Lời Chúa và chú thích CN III Mùa Chay 15/03/2020
(Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản
LCCMN)
giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha
trong thần khí và sự thật
Bài Đọc I:
3 Ở đó, dân khát nước nên đã kêu trách ông Mô-sê rằng:
"Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì? Có phải là để cho (chúng)
tôi, con cái (chúng) tôi, và súc vật của (chúng) tôi bị chết khát hay không?
"4 Ông Mô-sê kêu lên cùng ĐỨC CHÚA: "Con phải làm gì
cho dân này bây giờ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con! "5 ĐỨC
CHÚA phán với ông Mô-sê: "Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số
kỳ mục Ít-ra-en; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi.6 Còn
Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ
đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống." Ông Mô-sê đã
làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ít-ra-en.7 Ông đặt tên cho nơi
ấy là Ma-xa và Mơ-ri-va, nghĩa là thử thách và gây sự, vì con cái Ít-ra-en đã
gây sự và thử thách ĐỨC CHÚA mà rằng: "Có ĐỨC CHÚA ở giữa chúng ta hay
không? " (Xh 17,3-7)
Bài Đọc II:
*1 Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta
được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.2 Vì
chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên
Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng
được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.5 Trông cậy như thế, chúng
ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng
chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.6 Quả vậy,
khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo
đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta.7 Hầu như không ai
chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện
chăng.8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta
còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta (Rm
5,1-2.5-8)
Chú thích:
* 5,1 Trong đoạn này, thánh Phao-lô dựa vào kinh nghiệm riêng
của ngài để giúp chúng ta khám phá những gì thay đổi trong đời sống chúng ta từ
khi nhờ đức tin, trật tự đích thực (cán cân “công lý”) đã được tái lập nơi
chúng ta.Trước hết là tâm tình bình an : chúng ta được bình an với Thiên Chúa (c.1). Trước đó, có thể chúng ta cảm thấy mình rất thoải mái, đâu ý thức mình có tội hoặc mắc nợ ai. Nhưng một khi được bình an, chúng ta nhận ra rằng trước đây, có một khoảng trống nơi mình, một thái độ hậm hực khiến chúng ta khép cửa lòng mình với Thiên Chúa một cách vô thức. Chỉ có lúc ấy chúng ta mới ý thức được như vậy. Chúng ta tin gì ? Chúng ta tin vào tình yêu Thiên Chúa, và chúng ta nhận thấy tình yêu ấy nơi Chúa Giê-su chết và sống lại vì chúng ta.
Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa (c.2). Ân huệ mà thánh Phao-lô nói đến, chúng ta gọi đó là tình trạng ân sủng. Không nhất thiết phải cảm nhận mình có ân sủng để gọi là được ở trong ân sủng, và cố đi tìm cho ra một nhóm người trong đó mình được cảm giác về Thiên Chúa là một sai lầm : đó vẫn là một cách tìm thoả mãn chính mình, và những người bạn đích thực của Thiên Chúa thì không làm như vậy. Cái quan trọng không phải trước hết là thấy hoặc cảm thấy, nhưng là tin những gì Thiên Chúa làm. Tuy nhiên, có trăm ngàn cơ hội cho chúng ta được ý thức lại một lần nữa sự hiện diện của Thiên Chúa trong chúng ta. Thánh Phao-lô, người đã từng chiến đấu bao nhiêu cho Chúa Ki-tô, nói rằng chính trong thử thách mà người ta khám phá rõ nhất sức mạnh Chúa Ki-tô đang tác động nơi chúng ta và làm cho chúng ta trưởng thành (2 Cr 12,9).
Chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng hưởng vinh quang của Thiên Chúa (c.2). Đây là niềm hy vọng lớn lao trong Ki-tô giáo, mà những người không gặp gỡ Chúa Ki-tô không biết đến, là niềm xác tín về một mục đích vượt trên tất cả những gì các bậc hiền nhân và các nhà huyền nhiệm vĩ đại nhất thuộc mọi tôn giáo đã nghĩ ra, đã hy vọng và kinh nghiệm qua. Đó là tình hiệp thông trọn vẹn nơi chính Thiên Chúa.
Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng (c.5). Khác với dân Ít-ra-en trong Cựu Ước, là dân tộc vẫn luôn sống trong tạm bợ trong khi mong chờ chân lý và công lý cuối cùng, thì người Ki-tô hữu, ngay trong hiện tại, đã nếm trước những gì một ngày kia họ sẽ được hưởng một cách viên mãn. Một hương vị thần thiêng đã được đổ vào lòng chúng ta (c.5), và điều Thiên Chúa ban khi Thần Khí của Người đến với chúng ta là sự bình an.
Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi (c.8). Chúng ta biết Chúa Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, nhưng thường thì điều đó không làm cho chúng ta cảm kích bao nhiêu, vì cuộc hy sinh của Người xem ra quá xa vời và không thiết thực lắm. Nhưng khi Thiên Chúa ban cho chúng ta hiểu được điều đó thì tình yêu liền chớm nở trong tâm hồn chúng ta. Tình yêu đáp trả tình yêu, cuộc hoán cải đích thực là như vậy.
Chúng ta được nên công chính nhờ Máu Đức Ki-tô đổ ra (c.9). Có cần máu của Chúa Ki-tô không ? Ở 3,25, chúng ta đã nói thánh Phao-lô lệ thuộc từ vựng tôn giáo đương thời của ngài : trong đạo Do-thái, phải có máu các tế vật thì mới có ơn tha tội. Các ngôn sứ đã từng nói các rãnh máu trong Đền Thờ không có giá trị gì nếu không có lòng vâng phục Thiên Chúa. Kế đến, một số ngôn sứ đã hiểu rằng lễ hy sinh đích thực để thế giới được giao hoà là các khổ nhục của một số ít người trung thành trong dân Thiên Chúa (Is 53,13). Dù giải thích thế nào đi nữa, công trình cứu độ thế giới phải xuyên qua những đau khổ và cái chết của người vô tội, và dân Thiên Chúa phải chấp nhận mình nằm trong số các nạn nhân như thế của bạo lực. Vậy là cái chết oan khốc và máu đổ ra của Chúa Giê-su thuộc ngôn ngữ của Thiên Chúa, cũng như là một phần của kinh nghiệm kiếp người. Thánh Phao-lô biết rất rõ điều ấy, bởi ông đã từng can dự vào vụ giết chết ông Tê-pha-nô (Cv 22,20).
Tin Mừng:
5 Vậy, Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên
là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se.6 Ở
đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ
giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: "Chị cho tôi xin chút nước uống! "8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn.9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: "Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao? " Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri.10 Đức Giê-su trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: "Cho tôi chút nước uống", thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống."11 Chị ấy nói: "Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy."13 Đức Giê-su trả lời: "Ai uống nước này, sẽ lại khát.14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời."
15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su: "Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước."16 Người bảo chị ấy: "Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây."17 Người phụ nữ đáp: "Tôi không có chồng." Đức Giê-su bảo: "Chị nói: "Tôi không có chồng" là phải,18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng."19 Người phụ nữ nói với Người: "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ. ..20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa."21 Đức Giê-su phán: "Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem.22 Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái.23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế.24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật."25 Người phụ nữ thưa: "Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự."26 Đức Giê-su nói: "Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây."
27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi: "Thầy cần gì vậy? " Hoặc "Thầy nói gì với chị ấy? "28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta:29 "Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao? "30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.
31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng: "Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa."32 Người nói với các ông: "Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết."33 Các môn đệ mới hỏi nhau: "Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng? "34 Đức Giê-su nói với các ông: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.35 Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt? Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái!36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng.37 Thật vậy, câu tục ngữ "kẻ này gieo, người kia gặt" quả là đúng!38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ."
39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm.40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày.41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa.42 Họ bảo người phụ nữ: "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian." (Ga 4,5-42) (hoặc Bài ngắn, lược bớt một số câu)
------------------
Lời Chúa và chú thích T Hai 16/03/2020, sau
CN III Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
“Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào
được chấp nhận tại quê hương mình.
Bài
Đọc:*1Ông Na-a-man, tướng chỉ huy quân đội của vua A-ram, là người có thần thế và uy tín trước mặt chúa thượng của ông, vì ĐỨC CHÚA đã dùng ông mà ban chiến thắng cho A-ram. Nhưng ông lại mắc bệnh phong. 2Khi những người A-ram đi càn quét, họ đã bắt được một cô bé từ đất Ít-ra-en đưa về. Nó vào giúp việc cho vợ ông Na-a-man. 3Nó nói với bà chủ : “Ôi, phải chi ông chủ con được giáp mặt vị ngôn sứ ở Sa-ma-ri, thì chắc ngôn sứ sẽ chữa ông khỏi bệnh phong !” 4Ông Na-a-man đến tường trình với chúa thượng của ông : “Một thiếu nữ xuất thân từ đất Ít-ra-en đã nói thế này thế này.” 5Vua A-ram bảo : “Ngươi cứ lên đường và trẩy đi. Ta sẽ gửi thư cho vua Ít-ra-en.” Ông Na-a-man lên đường, mang theo ba trăm ký bạc, sáu mươi ký vàng và mười bộ quần áo để thay đổi. 6Ông trình thư lên vua Ít-ra-en. Thư viết : “Cùng với bức thư mà tôi gửi tới ngài đây, tôi sai Na-a-man, thuộc hạ của tôi, đến với ngài, để ngài chữa người này khỏi bệnh phong.” 7Vua Ít-ra-en đọc thư xong thì xé áo mình ra và nói : “Ta đâu có phải là vị thần cầm quyền sinh tử, mà ông ấy lại sai người này đến nhờ ta chữa hắn khỏi bệnh phong ? Các ngươi phải biết, phải thấy rằng ông ấy muốn sinh sự với ta.”
8Vậy, khi ông Ê-li-sa, người của Thiên Chúa, nghe biết là vua Ít-ra-en đã xé áo mình ra, thì sai người đến nói với vua : “Sao vua lại xé áo mình ra ? Người ấy cứ đến với tôi, thì sẽ biết là có một ngôn sứ ở Ít-ra-en.” 9Ông Na-a-man đi đến cùng với cả xe và ngựa. Ông đứng trước cửa nhà ông Ê-li-sa. 10Ông Ê-li-sa sai sứ giả ra nói với ông : “Ông hãy đi tắm bảy lần trong sông Gio-đan. Da thịt ông sẽ trở lại như trước, và ông sẽ được sạch.” 11Ông Na-a-man nổi giận bỏ đi và nói : “Ta cứ nghĩ bụng là thế nào ông ấy cũng đích thân đi ra, rồi đứng mà cầu khẩn danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ông ta. Ông ta sẽ quơ tay lên đúng chỗ phong mà chữa khỏi. 12Nước các sông A-va-na và Pác-pa ở Đa-mát chẳng tốt hơn tất cả nước sông ở Ít-ra-en sao ? Ta lại không thể tắm ở các sông ấy để được sạch hay sao ?” Ông quay lưng lại và tức tối ra đi. 13Bấy giờ, các tôi tớ của ông đến gần và nói : “Cha ơi, giả như ngôn sứ bảo cha làm một điều gì khó, chẳng lẽ cha lại không làm ? Phương chi ngôn sứ chỉ nói : Ông hãy đi tắm, thì sẽ được sạch !” 14Vậy ông xuống dìm mình bảy lần trong sông Gio-đan, theo lời người của Thiên Chúa. Da thịt ông lại trở nên như da thịt một trẻ nhỏ. Ông đã được sạch.
15Cùng với đoàn tuỳ tùng, ông trở lại gặp người của Thiên Chúa. (2V 5,1-15a)
Chú thích:
* 5,1 Việc chữa lành bệnh cho ông Na-a-man chiếm một chỗ đặc biệt trong số những phép lạ của ngôn sứ Ê-li-sa. Ta dễ khám phá ra : đây là một tiền ảnh của bí tích Thánh Tẩy rửa sạch tội lỗi của chúng ta.
Cho dù là một viên tướng nổi tiếng, ông Na-a-man đành bó tay trước bệnh phong. Ông ao ước được chữa lành và người ta cho ông một tia hy vọng : có những phép lạ chữa khỏi bệnh này đã xảy ra tại Ít-ra-en.
C.3 Cô bé nói với bà chủ. Mọi sự bắt đầu từ một lời nói của cô nô tỳ trẻ này của ông Na-a-man. Thời nay cũng vậy, người tín hữu tầm thường nhất vẫn có rất nhiều cơ hội để nói hoặc làm một điều gì đó, bên ngoài xem ra nhỏ mọn, nhưng sẽ đưa đến một kết quả rất lớn dưới mắt Thiên Chúa : dẫn dắt và hướng dẫn đến với Giáo Hội những con người tìm được sự chữa lành và ơn cứu độ. Tin Mừng đâu chỉ được loan đi và truyền bá do công trình của những tông đồ vĩ đại.
Trong Tin Mừng (Lc 4,27), Chúa Giê-su nêu ra việc chữa bệnh cho người dân ngoại này trong số tất cả những vụ chữa lành bệnh phong tại Ít-ra-en. Người coi đó là bằng chứng cho thấy rằng Thiên Chúa quan tâm đến tất cả mọi người, chứ không chỉ riêng đến những người chính thức thuộc về Người : quả vậy, chúng ta đừng quên : ông Na-a-man thuộc nước A-ram, kẻ thù của Ít-ra-en.
C.10 Ông Ê-li-sa sai sứ giả. Dưới con mắt của ngôn sứ, viên tướng này không có giá trị gì hơn bất cứ người nào khác. Ngôn sứ sẽ không dành cho ông ta một sự chú ý đặc biệt nào trong một cuộc gặp gỡ riêng. Ông Na-a-man không xuống xe, ngôn sứ Ê-li-sa cũng không đi ra chào ông ta.
Ông hãy đi tắm. Ông Na-a-man chờ đợi có một thứ “phù phép” gì đó xảy ra, những cử chỉ hoặc lời thần chú linh thiêng nào đó. Nhưng ông được lành bệnh chỉ nhờ chạm tới dòng nước của con sông chảy qua vùng đất của Thiên Chúa. Ít-ra-en là một đất nước rất nhỏ bé, nhưng ẩn chứa bao ân lộc của Thiên Chúa.
C.13 Giả như vị ngôn sứ bảo cha làm một điều gì khó, chẳng lẽ cha lại không làm ? Ông Ê-li-sa không hề đòi hỏi điều gì phi thường cả, chỉ đòi hỏi lòng vâng phục mà thôi. Chúa Giê-su cũng sẽ yêu cầu như vậy (Ga 4,50). Chúng ta thường đi trệch tuyến Nước Trời, do cứ muốn làm những chuyện lớn lao thay vì làm những chuyện đơn giản mà Thiên Chúa đòi hỏi.
Ông Na-a-man đã được chữa lành miễn phí. Kho tàng kếch xù ông mang theo chẳng có ích gì cả. Đức Chúa rộng tay ban mà không chờ đền đáp. Và một khi chúng ta khám phá ra tình yêu nhân hậu của Người, thì điều duy nhất Người đòi hỏi là ta phải lấy tình đáp tình, lấy nghĩa đáp nghĩa mà thôi.
C.18 Tôi cũng phải sụp lạy trong điện của thần Rim-môn. Giờ đây ông Na-a-man biết rằng không có thần nào khác ngoài Thiên Chúa của Ít-ra-en. Nhưng ông không thể từ bỏ thế giới ông đang ở, trong đó người ta thờ những thần khác. Câu trả lời của ngôn sứ Ê-li-sa cho thấy : Thiên Chúa hiểu rõ hoàn cảnh của ông.
Một lòng thông cảm tương tự –đối với những người có thiện tâm đang theo những tôn giáo khác– được tỏ lộ trong một số đoạn văn sách St và Xh, những đoạn mà chính các ngôn sứ gần gũi với môi trường sống của ngôn sứ Ê-li-sa đã viết ra (x. St 20,1-7 và Xh 18,1-20).
Na-a-man tiêu biểu cho loại người có thiện tâm bị tội lỗi hành hạ như một bệnh nan y, và đến với Giáo Hội để xin ơn phục hồi sức khoẻ. Họ đến từ những nơi rất xa, bởi vì họ đã phát hiện một nguồn mạch sự sống ẩn tàng trong Giáo Hội. Tự nó, dòng nước rửa tội không có tác dụng gì : nó có hiệu quả là khi nhờ nó mà chúng ta được hội nhập vào Giáo Hội là đoàn dân thuộc về Chúa Ki-tô.
Tin Mừng:
4Người nói tiếp : “Tôi bảo thật các
ông : không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.
25“Thật vậy, tôi nói cho các ông hay :
vào thời ông Ê-li-a, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói
kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Ít-ra-en ; 26thế mà ông
không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành
Xa-rép-ta miền Xi-đôn. 27Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa,
thiếu gì người mắc bệnh phong ở trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được
sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Xy-ri thôi.”28Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. 29Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. 30Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi. (Lc 4,24-30)
--------------
Lời Chúa và chú thích T Ba 17/03/2020, sau CN III Mùa Chay (Bản
văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
"Thầy không bảo là
đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy."
Lược chuyện Giấc mộng của vua
Na-bu-cô-đô-nô-xo (Antôn TTL)
Bài đọc I sách Đanien hôm nay trích 1 đoạn ngắn từ những lời cầu
nguyện, chúc tụng và ngợi khen Thiên Chúa của thiên sứ A-da-ri-a từ trong lò
lửa.
Nguyên vua xứ Babylon là Na-bu-cô-đô-nô-xo đã dùng sức mạnh
chiếm lấy Giê-ru-sa-lem, vua bắt một số trẻ Israel dòng dõi hoàng tộc về để
nuôi dạy.
[6 Trong số các trẻ ấy có Đa-ni-en, Kha-na-ni-a,
Mi-sa-ên và A-da-ri-a là những người Giu-đa (Đn
1,6)
17 Bốn cậu bé này đều được Chúa ban ơn hiểu
rộng biết nhiều về tất cả chữ nghĩa và lẽ khôn ngoan. Riêng Đa-ni-en còn được
hiểu biết mọi thị kiến và điềm báo mộng.(Đn 1,17)]
Sau đó vua bối rối vì gặp phải 1 giấc mộng nên cho vời các pháp
sư (cả chiêm tinh, phù thủy, đồng bóng) đến để hỏi, vua hỏi nhưng lại không nêu
lên câu hỏi, tất cả họ nói đó là điều không thể. Nổi trận lôi đình, vua đòi
tiêu dệt hết những người thông thái trong thành, nhờ Đanien can gián nên vua
cho hoãn lại lệnh giết đó.
[9 Bấy giờ ông Đa-ni-en được mặc khải điều bí
nhiệm ấy trong giấc chiêm bao ban đêm. Ông Đa-ni-en liền chúc tụng Đức Chúa
Trời (Đn 2,19)]
Sau khi nghe Đanien kể đúng giấc mơ của mình: vua mơ thấy 1 pho
tượng lớn và sau đó nó bị vỡ tan tành….
[48 Vua liền đặt ông Đa-ni-en lên chức cao và
ban cho ông nhiều món quà lớn. Vua đặt ông làm người cai quản toàn thành
Ba-by-lon và làm người đứng đầu các nhà thông thái của Ba-by-lon.49 Ông
Đa-ni-en xin nhà vua đặt các ông Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô lên trông coi
tỉnh Ba-by-lon. Còn ông Đa-ni-en thì túc trực trong đền vua.(Đn 2,48-49)]
Sau đó vua lại đúc tượng khác và bắt mọi người thờ lạy
[1 Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo làm một pho tượng bằng
vàng cao sáu mươi thước, ngang sáu thước, dựng trong cánh đồng Đu-ra thuộc tỉnh
Ba-by-lon. (Đn 3,1)]
Một số người Can-đê tố cáo Kha-na-ni-a, Mi-sa-ên và A-da-ri-a
(đã được vua đổi tên thành Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô) không
chịu thờ lạy tượng vàng.
Vua xét hỏi và họ vẫn kiên trung chỉ thờ lạy Chúa chứ không thờ
lạy tượng. Họ bị quăng vào lò lửa đang cháy, những người quăng họ vào đều bị
chết cháy, còn họ được thiên sứ của Chúa chở che an toàn.
[28 Vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cất tiếng nói:
"Chúc tụng Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô, Người đã sai
thiên sứ đến giải thoát các tôi tớ của Người là những kẻ đã tin tưởng vào
Người. Họ đã cưỡng lại lời vua, hy sinh tính mạng để khỏi phụng sự và thờ lạy
một thần nào khác ngoài Thiên Chúa của họ.29 Vậy
ta truyền rằng bất cứ người nào thuộc bất cứ dân tộc, giống nòi, ngôn ngữ nào
dám nói điều gì sai quấy, phạm đến Thiên Chúa của Sát-rác, Mê-sác và A-vết
Nơ-gô, sẽ bị xử lăng trì, và nhà chúng sẽ trở thành đống bùn, bởi vì không có
thần nào khác có thể cứu được như thế."30Rồi vua thăng chức cho
Sát-rác, Mê-sác và A-vết Nơ-gô trong tỉnh Ba-by-lon. (Đn 3,28-30)]
Sau đó vua tiếp tục có những giấc mơ và làm tiếp những điều điên
dại…
Bài Đọc:
25+A-da-ri-a đứng giữa đám lửa và cất
tiếng cầu nguyện rằng:
34+Ôi ! Vì danh thánh Chúa, xin đừng
mãi mãi bỏ rơi chúng con,
đừng huỷ bỏ giao ước của Ngài !
35+Vì tình nghĩa với bạn thân Ngài là
Áp-ra-ham,
với
tôi tớ Ngài là I-xa-ác, và kẻ Ngài thánh hoá là Ít-ra-en, xin Ngài đừng rút lại
lòng
thương xót đã dành cho chúng con.
36+Ngài đã hứa làm cho dòng dõi họ
đông
đảo như sao trên bầu trời,
như
cát ngoài bãi biển.
37+Thế mà hôm nay, lạy Chúa, vì tội lỗi
chúng con,
chúng
con đã thành dân nhỏ nhất,
đã
nếm mùi ô nhục trên khắp hoàn cầu.
38+Ngày nay chẳng còn vị thủ lãnh,
chẳng
còn bậc ngôn sứ, chẳng còn người chỉ huy.
Lễ
toàn thiêu, lễ hy sinh đã hết,
lễ
tiến, lễ hương cũng chẳng còn,
chẳng
còn nơi dâng của đầu mùa lên Chúa
để
chúng con được Chúa xót thương.
39+Nhưng xin nhận tâm hồn thống hối
và
tinh thần khiêm nhượng của chúng con,
thay
của lễ toàn thiêu chiên bò, và ngàn vạn cừu non béo tốt.
40+Ước gì hy lễ chúng con thượng tiến
Ngài hôm nay
cũng
làm đẹp ý Ngài như vậy.
Ước
gì chúng con theo Ngài mãi đến cùng,
vì
những ai tin cậy vào Ngài, đâu có phải ê chề thất vọng.
41+Và giờ đây, chúng con hết lòng đi
theo Chúa,
kính
sợ Ngài và tìm kiếm Thánh Nhan.
Xin
đừng để chúng con phải thẹn thùng xấu hổ.
42+Nhưng xin Ngài tỏ lòng nhân hậu
và
lòng thương xót vô biên của Ngài
khi
Ngài đối xử với chúng con.
43+Xin làm những việc lạ lùng kỳ diệu
mà
giải thoát chúng con
và
tôn vinh danh Ngài, lạy Chúa. (Đn 3,25.34-43)
Tin Mừng:
*21 Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng:
"Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy
lần? Có phải bảy lần không? "22 Đức Giê-su đáp: "Thầy
không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy."
*23 Vì thế, Nước Trời cũng giống như chuyện một ông vua kia
muốn đòi các đầy tớ của mình thanh toán sổ sách.24 Khi nhà vua
vừa bắt đầu, thì người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng.25 Y
không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y cùng tất cả vợ con, tài sản mà
trả nợ.26 Bấy giờ, tên đầy tớ ấy sấp mình xuống bái lạy:
"Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết."27 Tôn
chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ.28 Nhưng
vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một người đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan
tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: "Trả nợ cho tao! "29 Bấy
giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: "Thưa anh, xin rộng lòng hoãn
lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh."30 Nhưng y không chịu, cứ
tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ.31 Thấy sự việc
xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu
đuôi câu chuyện.32 Bấy giờ, tôn chủ cho đòi y đến và bảo:
"Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van
xin ta,33thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn,
như chính ta đã thương xót ngươi sao? "34 Rồi tôn chủ nổi
cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông.35 Ấy
vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người
trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình." (Mt 18,21-35)
Chú thích:
*
18,21 Bảy mươi lần bảy. So sánh với St 4,24 : sự tha thứ tương
phản với lòng ước muốn trả thù. X. Lc 17,3 : chúng ta phải tha thứ, nhưng tha
nhân cũng phải tỏ lòng hối hận.
SỰ
THA THỨ
* 18,23 Các đồng bạn mà có lỗi với chúng ta thì đâu là
gì so với những tội chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa. Vậy mà trong khi Thiên
Chúa tha luôn món nợ cho chúng ta, thì chúng ta lại không cho tha nhân
được hoãn nợ một chút nào. Thiên Chúa không đòi quyền lợi, thậm chí tưởng chừng
như Người đã quên hết tất cả quyền lợi của Người ; còn chúng ta, bằng cách đòi
cho được, chúng ta hành xử như những tên đầy tớ độc ác (x. Mt 5,43).Dụ ngôn này vượt quá phạm vi những vấn đề cá nhân riêng của chúng ta. Hằng ngày chúng ta nghe nói về những mối thù giữa các dân tộc cứ chồng chất mãi lên thật nặng nề, thường là do tôn giáo bất đồng. Bạo lực không giải quyết được những xung khắc về chủng tộc màu da : điều mà thế giới cần nhất là tập cho biết tha thứ. Chúng ta tha thứ không phải cách bởi không biết rõ Thiên Chúa đã tha thứ cho ta những gì rồi và Người có lòng thương xót biết bao.
Bài giảng thứ tư trong Tin Mừng Mt kết thúc với dụ ngôn về bổn phận phải tha thứ này. Giáo Hội vẫn còn đang tiến tới sự thánh thiện đúng như bản chất của mình, nhưng không ai có thể bác rằng Giáo Hội thời nào cũng là nơi mà người ta giảng dạy về lòng thương xót của Thiên Chúa, là nơi mà con người học cho biết cách tha thứ.
----------------
Lời Chúa và chú thích T Tư 18/03/2020, sau CN III Mùa Chay (Bản
văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn
Bài Đọc:
*1Giờ đây, hỡi Ít-ra-en, hãy nghe
những thánh chỉ và quyết định tôi dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành.
Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh
em. 5Hãy xem : tôi đã dạy cho anh em những thánh chỉ và quyết định
như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của tôi, đã truyền cho
tôi, để anh em đem ra thực hành trong miền đất mà anh em sắp vào chiếm hữu. 6Anh
em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn
ngoan và thông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói : “Chỉ
có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh !” 7Phải,
có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như ĐỨC CHÚA,
Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người ? 8Có
dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề
Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?9Nhưng anh (em) hãy ý tứ và cẩn thận giữ mình đừng quên những điều mắt anh (em) đã thấy, và suốt đời, đừng để cho những điều ấy ra khỏi lòng anh (em) ; trái lại, anh (em) hãy dạy cho con cháu anh (em) biết. * (Đnl 4,1.5-9)
Chú thích:
*
4,1 Từ những kinh nghiệm quá khứ, ông Mô-sê rút ra một bài học, và để
thuyết phục chúng ta tuân giữ luật Chúa, ông mời gọi chúng ta mở mắt ra mà nhìn
: Anh em (là) những kẻ gắn bó với Chúa, Thiên Chúa của anh em, hôm nay đều
còn sống cả, trong lúc mấy người kia đã chết. Giữa bao nhiêu “người chết”
đang bôn ba tranh giành nhau trên đời, người có niềm tin là những người sống.
Và hãy nhìn lại xem, ông nói : Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và
quyết định công minh như tất cả Lề Luật (này) chăng ? (c.8).
Tuy nhiên, trong cuộc đời, có nhiều
lúc các chước cám dỗ tấn công chúng ta dữ dội, tưởng chừng như nếu bỏ luật Chúa
thì chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc. Lúc đó, chúng ta hãy nhớ rằng Luật là luật
của Thiên Chúa, và nó không cần sự đồng tình của chúng ta : Anh em đừng thêm
gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì (c.2).
Có dân tộc vĩ đại nào được thần minh
ở gần, như Đức Chúa ở gần chúng ta
không ? (c.7). Những thần minh nào đây ? Là những gì chúng ta tưởng tượng ra
trước mắt ! Chúng ta tạo nó ra để cho mình ảo tưởng là nhờ nó mà các chương
trình của chúng ta được thực hiện. Thiên Chúa, ngược lại, đang có mặt ở đây,
với tất cả bề dầy mầu nhiệm của Người. Sự hiện diện đầy ắp của Người vượt ra
ngoài tầm tay của chúng ta. Tuy không trông thấy Người, chúng ta nhận ra Người
một cách chắc chắn, và mỗi khi Người cho chúng ta được cảm nhận sự gần gũi của
Người, Người cho chúng ta được vững tâm hơn.
Toàn bộ Kinh Thánh nhấn mạnh tính
xác thực và giá trị lịch sử của những lần Thiên Chúa can thiệp. Đừng quên
những điều mắt anh em đã thấy (c.9). Đúng là sự tích ông Mô-sê đã được viết
ra hàng mấy thế kỷ sau, và nhiều giai đoạn trong cuộc hành trình của Ít-ra-en
trong sa mạc đã trở thành huyền thoại. Nhưng các giai thoại về man-na, cột mây
và cuộc vượt qua biển đã không được hình thành, nếu cộng đồng con cái Ít-ra-en
không trải qua kinh nghiệm về sự quan phòng của Thiên Chúa và thái độ cương
quyết của Người trong những cơ hội đó. Ngày qua ngày, Ít-ra-en khám phá Thiên
Chúa như là người cha đồng hành từng bước với con của mình (Đnl 1,31).
TÔN
GIÁO (ĐẠO) VÀ ĐỨC TIN
Các từ này trở đi trở lại luôn khi
chúng ta nói về tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Nhưng còn cần phải
hiểu từ “tôn giáo” là gì và chúng ta nói những gì khi đề cập đến đề tài đức
tin.
Các dân tộc thời cổ cũng như rất
nhiều người thời nay có lòng sùng “đạo” : họ tin rằng cái thế giới trong đó họ
đang sống là công trình của một Thiên Chúa Sáng Tạo đã “dựng nên trời đất và
muôn loài trong đó”. Vì vậy, chúng ta gặp thấy trong tất cả mọi tôn giáo thời
cổ xưa, cũng như trong các trang đầu Kinh Thánh, những bài trình thuật về công
trình sáng tạo thế giới, những trình thuật lý giải nguồn gốc của thế giới và
con người. Vậy nếu Đấng Tạo Hoá là tác giả của Tạo Thành, thì duy chỉ có Người
mới có thể đưa ra các quy luật điều khiển cơ chế của nó : thế nên tất cả mọi
tôn giáo đều nghiễm nhiên đem những chỉ thị có tính luân lý nối kết với các bài
trình thuật về thời khởi thuỷ.
Thiên Chúa trong tôn giáo –hay nói
nôm na hơn : Thần trong đạo (hoặc các thần, vì đạo đa thần rất phổ biến)– có cả
một hàng giáo sĩ phụng thờ. Họ nhân danh dân chúng tạ ơn Thần về những ân huệ
Thần đã ban cho loài người, và cầu xin Thần tiếp tục giáng phúc trong năm mới.
Do vậy mà các lễ hội tôn giáo trước hết là những lễ nghi cảm tạ với những của đầu
mùa dâng tiến, như chúng ta vẫn còn đọc thấy trong các đoạn văn phụng tự của
Cựu Ước. Bản tính tôn giáo là bảo thủ, bởi lẽ chức năng của nó là bảo đảm cuộc
vận hành có trật tự của thế giới ; tôn giáo không “trông cậy” vào tương lai bởi
lẽ con người không có gì mới để mà trông mong, chỉ có việc chờ cho ngày mai
cũng lại mang đến cho mình, như hôm nay, những cái mình cần trên đời.
Khi mở sách Kinh Thánh, khi tuyên
xưng đức tin, chúng ta nhìn nhận chính mình cũng là một dân sùng đạo ; chúng ta
chẳng nói : “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời
đất” đó sao ? Nhưng cái đạo mà chúng ta tuyên xưng đã được đức tin biến đổi
toàn bộ : Thiên Chúa Sáng Tạo đã tỏ mình, đã tự “mặc khải” cho dân Ít-ra-en mà
tự ngàn xưa Người đã chọn làm “nhân chứng cho Người giữa muôn dân”. Qua bao
nhiêu thế kỷ, Thiên Chúa đã tự mặc khải trong chính lịch sử của Ít-ra-en :
Người dẫn dắt họ như một người cha dìu dắt đứa con của mình (Đnl 1,31) đến một
mức viên mãn mà con người không thể quan niệm, thậm chí không hề tưởng tượng
nổi (Ep 1,15-23 ; 3,14-21 ; Cl 1,9-14.25-27).
Thiên Chúa đã tự tỏ mình cho con
người được nhận biết bản thể của Người, và lôi cuốn con người vào một sự hiệp
thông trong tình yêu vĩnh cửu với Người (Ga 17,21). Do đó, đức cậy trông, ít ra
theo như thánh Phao-lô đã định nghĩa cho chúng ta (Rm 8,24-25), là cốt tuỷ của
đức tin chúng ta có, và nếu vì mọi ơn lành được lãnh nhận từ tay Người mà chúng
ta không ngừng dâng lên Chúa lời tạ ơn, thì chúng ta càng phải dâng lên Người
lời tạ ơn gấp bội, vì Người là Chúa Cha đã làm cho (chúng ta) trở nên xứng
đáng chung hưởng phần gia nghiệp của các thánh trong cõi đầy ánh sáng, và
đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh
Tử chí ái (Cl 1,12-13).
Tin Mừng:
*17 "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc
lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.18 Vì,
Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề
Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.19 Vậy
ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm
như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy
làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.(Mt 5,17-19)
Chú thích:* 5,17 Ở đây bắt đầu đoạn văn trình bày Luật mới. Rất khác với những gì người ta quen tìm thấy trong một tôn giáo : những nghi lễ và tập tục, luật giữ chay, những kinh kệ và việc lành phúc đức mà nhờ đó người ta xứng đáng được cứu rỗi. Chúa Giê-su sẽ không đề cập tới những điều đó vì Kinh Thánh đã nói dài lắm rồi. Vả lại, việc nghiên cứu Kinh Thánh cũng cho thấy rằng các luật lệ, nghi lễ và tập tục luôn có liên hệ với một nền văn hoá nhất định, và phải được thích nghi theo thời gian.
Lề Luật (c.18) : từ ngữ này có khi chỉ về toàn bộ tôn giáo của Ít-ra-en. Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ : đây là lối nói chỉ về toàn bộ sách Kinh Thánh.
Toàn bộ Lề Luật phải được hoàn thành (c.18). Ở đây, Chúa Giê-su không nói về các điều răn. Người khẳng định rằng đạo của Cựu Ước là một giai đoạn tạm thời nhưng cần thiết trong lịch sử cứu độ. Cũng như các lời ngôn sứ phải được hoàn thành, thì cũng vậy, những lễ nghi và lễ tế của thời Cựu Ước diễn đạt cách nào đó mầu nhiệm tội lỗi và lòng thương xót, cũng phải được hiểu dưới ánh sáng mà Chúa Giê-su đem lại.
Vì lẽ đó mà đối với chúng ta, việc giữ các luật lệ trong Kinh Thánh tự nó không phải là một cùng đích. Đó là cách biểu hiện tình yêu đích thực, và là những tay vịn cho khỏi sẩy chân. Nhờ tuân theo luật, chúng ta sẽ ở trong thái độ sãn sàng tùng phục Chúa Thánh Thần để đi xa hơn luật. Như vậy chúng ta sẽ khám phá một “sự công chính” còn hoàn hảo hơn sự công chính mà các nhà thông luật thời Chúa Giê-su, là các kinh sư và người Pha-ri-sêu, đòi hỏi (5,20).
Khi chuẩn bị dạy cho chúng ta hiểu Luật Chúa cách mới mẻ hơn, Chúa Giê-su dặn chúng ta đề phòng cơn cám dỗ đi tìm sự dễ dãi. Có thể nhiều người hiểu sai lời Chúa Giê-su và nói : Hay quá, với Ngài thì đâu có gì bắt buộc, giữ đạo dễ thôi ! Vì vậy, Chúa Giê-su nói rõ : Ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Những ai lấy cớ rằng các điều luật ấy đâu có gì quan trọng để chữa tội làm biếng của mình thì cũng bị cảnh cáo như vậy. Chúa Giê-su dạy tinh thần giữ Luật cho những ai đã trung thành sống theo một luật nội tâm rồi.
---------------
Lời Chúa và chú thích T Năm 19/03/2020, lễ
thánh Giuse (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa
dạy
Bài
Đọc I:
4 Nhưng ngay đêm ấy, có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Na-than
rằng:
5 "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: ĐỨC CHÚA phán thế này: Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao?
5 "Hãy đi nói với tôi tớ của Ta là Đa-vít: ĐỨC CHÚA phán thế này: Ngươi mà xây nhà cho Ta ở sao?
12 Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với
cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi -một người do chính
ngươi sinh ra-, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền.13 Chính
nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững
bền mãi mãi.14 Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là
con. 16 Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại
mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi." (2 Sm 7,4-5a.12-14a.16)
Bài
Đọc II:
13 Thật vậy, không phải chiếu theo Lề Luật, mà Thiên Chúa đã hứa
cho ông Áp-ra-ham và dòng dõi ông được thế gian làm gia nghiệp; nhưng ông được
lời hứa đó, vì đã trở nên công chính nhờ lòng tin.
16 Bởi vậy, vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy,17 như có lời chép: Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có.
16 Bởi vậy, vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy,17 như có lời chép: Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có.
18 Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững
tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán: Dòng
dõi ngươi sẽ đông đảo như thế.22 Bởi thế, ông được kể là người
công chính. (Rm 4,13.16-18.22)
Tin Mừng:
16 Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức
Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô. *18 Sau đây là gốc tích Đức
Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước
khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.19 Ông
Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định
tâm bỏ bà cách kín đáo.20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa
sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu
Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do
quyền năng Chúa Thánh Thần.21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải
đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của
họ." 24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần
Chúa dạy (Mt 1,16.18-21.24a)
Chú thích:* 1,18 Chúng ta đã lưu ý cái bước ngoặt ở c.16 : Chúa Giê-su không phải là con ông Giu-se. Đoạn văn bắt đầu ở đây muốn nhắc nhở rằng Chúa Giê-su là hậu duệ hợp pháp của vua Đa-vít, đồng thời cũng là Con Thiên Chúa đầu thai làm con một người trinh nữ bởi quyền năng Thánh Thần.
Những câu văn ngắn ngủi gần như có phần rụt rè này chỉ là những nét chấm phá về mầu nhiệm của Đức Ma-ri-a, người trinh nữ đã dâng lên Thiên Chúa cuộc đời trần thế của mình làm hiến lễ tôn thờ. Một sứ giả vụt xuất hiện trong bóng tối : một cuộc đối thoại trầm lặng, và thế giới mở cửa ra đón mừng sự hiện diện đầy năng động của Thiên Chúa. Về sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a, x. Lc 1,26.
Bà Ma-ri-a đã thành hôn với ông Giu-se. Trong xã hội Do-thái thời bấy giờ, lễ đính hôn đã trao cho đôi bên tất cả mọi quyền lợi vợ chồng ; mặc dù vậy, bên nữ vẫn tiếp tục ở nhà cha mẹ và dưới sự bảo hộ của cha mẹ, không hưởng quyền lợi cụ thể nào cũng như không có tự do chi cả. Như ở nhiều nơi, phụ nữ Do-thái phải giữ luật tam tòng (tất yếu thuộc quyền một người đàn ông : cha, chồng, con trai trưởng nếu chồng chết). Vậy Đức Ma-ri-a đã là vợ ông Giu-se, nhưng chỉ thuộc quyền ông khi được ông đón về nhà (cc. 20 và 24).
Sự đồng trinh của Đức Ma-ri-a đi ngược lại não trạng người Do-thái, bởi họ xem việc sinh con là cao trọng hơn cả. Tuy nhiên, ông Giu-se mà chấp nhận hoàn cảnh này cũng không phải là điều không thể tưởng được. Thật vậy, vào thời ấy, đã có nhóm người phái Ê-xen sống độc thân như đan sĩ.
Ông Giu-se định tâm bỏ bà cách kín đáo. Tin Mừng không nói rõ Đức Ma-ri-a có báo cho ông Giu-se biết hay không, nhưng dù sao, khó tưởng tượng rằng ông Giu-se nghi ngờ lòng chung thuỷ của Đức Ma-ri-a. Không ai trong đôi bạn có thể phản bội người kia, ông biết như vậy.
Theo Tin Mừng, sứ thần Chúa không đến can thiệp để trấn an ông, nhưng là để thông tin cho ông biết vai trò của ông trong kế hoạch của Thiên Chúa : Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su và sẽ nhận nó làm con của ông. Ông là hậu duệ vua Đa-vít, và như vậy, trẻ Giê-su, nghĩa tử của ông, sẽ là hậu duệ hợp pháp của Đa-vít. Rất có thể Đức Ma-ri-a không thuộc chi tộc Giu-đa, là chi tộc của dòng họ Đa-vít, mà thuộc dòng dõi một tư tế trong chi tộc Lê-vi, giống như người chị họ là bà Ê-li-sa-bét.
Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su. “Giê-su” là một dạng của từ “Giê-su-a” (có nghĩa là Đức Chúa cứu), một tên Do-thái rất gần với “Giô-suê”. Và cái tên này nói lên con trẻ sẽ làm gì mai sau.
Tác giả Mt dẫn một lời sấm của I-sai-a (Is 7,14) loan báo mầu nhiệm của Chúa Giê-su : Người là dòng dõi vua Đa-vít và hiện thân của Thiên Chúa trên trần gian. Em-ma-nu-en, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Đây là một cách nhắc nhớ mầu nhiệm bản thân Người. Đức Giê-su, con bà Ma-ri-a trong lịch sử, là Con Một Thiên Chúa Cha sinh ra từ trước muôn đời, và Người không thể nào có hai cha được. Phải hiểu ý nghĩa vai trò làm nghĩa phụ của thánh Giu-se như thế đó : nó có liên hệ tới và bảo vệ cả một mầu nhiệm
--------------
Lời Chúa và chú thích T Bảy 21/03/2020,
sau CN III Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
‘Lạy Thiên Chúa, xin thương
xót con là kẻ tội lỗi.’
Bài Đọc:
*1“Nào chúng ta hãy trở về cùng ĐỨC CHÚA.
Người
đã xé nát thân chúng ta, nhưng rồi lại chữa lành.
Người
đã đánh đập chúng ta, nhưng rồi lại băng bó vết thương.
2Sau hai ngày, Người sẽ hoàn lại cho
chúng ta sự sống ;
ngày
thứ ba, sẽ cho chúng ta trỗi dậy,
và
chúng ta sẽ được sống trước nhan Người.
3Chúng ta phải biết ĐỨC CHÚA, phải ra sức nhận biết Người ;
như
hừng đông mỗi ngày xuất hiện,
chắc
chắn thế nào Người cũng đến.
Người
sẽ đến với chúng ta như mưa rào,
như
mưa xuân tưới gội đất đai.”
4Ta phải làm gì cho ngươi đây,
Ép-ra-im hỡi ?
Ta
phải làm gì cho ngươi, hỡi Giu-đa ?
Tình
yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng,
mau
tan tựa sương mai.
5Vì vậy, Ta dùng ngôn sứ mà đánh phạt
chúng,
lấy
lời miệng Ta mà diệt trừ.
Phán
quyết của Ta sẽ bừng lên như ánh sáng.
6Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy
lễ,
thích
được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu. (Hs 6,1-6)
Chú thích:* 6,1 Dân chúng hối tiếc vì những lỗi lầm, nhưng họ không đủ chân thành để bỏ đường tội lỗi. Họ tưởng cứ dâng hy lễ là làm đẹp lòng Thiên Chúa, trong khi thiếu lòng yêu mến chân thật biểu lộ trong đức vâng phục. Họ thích dâng những của lễ tốn kém do họ chọn hơn là làm theo điều Thiên Chúa yêu cầu (Mk 6,6-8).
Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Chúa Giê-su hay nhắc nhở các người Pha-ri-sêu câu này (Mt 9,13).
Tin Mừng:
*9Đức Giê-su còn kể dụ ngôn sau đây
với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác : 10“Có
hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người
kia làm nghề thu thuế. 11Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm
rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : trộm
cắp, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12Con ăn chay
mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’ 13Còn
người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng
vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội
lỗi.’ 14Tôi nói cho các ông biết : người này, khi trở xuống mà về
nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn
mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.” (Lc 18,9-14)
Chú thích:
*
18,9 Nhóm Pha-ri-sêu trung thành tuân giữ luật Thiên Chúa : họ
gia tăng những việc ăn chay và từ thiện. Khốn nỗi, nhiều người cho là mình có
công trạng do một cuộc sống gương mẫu : việc lành họ làm buộc Thiên Chúa phải
thưởng công cho họ.
Người thu thuế thì, ngược lại, tự
nhận mình là kẻ có tội với Thiên Chúa và với tha nhân : anh chỉ biết xin ơn tha
thứ. Chính anh là người sống trong sự thật và trong sự công chính của
Thiên Chúa khi anh trở về nhà (bản văn nói là anh được nên công chính,
nghĩa là được đẹp ý Thiên Chúa).
Chúa Giê-su lên tiếng nói với một
số người tự hào cho mình là công chính (c.9). Là công chính đối lại
với được nên công chính ở c.14. Sách Thánh gọi là “người công chính”
những ai sống đúng đắn trước mặt Thiên Chúa vì tuân giữ Luật Người ; như trong
Mt 1,19 và Lc 1,6 : hai ông Giu-se và Da-ca-ri-a được gọi là người công chính.
Tuy nhiên, ở nhiều nơi, người ta xem các hành động bên ngoài làm nên người
“công chính” rất ư là quan trọng, và nhóm Pha-ri-sêu hoặc bất kỳ nhóm tôn giáo
nào –cũng đồng thời là một đảng phái hay một nhóm người trong xã hội–, thì tự
coi mình là người tử tế vì những hành động bề ngoài ấy.
Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta sống
khiêm tốn nếu muốn được đức “công chính” hoặc đức chính trực duy nhất mà Thiên
Chúa chấp nhận, vì đâu phải cứ lập công tích đức mà chúng ta được nên công
chính, nhưng là phải nhận lấy nhân đức ấy từ tay Thiên Chúa, như một ân huệ
Người tặng ban cho những ai mong nhận từ nơi Người ơn tha thứ và thánh thiện.
Không phải ngẫu nhiên mà dụ ngôn này là riêng của tác giả Lu-ca, người môn đệ
của thánh Phao-lô, vì chính thánh Phao-lô, một người Pha-ri-sêu đã trở lại,
thường nhắc đi nhắc lại thế nào là sự công chính đích thực của người Ki-tô hữu.
Những gì Thiên Chúa dành cho chúng ta lớn lao đến nỗi không khi nào chúng ta có
thể mua lấy được bằng những việc đạo đức hoặc những việc lành : nhưng Thiên
Chúa ban tất cả nếu chúng ta tin tưởng vào Người (x. Rm 4).
Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà Chúa
Giê-su đưa ra làm ví dụ một người Pha-ri-sêu chỉ biết so sánh mình với một
người khác để thấy mình tốt hơn người ấy. Đấy chính là chỗ ma quỷ đón đường mọi
người và tất cả những nhóm Ki-tô hữu nào tự hào mình đã chọn một con đường hoán
cải. Bất cứ nơi đâu Giáo Hội chia rẽ, dù là vì lý do chính trị hay tôn giáo,
thì có thể cầm chắc là người ta thích ở trong tình trạng ấy vì nó cho phép mỗi
người tự so sánh mình với kẻ khác. Và thật khó mà có chân trong một nhóm “người
trở lại” mà không nhìn bằng cặp mắt thương hại những anh em Ki-tô hữu đã không
chọn đi cùng một con đường với mình.
QUYỀN
PHÉP CỦA CHÚA GIÊ-SU
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét