 42Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã không cho uống ; 43Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc ; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.’ 44Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng : ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?’ 45Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng : ‘Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.’ 46Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.” (Mt  25,31-46)

Chú thích:
* 25,31 Chúng ta biết người Ki-tô hữu là thiểu số trên thế giới. Như chúng ta hiện nay, người Do-thái thời ấy thường nghĩ tới đa số các dân tộc trên thế giới không thuộc về dân được Chúa chọn và không biết gì về các lời hứa của Người. Người Do-thái coi các dân ấy như là một đám đông dân tộc sãn sàng “nuốt sống ăn tươi họ”, như một thế giới đáng sợ mà một ngày kia Thiên Chúa sẽ bắt phải phục tùng. Họ kêu các dân tộc ấy là muôn dân, là các dân thiên hạ.
Chúa Giê-su thì vượt lên trên cái nhìn hạn hẹp ấy, và cho chúng ta thấy Người sẽ xét xử tất cả mọi người không phân biệt gốc gác, ngày Người trở lại với tư cách là Vua muôn dân. Tất cả những ai đã chia sẻ thân phận chung của loài người mà không biết Chúa Ki-tô cũng sẽ được Người xét xử. Thật thì Người chẳng bao giờ bỏ rơi họ, nhưng đã đặt bên cạnh họ “những anh em bé nhỏ nhất của Người” như là hiện thân của Người.
Đức Vua bày ra cho thấy vô số các nghĩa cử qua đó loài người đã xây nên phần ưu tú nhất của nền văn minh nhân loại, và trước mặt Người, loài người sẽ ngạc nhiên ngắm nhìn vị Thiên Chúa mà họ đã từng yêu mến hoặc coi thường, nơi tha nhân. Mặc dù đa số họ không hề nghĩ tới thế giới bên kia, nhưng họ cũng sẽ được cho thấy Vương Quốc của Thiên Chúa với định luật duy nhất của nó là yêu thương.
Giữa hai thái cực, không có số phận trung lập. Lửa là hình ảnh của cực hình dành cho những ai đã từng đày đoạ chính mình khi đóng cửa lòng mình đến độ không còn có khả năng yêu thương nữa. Thuở bình sinh, họ đã dửng dưng trước nỗi khổ của những anh chị em đồng loại bị gạt ra ngoài lề xã hội và chịu đói khát : giờ đây, ánh sáng Thiên Chúa Tình Yêu thiêu đốt họ và làm khổ họ.
Mỗi lần các người không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây. Chúa Giê-su nói về người thân cận, bạn hay thù như nhau. Người không nói chuyện phục vụ cộng đoàn hay một giới, hay một dân nước nói chung. Chúng ta thường sử dụng những từ này để loại trừ đi một nhóm người không cùng một nước hay không cùng đảng phái với chúng ta. Trái lại, những ai có lòng thương người thật sự thì nhận ra anh chị em của họ mà không cần chú ý đến những nhãn hiệu : đối với họ, cái phải chú ý là những con người đang hiện hữu và đang sống cho Thiên Chúa.
Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp (c.46). Ngày nay chúng ta thấy có cái gì khó chấp nhận trong cách phân loại người ta thành tốt và xấu như vậy : cái nhìn này có vẻ đã lỗi thời đối với chúng ta (x. phần bình giải Mt 13,36). Và đúng là vậy theo một nghĩa nào đó.
Cho đến thời kỳ hiện đại, ta chỉ thấy những người “suy nghĩ một chiều” thôi. Người ta lướt nhìn đại khái các lựa chọn trong đời, rồi ngay khi hãy còn trẻ tuổi, người ta đã chọn đi con đường “lành” hoặc “dữ”. Sau đó cũng có những cuộc hoán cải thành tốt hoặc xấu (Ed 18), nhưng ranh giới vẫn nằm giữa người lành và kẻ dữ. Ngày nay thì đã khác nhiều, vì các lựa chọn của chúng ta trở thành hết sức phức tạp.
Vậy phải biết rằng ở đây, Chúa Giê-su dùng ngôn ngữ các ngôn sứ mà nói, lược đồ hoá các lựa chọn. Cái mà Chúa Giê-su tố giác không phải là những tội tày trời, mà là lòng ích kỷ hằng ngày ứ đầy trong cuộc đời chúng ta. Chúa nói năng như người cha răn dạy con cái : Con mà không chừa thì phải biết điều gì sẽ xảy đến ! Hy vọng phần đông nhân loại sẽ không tự ý lún chìm trong sa đoạ ; nhưng một số người lại chọn cho mình số phận hư vong một cách có ý thức ; và họ dám đi đến cùng con đường này. Nói rằng Thiên Chúa tốt lành đến nỗi Người sẽ cứu họ vào giờ chót là khẳng định điều mà Chúa Giê-su đã không hề có ý nói. Nói như vậy có nghĩa là cuối cùng rồi tất cả những gì chúng ta đã làm khi còn sống đâu có quan trọng, và sự tự do của chúng ta chỉ là một trò chơi.

Những gì Chúa nói liên quan đến cuộc phán xét có giá trị cho tất cả mọi người, là Ki-tô hữu hay không. Nhưng cứ đem dụ ngôn này ra mà trưng dẫn, như thể nó hàm chứa hết tất cả mọi trách nhiệm của một Ki-tô hữu, là sai. Nhu cầu chính yếu của thế giới không phải là cơm ăn áo mặc, mà là sự thật và niềm hy vọng mà Thiên Chúa đã giao cho những kẻ Người đã chọn để chia sẻ lại cho thế giới. Người Ki-tô hữu sẽ không trung thành với sứ mạng của mình nếu chỉ biết lo việc cứu trợ, định cư, v.v, mà quên đi rằng sự sống cho loài người trước hết là lời Chúa, sự hiểu biết và lòng yêu mến Thiên Chúa mình thờ. Chúa thì luôn đi bước trước, và chúng ta cần được Chúa xử như thế. Chúa nhận lấy cho mình những gì chúng ta làm cho anh chị em chúng ta, nhưng không muốn có sự lẫn lộn giữa Người với họ.
------------------

Lời Chúa và chú thích T Ba 03/03/2020,sau CN I Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

 10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Bài Đọc: 
10 Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời
không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất,
chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc,
cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,
11 thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta,
sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả,
chưa thực hiện ý muốn của Ta,
chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó. (Is 55,10-11)
Tin Mừng:
7“Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhậm lời. 8Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.
*9“Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :
‘Lạy Cha chúng con
là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha
vinh hiển,
10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện
dưới đất cũng như trên trời.
11Xin Cha cho chúng con
hôm nay lương thực hằng ngày ;
12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi
với chúng con ;
13xin đừng để chúng con
sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con
cho khỏi sự dữ.’
14“Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em. (Mt 6,7-15)

Chú thích:
* 6,9 Chúa Giê-su trao ban cho môn đệ kinh Lạy Cha như lời kinh thập toàn xuất phát tự con tim những con cái Thiên Chúa, bởi vì nó nói lên được những điều mà họ phải xin, theo thứ tự những gì mà lòng họ phải mong ước. Thật thì chúng ta có hai bản kinh Lạy Cha, vì Lc để lại một bản ngắn gọn hơn (11,1). Nhiều người nghĩ rằng Mt đưa ra một công thức thoáng rộng hơn, với bố cục hoàn chỉnh hơn, mà ngay từ thế hệ đầu tiên, người Ki-tô hữu buộc phải đọc ; nhưng điều này không chắc là đúng. Trong Mt, có mười hai vế làm thành bảy ý nguyện : hai con số hoàn hảo. Ba ý nguyện (con số của Ba Ngôi) quy về Thiên Chúa, bốn ý nguyện (con số của bốn phương mặt đất) liên quan đến chúng ta.
Người đồng thời với Chúa Giê-su dùng chữ Trời để chỉ Thiên Chúa vì sợ phạm huý. Cũng trong nghĩa đó, Chúa Giê-su nói : Cha chúng con (là) Đấng ngự trên trời để chỉ Thiên Chúa Cha.
Chúng ta cũng thế, chúng ta nói “Ông Trời” để chỉ một thế giới khác, một thực tại khác không thuộc vật chất, không phải ở bên trên cũng không ở bên dưới, nhưng là một cõi nơi đó Thiên Chúa là tất cả, nơi đó Người đem thân mình chia sẻ cho tất cả những ai yêu mến Người. Khi hướng lòng về Đức Chúa Trời, chúng ta không nghĩ là Người ở nơi xa vời, quá cao xa đối với chúng ta. Chúng ta chỉ cố gắng nâng tâm hồn lên tới Người. Chúng ta nhìn nhận rằng mình không xứng đáng thưa chuyện với Người, rằng những lo toan của chúng ta thật ích kỷ và hẹp hòi so với các tâm tưởng uyên thâm và tình yêu vô biên của Người. Quy hướng về Người và gọi Người là Cha đã trở thành tự nhiên đối với chúng ta rồi, nhưng thật ra đó là một đặc ân dành riêng cho những ai được Người thương dạy dỗ.
Kinh Thánh nói về Thiên Chúa và cũng nói về danh Thiên Chúa. Toàn thể tạo thành là một biểu hiện của Thiên Chúa. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi trong vũ trụ, nhưng vũ trụ không chứa đựng Thiên Chúa, và Người không ở trong một nơi chốn nào nhất định. Vậy chúng ta nói danh Thiên Chúa để chỉ sự hiện diện hoạt động của Người, ánh hào quang rực rỡ bao trùm vạn vật của Người. Như thể để cho thấy có một khoảng cách giữa những gì ta biết về Người với bản thể của Người.
Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển ! Xin cho khắp nơi danh Người được truyền tụng là thánh ! Xin cho ánh huy hoàng và lòng nhân ái của Người được biểu lộ nơi tất cả những ai đã trở nên con cái Người (5,6). Nguyện cho những ai tuân giữ lời Người đón nhận sự hiện diện và những giàu sang phong phú của Người. Theo Ga, Chúa Cha muốn cho danh Người trụ lại nơi chúng ta (Ga 17,11), để chúng ta được từng giây từng phút kết hợp với Người, như Chúa Cha và Chúa Con là một trong Chúa Thánh Thần vậy.
Xin cho triều đại Cha mau đến. Chúa Giê-su đến trần gian là triều đại Thiên Chúa đã đến với chúng ta. Thiên Chúa hiển trị ở tất cả những nơi mà con người đã nhận biết Người nhờ lời Chúa Giê-su. Ở đó, Người có thể hành động mà không sợ bị hiểu lầm, vì Người được nhận biết đúng với bản tính của Người. Các tín hữu nhận biết Thiên Chúa trong người Con được Người ban cho, trong sự hạ mình của người Con và trong tình yêu giữa Cha và Con. Nhờ khám phá này mà tình yêu thương và lòng nhân hậu toả lan khắp nơi, và với thời gian, chúng ta sẽ thấy vương triều Thiên Chúa trổ sinh ít nhiều hoa trái. Con cái Thiên Chúa là những con người được hoà giải ; họ trở thành men trong xã hội, và con người toàn diện, với tất cả những dự phóng, lao động và kế hoạch kinh tế chính trị của họ, tiến tới mục đích chung là vạn vật cũng như muôn người đều cùng trở về với Chúa Cha.
Nhờ có chúng ta góp sức, hay mặc dù chúng ta hờ hững, triều đại Thiên Chúa rồi cũng sẽ đến, có hay không có chúng ta, bởi vì vương quyền Thiên Chúa thật sự đã ở giữa chúng ta rồi.
Xin cho ý Cha thể hiện. Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giê-su sẽ thốt lên lời này ; lời này lên án nhiều lời cầu xin mà chúng ta thốt lên như để buộc Thiên Chúa ra tay hành động. Có người tưởng đức tin họ lớn mạnh vì họ luôn luôn chạy đến Thiên Chúa để giải quyết những vấn đề của họ. Thật ra con cái Thiên Chúa nâng tâm hồn lên tới Người là để cho ý muốn của Người trở thành chính ý muốn của họ.
Dưới đất cũng như trên trời. Câu xác định này áp dụng cho cả ba lời cầu đi trước. Nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng tất cả những gì đã được tạo thành và thuộc về thời gian đều lệ thuộc một thế giới khác, một thế giới không phải được tạo thành, không có thời khắc, và đó là mầu nhiệm Thiên Chúa chứ không là gì khác. Nơi đây, Chúa Cha là nguồn mạch thần tính, vui hưởng sự tuyệt hảo vô hạn của Người trong mối tình Ba Ngôi tặng hiến cho nhau, và đối diện với Người là các thánh : các ngài được như thế nào sau khi phục sinh thì Thiên Chúa nhìn thấy các ngài y như vậy. Thiên Chúa nhìn thấy vũ trụ được thống nhất trong Chúa Ki-tô, cũng như thấy ý muốn đã thành sự của Người và được mọi người tôn vinh. Phần chúng ta là những kẻ đang sống trong thời gian, mục kích một cuộc sinh nở đớn đau, thấy sự ác như đang chiến thắng, chúng ta cầu nguyện sao cho mọi sự thuận theo kế hoạch của Thiên Chúa, mà kế hoạch này cuối cùng sẽ được thực hiện.
Chúng ta xin Cha thứ lương thực mà Người đã hứa ban cho những ai chú tâm đến Lời Người (Đnl 8,3). Con người hiện đại nghĩ rằng tất cả những tiện nghi vật chất của họ là do cố gắng của chính mình. Nhưng Kinh Thánh dạy rằng tất cả vừa tuỳ thuộc Thiên Chúa vừa tuỳ thuộc chính chúng ta. Một mình chúng ta đơn phương sẽ có thể làm một vài phép lạ kinh tế trong một thời gian, nhưng chúng ta cũng sẽ phung phí các của cải đã được tích trữ. Còn ai trông cậy vào Thiên Chúa để có, không phải của ăn cho mình mà của ăn cho chúng con, thì người ấy sẽ cố hết sức mình tìm cho có công ăn việc làm, thực hiện một công việc hữu ích và phát huy công bằng nơi mình làm việc.
Phải nói lương thực cần dùng, hay hằng ngày, hay đầy đủ ? Bởi vì bản văn gốc sử dụng một từ khó hiểu mang nhiều nghĩa. Phần đông người ta hiểu rằng ngoài những gì thân thể họ đòi hỏi, con cái Chúa cảm thấy cần có biết bao nhiêu thứ khác nữa, rằng ở đây cũng như trong phép lạ hoá bánh ra nhiều, bản văn đã ngầm nói đến Thánh Thể.
Có những bản dịch dùng chữ nợ ở 6,12, nhưng 6,14 cho thấy có chữ lỗi. Đối với Chúa Giê-su, hẳn nợ và lỗi là như nhau. Khi tha thứ cho ai xin lỗi chúng ta, chúng ta nào có tặng họ món quà gì, đâu có công trạng gì : chính chúng ta được nhẹ gánh một sự hiềm thù đã từng đè nặng trên mình. Bám víu quyền lợi của mình là cắm neo ở đời này. Thiên Chúa thì muốn tha thứ cho chúng ta và đưa chúng ta đến gần Người ; vậy Người làm thế nào được nếu chúng ta khư khư với những cái thuộc thế gian này ?
Chúa Giê-su đang nói với những người nghèo, thường mắc những món nợ nặng đến không thanh toán nổi, những người nghèo buộc phải sống với những người láng giềng mà họ đã không chọn, là điều gây thêm những dịp xích mích nhau. Ngày nay, nhiều người sống độc lập, và đối với họ, lý tưởng là đừng có mang ơn ai hết. Do tự mãn như thế mà họ khó có thể hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa đối với kẻ nghèo là tất cả chúng ta, trước mặt Người.
Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ. Đó là lời của một người ý thức được sự yếu đuối của mình. Và chúng ta sẽ còn cẩn trọng hơn nữa nếu biết rằng tuy bản dịch dùng từ sự dữ, nhưng kẻ thù của chúng ta thật ra là Ác Thần, là Tên Độc Dữ. Tên này mạnh hơn chúng ta, luôn rình chờ mê hoặc chúng ta, làm tê liệt đức tin và đánh bại chúng ta, chỉ cần chúng ta thờ ơ với những phương tiện mà Chúa Giê-su ban cho để gi úp chúng ta sống kiên trì trong đức tin, trong lòng Hội Thánh Người
-----------------

Lời Chúa và chú thích T Tư 04/03/2020, sau CN I Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
"Thế hệ này là một thế hệ gian ác; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na

Bài Đọc:
1 Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giô-na lần thứ hai rằng:2 "Hãy đứng dậy, đi đến Ni-ni-vê, thành phố lớn, và hô cho dân thành biết lời tuyên cáo Ta sẽ truyền cho ngươi."3 Ông Giô-na đứng dậy và đi Ni-ni-vê, như lời ĐỨC CHÚA phán. Ni-ni-vê là một thành phố cực kỳ rộng lớn, đi ngang qua phải mất ba ngày đường.4 Ông Giô-na bắt đầu vào thành, đi một ngày đường và công bố: "Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ."5 Dân Ni-ni-vê tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ.6 Tin báo đến cho vua Ni-ni-vê; vua rời khỏi ngai, cởi áo choàng, khoác áo vải thô, và ngồi trên tro.7 Vua cho rao tại Ni-ni-vê: "Do sắc chỉ của đức vua và các quan đại thần, người và súc vật, bò bê và chiên dê không được nếm bất cứ cái gì, không được ăn cỏ, không được uống nước.8 Người và súc vật phải khoác áo vải thô và hết sức kêu cầu Thiên Chúa. Mỗi người phải trở lại, bỏ đường gian ác và những hành vi bạo lực của mình.9 Biết đâu Thiên Chúa chẳng nghĩ lại, chẳng bỏ ý định giáng phạt, và nguôi cơn thịnh nộ, khiến chúng ta khỏi phải chết."10 Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai hoạ Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa.(Gn 3,1-10)
Tin Mừng:
*29 Khi dân chúng tụ họp đông đảo, Đức Giê-su bắt đầu nói: "Thế hệ này là một thế hệ gian ác; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na.30 Quả thật, ông Giô-na đã là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-vê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy.31 Trong cuộc Phán Xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với những người của thế hệ này và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa.32 Trong cuộc Phán Xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa. (Lc 11, 29-32)
Chú thích:
* 11,29 Dân Ni-ni-vê tội lỗi đã không nhận được dấu hiệu nào khác ngoài ông Giô-na, người đã đến mời gọi họ ăn năn sám hối. Những người đồng thời với Chúa Giê-su thì tưởng mình “tốt lành” vì thuộc về dân Thiên Chúa : họ không nhận ra rằng đã đến lúc họ cũng phải sám hối như vậy.
Dân thành Ni-ni-vê sẽ kết án (c.32). Chúa Giê-su dùng lại hình ảnh quen thuộc : một cuộc xét xử tập thể, trong đó mỗi người tự bào chữa bằng cách cho thấy kẻ khác còn tệ hơn mình nữa. Nhưng trong hình ảnh này, Chúa Giê-su lưu ý một sự thật sâu xa : tất cả những gì Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta thì đều phải sinh hoa trái cho toàn thể nhân loại được hưởng.
--------------------

Lời Chúa và chú thích T Năm 05/03/2020, sau CN I Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
7“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho
Bài Đọc:
17kHoàng hậu Ét-te khắc khoải âu lo đến chết được, liền tìm đến nương ẩn bên Chúa. Tâm hồn sầu khổ, bà cởi bỏ y phục lộng lẫy, mặc áo tang vào. Thay cho dầu thơm quý giá, bà lấy bụi tro dơ bẩn rắc lên đầu ; bà hãm mình phạt xác nhiệm nhặt ; thay vì trang điểm trau chuốt, bà để cho tóc xoã rối bời. Bà cầu xin cùng Chúa, Thiên Chúa Ít-ra-en :
17l“Lạy Chúa của con, lạy Vua chúng con,
Ngài là Thiên Chúa duy nhất.
Này con đang liều mạng, xin đến cứu giúp con.
Con cô đơn, chẳng còn ai cứu giúp, ngoại trừ Ngài.
17mLạy Chúa, trong chi tộc của cha ông,
từ khi lọt lòng mẹ, con từng được nghe biết
là chính Ngài đã chọn Ít-ra-en giữa muôn ngàn dân tộc,
đã tuyển chọn cha ông chúng con
giữa mọi bậc tiền bối của các ngài
để làm thành gia nghiệp mãi mãi thuộc về Ngài.
Ngài thực hiện cho cha ông chúng con
mọi điều Ngài đã hứa.
17rLạy Chúa, ngày chúng con gặp gian truân cùng khốn,
xin nhớ đến chúng con mà chứng tỏ quyền năng của Ngài.
Lạy Vua các thần minh, Đấng thống trị mọi kẻ cầm quyền,
xin ban cho con lòng dũng cảm,
17svà dạy con biết nói lời êm tai
khi phải ra trước mặt loài sư tử.
Xin đổi lòng con sư tử ấy để nó căm thù kẻ chống lại chúng con,
khiến cho hắn và quân đồng loã phải tiêu diệt hoàn toàn.
17tThần dân Ngài, xin Ngài giải thoát.
Con cô đơn, xin đến cứu giúp con.
Lạy Chúa, ngoài Ngài ra, con đâu còn ai nữa ! (Et 14,1.3-5.12-14)[Hl 4,17k-m.r-t]

Tin Mừng:
*7“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 8Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. 9Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá ? 10Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn ? 11Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao ?
12“Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.(Mt 7,7-12)
Chú thích:
* 7,7 X. phần bình giải Lc 11,9 ; Mc 11,24 ; Ga 14,13 ; 15,7 ; Gc 1,5.
-------------------

Lời Chúa và chú thích T Bảy 07/03/2020, sau CN I Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em
Bài Đọc:
16 Hôm nay, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), truyền cho anh (em) đem ra thực hành các thánh chỉ và quyết định này. Anh (em) phải hết lòng hết dạ tuân giữ và đem ra thực hành các điều ấy.
17 Hôm nay, anh (em) đã làm cho ĐỨC CHÚA tuyên bố rằng Người sẽ là Thiên Chúa của anh (em), rằng anh (em) phải đi theo đường lối của Người, giữ các thánh chỉ, mệnh lệnh, quyết định của Người, và nghe tiếng Người.18 Hôm nay, ĐỨC CHÚA đã khiến anh (em) tuyên bố rằng anh (em) sẽ là dân thuộc quyền sở hữu của Người như Người đã phán với anh (em), và rằng anh (em) sẽ giữ mọi mệnh lệnh của Người,19 rằng Người sẽ cho anh (em) vượt mọi dân tộc Người đã tạo dựng, xét về vinh dự, danh tiếng và vinh quang, rằng anh (em) sẽ là một dân thánh hiến cho ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), như Người đã phán. (Đnl 26,16-19)
Tin Mừng:

*43“Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. 44Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. 45Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. 46Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? 47Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? 48Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5,43-48)
Chú thích:
* 5,43 Hãy yêu đồng loại. Đây là điểm tương khắc cuối cùng giữa luật cũ và luật mới. Cựu Ước nói về lòng nhân ái, và đó là tình liên đới giữa những thành phần trong dân Chúa. Còn Tin Mừng thì đi xa hơn, và không chỉ khuyên nên có một lòng nhân ái quảng đại hơn mà thôi đâu : Tin Mừng đưa vào một thế giới hoàn toàn khác. Trong nội bộ một nhóm người, tình liên đới phát triển theo một bản năng tự nhiên. Nhưng rồi nhóm này chỉ tồn tại và tự khẳng định căn tính của mình bằng cách chống đối với những nhóm kia mà thôi.
Hãy ghét kẻ thù. Trong Kinh Thánh không đâu dạy như thế, nhưng có những chỗ có tư tưởng tương đương (Đnl 7,2). Nói về kẻ thù dân tộc chứ không phải kẻ thù cá nhân, thì khuyên nên dè dặt với chúng, không nên giúp đỡ chúng, thậm chí thà giết sạch chúng đi còn hơn là thông đồng với chúng trong lầm lỗi.
Ngày nay, nếu ở nhiều quốc gia, người ta hiểu lòng nhân đạo là không biên giới, thì phải nhìn nhận đó là hoa quả của Tin Mừng : Chúa Giê-su đã mở lòng mở trí cho chúng ta đón nhận tình yêu đại đồng của Chúa Cha, lấy đó làm chuẩn mực để mà yêu thương đồng loại. Nhưng chỉ cần mở một tờ báo ra đọc cũng có thể thấy rằng lòng nhân ái đó đối với tha nhân –dù tha nhân này là loại người nào đi nữa, thuộc một cộng đồng xã hội, quốc gia hay tôn giáo thù nghịch với cộng đồng của riêng chúng ta–, vẫn còn là điều xa lạ đối với số đông, ngay cả trong giới người tín hữu ở các nước Ki-tô giáo. Một khi đã hiểu rằng mỗi một con người đều có chỗ đứng trong thế giới này, rằng Thiên Chúa điều khiển cho mọi sự đều sinh ích cho mọi người, thì chúng ta nhìn thấy được như Chúa thấy và trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện. “Hoàn thiện” theo một nghĩa rất ư xác thực, tuy hãy còn nhiều điểm bất toàn.
Hãy yêu kẻ thù : Mc 12,31 ; Lc 10,27 ; Rm 13,9 ; Gl 5,14 ; Rm 12,20 ; Lc 23,34 ; Cv 7,60 ; Rm 12,14 ; Ep 5,21.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét