Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2020

Lời Chúa và chú thích Tuần sau CN IV Mùa Chay


Lời Chúa và chú thích CN IV Mùa Chay 22/03/2020 (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

"...Nhưng giờ đây các ông nói rằng: 'Chúng tôi thấy',
nên tội các ông vẫn còn!"

Bài Đọc I:
*1 Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua." 
6 Khi họ đến, ông thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: "Ðúng rồi! Người Ðức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Ðức Chúa đây!" 7 Nhưng Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: "Ðừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Ðức Chúa thì thấy tận đáy lòng." 10 Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: "Ðức Chúa không chọn những người này." 11 Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê: "Các con ông có mặt đầy đủ chưa?" Ông Gie-sê trả lời: "Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên." Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: "Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây." 12 Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Ðức Chúa phán với ông Sa-mu-en: "Ðứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi! Chính nó đó!" 13 Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Ðức Chúa nhập vào Ða-vít từ ngày đó trở đi. (1 Sm 16,1b.6-7.10-13a)
Chú thích:

* 16,1 Cái gì là có thật trong bài trình thuật này ? Bởi vì sách đưa ra ba truyền thuyết về bước đường thăng tiến của vua Đa-vít : 16,1 ; 16,14 ; 17,17. Đoạn ở đây cố gắng vạch rõ ý nghĩa của số mạng siêu quần bạt chúng này.
Chính tại Bê-lem mà ông Sa-mu-en sẽ tìm thấy người mà Thiên Chúa tuyển chọn. Thị trấn này sẽ đời đời là “thành của Đa-vít”. Người con của ông Gie-sê đang chăn chiên : trong Kinh Thánh, người chăn chiên là hình ảnh của ông vua hoàn hảo, có khả năng phục vụ thần dân mình như người mục tử chăm sóc đàn chiên mình vậy (Ed 34 và Ga 10).
Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng (c.7). Nói rằng Thiên Chúa xét xử tốt hơn chúng ta thì vẫn chưa đủ : cho dù có hay không một ngôn sứ như ông Sa-mu-en để can thiệp, các biến cố cũng sẽ xảy ra cho những ai Thiên Chúa “đã biết từ trước”, theo lối nói của thánh Phao-lô, và đã được Người ghi dấu để dành cho họ một sứ mạng vượt quá khả năng của họ rất xa. Tính đối lập giữa bề ngoài và bên trong đáy lòng sẽ được lặp đi lặp lại trong các thư thánh Phao-lô, là người cũng đã được chọn như Đa-vít (1 Cr 1,28 ; 2 Cr 3,1 ; 11,16).
Trong các cộng đoàn Ki-tô hữu, có những người không hề hé môi, nhưng cũng có những kẻ tỏ ra nhiệt thành. Điều thiết yếu là các vị có trách nhiệm thấy được thâm tâm của cả hai loại người vừa nói. Lúc đó người ta sẽ khám phá ra nhiều giá trị chân chính.

Bài Đọc II:
(8) Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; (9) mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. (10) Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. (11) Ðừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. (12) Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. (13) Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra, (14) mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng:
Tỉnh giấc đi hỡi người con đang ngủ!
Từ chốn tử vong, chỗi dậy đi nào! 
Ðức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi! (Ep 5,8-14)

Tin Mừng:
*1Đi ngang qua, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”
6Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”
13Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”
18Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
24Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.
35Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
39Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”
40Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !” (Ga 9,1-41) (hoặc Bài ngắn, lược bớt một số câu)

Chú thích:
* 9,1 TIN, NGHĨA LÀ THẤY
Chúa Giê-su là ánh sáng : người mù ở đây nhìn thấy ánh sáng ban ngày. Chúa Giê-su là ánh sáng, nhưng loài người phân ra nhiều loại trong cách ứng xử với Người. Một số người mở lòng đón nhận ánh sáng, người khác vẫn mù quáng và từ chối không chịu tin vào vị sứ giả này của Thiên Chúa.
Chúng ta có thể thấy trong chương này những phản ứng khác nhau trước phép lạ : người mù thì hiểu ngay sự kiện anh ta được chữa lành có ý nghĩa gì, cha mẹ anh thì tỏ ra sợ sệt và có thái độ xu thời, còn những người Pha-ri-sêu đã mục kích cảnh tượng thì chỉ biết xét đoán và không nhận ra rằng họ tự kết án chính mình.
Tin Mừng mở ra cho chúng ta một cách khác để giải thích phép lạ này : người bắt đầu nhìn thấy là người tin (x. đặc biệt cc. 4 và 39-41).
Thưa Thầy, ai đã phạm tội, người này hay cha mẹ anh ? (c.2). Nhưng Chúa Giê-su không chịu xem mọi nỗi bất hạnh như là hình phạt của Thiên Chúa.
Chúa chữa lành người mù vào ngày sa-bát. Các người chứng kiến phép lạ tự hỏi Thiên Chúa sẽ đứng về phía Lề Luật ngăn cấm làm việc trong ngày đó, hay về phía người đã thực hiện việc nghĩa ấy. Người Pha-ri-sêu bảo vệ Lề Luật : điều này không có gì lạ, bởi vì họ cảm thấy gần gũi với sách vở văn tự, còn những lầm than của con người thì họ chỉ nhìn thấy từ xa.
Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến (c.30). Có ai là người sống trong một thế giới mở cửa ra cho Thiên Chúa ? Không lạ gì người mù bị nhóm Pha-ri-sêu đuổi đi, bởi vì niềm tin vào Chúa Ki-tô tất nhiên sẽ tách biệt những người tin với những ai không đón nhận đường lối hành động của Thiên Chúa.
Người mù thấy được : anh cũng khám phá ra Đức Ki-tô và bắt đầu tin.
Nhiều người nghĩ rằng đức tin là một ảo tưởng, là một tấm màn phủ lên trên thực tế, và cái thiết thực thì nằm trong giới hạn lãnh vực vật chất, những gì có thể sờ, thấy, đếm, đong. Chân lý lại khác hẳn : người có đức tin cũng thấy những cái người khác thấy và biết ; nhưng ngoài ra, họ còn nắm bắt được một cái gì đó mà kẻ không có đức tin không nhận ra được. Cần có một giác quan đặc biệt mới thấy được xa hơn thế giới vật chất này.
Không được lẫn lộn đức tin Ki-tô giáo với tín ngưỡng về một vị Thiên Chúa vĩ đại hơn chúng ta. Đức tin là khả năng nhận biết, dưới ánh sáng Chúa Ki-tô, cái gì là chân thật, trong các mục tiêu được nhắm tới cũng như các phương tiện được vận dụng. Vì thế chúng ta không nên nghĩ rằng tin hay không tin là vấn đề không quan trọng mấy trong các cuộc đấu tranh trên đời. Ngay khi nhằm một mục tiêu cụ thể, người tin và người không tin cùng có một chọn lựa như nhau, họ cũng sẽ không gặp nhau ở điểm trọng yếu nhất đâu.
Chúa Ki-tô đến, tất phải có một sự phân loại (9,39), nghĩa là ai nấy phải tỏ lập trường của mình đối với Người. Chúa Giê-su xét xử con người, hay đúng hơn chúng ta tự xét xử chính mình, tuỳ theo ta đón nhận hay từ chối Người.
-------------------

Lời Chúa và chú thích T Hai 23/03/2020, sau CN IV Mùa Chay (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

"Ông cứ về đi, con ông sống."

Bài Đọc
*17 Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa.
18 Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan vì những gì chính Ta sáng tạo. Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-sa-lem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng.
19 Vì Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ hoan hỷ, vì dân Ta, Ta sẽ nhảy mừng. Nơi đây, sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la.
20 Nơi đây, sẽ không còn trẻ sơ sinh chết yểu và người già tuổi thọ không tròn; vì trăm tuổi mà chết là chết trẻ, và chưa tròn trăm tuổi mà chết là bị nguyền rủa.
21 Người ta sẽ xây nhà và được ở, sẽ trồng nho và được ăn trái. (Is 65,17-21)

Chú thích:
* 65,17 Không ai có thể tưởng tượng được trời mới Thiên Chúa chuẩn bị cho chúng ta (Mc 12,18-25). Chúng ta hãy vui mừng vì ngôn sứ mô tả trời mới một cách cụ thể như vậy. Đối với chúng ta, hạnh phúc ở bên kia thế giới thuộc lãnh vực đức tin ; tuy nhiên, vào thời đó, điều này chưa rõ ràng đối với người Do-thái cũng như đối với ngôn sứ. Thiên Chúa thưởng ở đời này, còn số phận của tất cả những ai đã chết hay sắp chết trước thời hạnh phúc ấy, người ta thà không nghĩ đến thì hơn : Thiên Chúa đã làm đủ mọi cách để dân Người không sao nhãng các bổn phận trần thế của mình, lấy cớ là chờ đợi thế giới bên kia.
Tin Mừng:
43 Sau hai ngày, Đức Giê-su bỏ nơi đó đi Ga-li-lê.44 Chính Người đã quả quyết: ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình.45Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

*46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um.47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết.48 Đức Giê-su nói với ông: "Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu! "49 Viên sĩ quan nói: "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất! "50 Đức Giê-su bảo: "Ông cứ về đi, con ông sống." Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về.51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi.52Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp: "Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt."53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình: "Con ông sống", nên ông và cả nhà đều tin.54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê. (Ga 4,43-54)
Chú thích:
* 4,46 X. Lc 7,1.
Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu ! Người mà Chúa Giê-su quở trách không phải là viên sĩ quan –ông sắp chứng tỏ một lòng tin rất lớn–, nhưng là người Do-thái và chính chúng ta. Chúa Giê-su làm các phép lạ là để xác minh sứ mạng của Người ; nhưng Người cũng bảo rằng chỉ cần tai nghe mắt thấy việc làm và lời nói của Người thôi thì đã đủ cho chúng ta nhận ra Người rồi. Những kẻ yêu nhau có cần phép lạ để tin tưởng nhau không ? Những người hăng hái đi theo một người lãnh đạo có đòi hỏi những chứng cứ rành rành không phản bác được không ? Nếu chúng ta đứng về phía sự thật thì phải nhận ra sự thật khi nó xuất hiện.
Phép lạ thứ hai Chúa Giê-su làm ở Ca-na kết thúc phần hai này của Tin Mừng, trong đó Chúa Giê-su xác định vai trò của Người có liên quan với xã hội Do-thái và các kỳ vọng của họ.
Một phân đoạn mới bắt đầu : Chúa Giê-su công bố công trình mà Người đến thế gian để thực hiện : Chúa Cha đã gửi Người đến để xét xử và ban sự sống. Nhưng trước hết chúng ta phải tin vào Đấng Thiên Sai này của Thiên Chúa. Chính đây là đề tài các ch. 5 – 6.
___________

Lời Chúa và chú thích T Ba 24/03/2020, sau CN IV Mùa Chay
(Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

"Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi! "

Bài Đọc:
*1 Người ấy dẫn tôi trở lại phía cửa Đền Thờ, và này: có nước vọt ra từ dưới ngưỡng cửa Đền Thờ và chảy về phía đông, vì mặt tiền Đền Thờ quay về phía đông. Nước từ phía dưới bên phải Đền Thờ chảy xuống phía nam bàn thờ.2 Người ấy đưa tôi ra theo lối cổng bắc và dẫn tôi đi vòng quanh theo lối bên ngoài, đến cổng ngoài quay mặt về phía đông, và này: nước từ phía bên phải chảy ra.3Người ấy đi ra phía đông, tay cầm dây đo, đo năm trăm thước rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến mắt cá chân.4 Người ấy đo năm trăm thước nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến đầu gối. Người ấy lại đo năm trăm thước nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến ngang lưng.5 Người ấy còn đo năm trăm thước nữa: đó là một con sông, tôi không thể đi qua được vì nước đã dâng cao, khiến không thể đi qua mà chỉ bơi mới được thôi.6 Người ấy bảo tôi: "Ngươi có thấy không, hỡi con người? " Rồi người ấy dẫn tôi trở lại bờ sông.7 Khi tôi trở lại, thì này: có rất nhiều cây cối ở hai bên bờ sông.8 Người ấy bảo tôi: "Nước này chảy về miền đất phía đông, xuống vùng A-ra-ba, rồi đổ ra biển Chết và làm cho nước biển hoá lành.9 Sông chảy đến đâu thì mọi sinh vật lúc nhúc ở đó sẽ được sống. Sẽ có rất nhiều cá, vì nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống
12 Trên hai bờ sông sẽ mọc lên mọi giống cây ăn trái, lá không bao giờ tàn, trái không bao giờ hết: mỗi tháng các cây đó sẽ sinh trái mới nhờ có nước chảy ra từ thánh điện. Trái dùng làm lương thực còn lá để làm thuốc." (Ed 47,1-9.12)

Chú thích:
* 47,1 Lưu ý đến thị kiến nguồn suối ở đây : nó làm cho xứ sở được phì nhiêu, và tuôn ra từ nơi Thiên Chúa ngự. Thiên Chúa vô hình tỏ mình ra qua sự sống mà Người thông ban cho dân Người. Thánh Thần, mà dòng nước hằng sống là tượng trưng (x. Ga 7,38), làm cho trổ sinh trên thế giới tất cả những gì cương quyết sống.
Dòng sông đổ ra Biển Chết mà nước trước đó thì mặn đến độ không loài cá nào sống nổi trong đó, cũng chẳng thảo mộc nào có thể mọc được bên bờ của nó. Đây là một hình ảnh cho biết Thiên Chúa chữa lành một thế giới đã bị tội lỗi làm cho cằn cỗi : Trái dùng làm lương thực còn lá để làm thuốc (c.12).
Tin Mừng:
*1 Sau đó, nhân dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem.2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang.3 Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt ở đó. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm.6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói: "Anh có muốn khỏi bệnh không? "7 Bệnh nhân đáp: "Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi! "8 Đức Giê-su bảo: "Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi! "9 Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được.
Hôm đó lại là ngày sa-bát.
10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh: "Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng! "11 Nhưng anh đáp: "Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi: "Anh hãy vác chõng mà đi! "12 Họ hỏi anh: "Ai là người đã bảo anh: "Vác chõng mà đi"? "13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy.14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói: "Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước! "15 Anh ta đi nói với người Do-thái: Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh.16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát. (Ga 5,1-3a.5-16)

Chú thích:
* 5,1 Tại sao Chúa Giê-su đi đến hồ Bết-da-tha ? Hiện nay người ta biết hồ tắm này được người ngoại đạo dâng cúng cho thần sức khoẻ là Asclepios. Dân chúng đồn rằng tại đây thỉnh thoảng có những bệnh nhân được chữa lành. Những người Do-thái sùng đạo công phẫn thấy những vụ chữa lành xảy ra tại một nơi ngoại giáo, nên nói rằng người ta được chữa lành không phải nhờ thần Asclepios mà là nhờ một thiên sứ của Chúa. C.4 giải thích như thế, nhưng lại thiếu trong nhiều bản. Một số tín hữu không mấy bối rối lương tâm thì đến nơi thờ thần ngoại ấy để tìm cách phục hồi sức khoẻ. Chúa Giê-su cũng đến đó, để tìm người có tội mà Người muốn cứu chữa.
Lưu ý câu trả lời đầu tiên của người bệnh. Ở tụ điểm phép lạ này, nhiều người hy vọng được chữa lành, nhưng rất ít người được lành. Không có người. Chúng ta phải hiểu đây có nghĩa là một mình con người không thể tự cứu lấy mình. Con người cần có Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su biến mất ngay sau phép lạ. Là vì nếu không, một số người có thể rêu rao là thấy Người thoải mái trong một đền thờ ngoại giáo, hay Người đã nhân danh các thần ngoại mà chữa bệnh. Chúa Giê-su sẽ tỏ mình ra trong Đền Thờ của vị Thần đích thực là Cha của Người.
Người Do-thái công kích Chúa Giê-su vì Người làm phép lạ vào ngày sa-bát. Hãy xét kỹ hơn câu trả lời của Chúa : Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc. Thời ấy, đây là một đề tài tranh cãi giữa các luật sĩ : Thiên Chúa có ra tay làm việc trong vũ trụ không ? Người có nghỉ ngơi khi đã làm xong công trình sáng tạo không ? Chúa Giê-su nói lên ý kiến của mình : Loài người dành một ngày nghỉ ngơi để tôn vinh Thiên Chúa là tốt ; nhưng chính Thiên Chúa thì không hề nghỉ ngơi : thế gian không vắng Chúa bao giờ. Chúa Giê-su vốn là Thiên Chúa Ngôi Con, nên bắt chước Chúa Cha thay vì nghỉ ngơi như kẻ phàm nhân.
Đối thủ của Người nghe vậy thì đã không hiểu lầm các đòi hỏi của Người đâu : họ muốn giết Người bởi vì Người coi mình ngang hàng với Thiên Chúa (c.18).
Đừng phạm tội nữa... (c.14). Chúa Giê-su nhắc nhở người bệnh là vì yếu lòng tin mà anh đã tìm đến ngôi đền ngoại giáo để được chữa lành, mất trắng 38 năm chờ đợi, cũng như thời xưa dân Do-thái đã từng luẩn quẩn 38 năm trời ở ốc đảo Ca-đê trong sa mạc trước khi vào được miền Đất Hứa. Tác giả Gio-an ghi lại sự trùng hợp này. Ông cũng hiểu rằng phép chữa lành ở hồ là hình ảnh bí tích Thánh Tẩy. Lời Chúa Giê-su nói với người được chữa lành là nói với tất cả những ai đã hoán cải và được thanh tẩy : Đừng phạm tội nữa.
Sau trình thuật này, lại có một đoạn trình bày mới về niềm tin Ki-tô giáo (x. phần bình giải Ga 3,11). Diễn từ này chiếm phần cuối của ch. 5 : 5,19-47, và kết thúc ở đoạn 7,19-24 – nhưng chúng ta không hiểu tại sao đoạn này lại bị dời vị trí như vậy.
Cần nêu lên rằng trong tất cả các “diễn từ” này, tác giả thích lặp đi lặp lại 7 lần các từ quan trọng của diễn từ. Thí dụ như ở đây, ta thấy sa-bát, Giê-su và Mô-sê, mỗi từ lặp lại bảy lần, và từ Cha thì mười bốn lần : tác giả muốn cho đối lập đạo Do-thái được Mô-sê thiết lập – mà một trong các điều luật chủ yếu là nghỉ ngơi ngày sa-bát– với đạo của thời đại mới được Chúa Giê-su khai sinh khi mặc khải cho chúng ta nhận biết Chúa Cha.
----------------

Lời Chúa, chú thích và lời nguyện T Tư 25/03/2020, lễ Truyền Tin (Bản văn và chú thích từ CGKPV, ấn bản LCCMN)
--"Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà."--
--Tôi cầu nguyện: (TTL)
Lạy Mẹ đáng mến của con, giờ này hiệp với tiếng “Xin Vâng” của Mẹ xin Mẹ giúp con biết từ bỏ ý riêng để vâng theo Thiên ý, Thiên ý mà Thánh Linh luôn mặc khải:
Thiên ý được thể hiện trong Kinh Thánh, trong Phụng vụ hàng ngày của Hội Thánh.
Thiên ý được thể hiện khi con thinh lặng nhìn vào lương tâm con và thinh lặng nhìn lên Thánh Thể.
Thiên ý thể hiện nơi giáo quyền, nơi cấp trên, nơi người thân cận.
Thiên ý thể hiện nơi những người con gặp gỡ và Thiên ý nơi những biến cố con gặp.
Xin Mẹ thương nhận lời con khấn nguyện và cầu bầu cùng Chúa cho toàn nhân loại chúng con được đầy tràn ơn phúc trong Mùa Chay thánh này. Con hết lòng tạ ơn Mẹ, Amen.

--Bài Đọc I:
*10 Một lần nữa ĐỨC CHÚA phán với vua A-khát rằng:
11 "Ngươi cứ xin ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của ngươi
ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh."

12 Vua A-khát trả lời: "Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách ĐỨC CHÚA."
13 Ông I-sai-a bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít!
Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao,
mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa?

14 Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu:Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.
10 Hãy bày mưu lập kế, mưu kế đó sẽ bị phá vỡ,
hãy ra lệnh, lệnh đó sẽ không được thi hành,
vì Thiên Chúa ở cùng chúng tôi." (Is 7,10-14)

--Chú thích:
*
7,10 Sấm ngôn về người thiếu nữ sinh hạ một đứa con là một trong các sấm ngôn quan trọng nhất của Kinh Thánh, mặc dầu nó đặt ra nhiều vấn đề nan giải.
Để chứng thực các lời cảnh cáo ông đã đưa ra (7,4-9), ông I-sai-a hiến cho nhà vua một dấu lạ : Cứ xin Đức Chúa... (c.11). Vua A-khát từ chối với những lời lẽ đạo đức giả, để che giấu ý muốn của vua là không lùi bước (c.12). Bấy giờ, ngôn sứ nổi cơn giận dữ : dòng dõi vua Đa-vít này đây đã từng được Thiên Chúa luôn bảo vệ, thật là vô dụng : sẽ có một dòng dõi của Đa-vít thuộc một loại khác, duy mình người này có thể cứu độ dân Thiên Chúa. Đức Chúa chuẩn bị cử người này đến. Bà mẹ sẽ đặt cho người này một danh hiệu xứng đáng (c.14). Nhưng trước khi đem lại hoà bình, vị vua tương lai này sẽ lớn lên trong cảnh thiếu thốn (c.15). Quả thật, đường lối chính trị sai lầm của vua A-khát sẽ dẫn đưa xứ sở đến chỗ huỷ diệt hoàn toàn.
Chúng ta phải làm sáng tỏ một vài điểm :
1/ Em-ma-nu-en có nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Con trẻ này đến không chỉ mang cho chúng ta những phúc lành của Thiên Chúa, hay một cuộc giải phóng thần kỳ nào đó, nhưng qua con trẻ này, Thiên Chúa hiện diện giữa loài người, và các lời hứa nhiều lần được nghe tuyên phán, được thực hiện : Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân Ta (Hs 2,25 ; Ed 37,27 ; Mt 28,20 ; Kh 20,3).
2/ Tại sao sách Tin Mừng dịch là trinh nữ (Mt 1,23) mà sách I-sai-a nói là “thiếu nữ” ? Trong các bản văn Kinh Thánh, từ Híp-ri được ông I-sai-a sử dụng chỉ khi thì một thiếu nữ, khi thì một thiếu phụ, chung quy chỉ một người nữ trẻ tuổi. Người ta cũng chỉ dùng từ ấy để chỉ một nữ hoàng trẻ tuổi.
Nhưng chúng ta cũng phải nhớ rằng các ngôn sứ thích nói “trinh nữ Ít-ra-en” để chỉ thành thánh và dân được Thiên Chúa yêu mến (Is 37,22). Vậy đối với độc giả các thế kỷ sau, câu : người thiếu nữ sẽ sinh hạ một con trai cũng được hiểu : “cộng đoàn các tín hữu sẽ sản sinh ra Đấng Mê-si-a”.
3/ Vì Thiên Chúa ban một dấu chỉ cho toàn dân, dấu này phải được thể hiện trong thời của họ : nếu không, đâu là dấu chỉ ?
Có thể thiếu phụ đây là vợ của vua A-khát, và sự sinh nở của bà bấy giờ là một điềm lành để hy vọng. Nhưng thái tử Khít-ki-gia-hu, người sẽ nối ngôi phụ vương A-khát và được Kinh Thánh coi như một ông vua tốt lành, đã sinh ra rồi. Và nhất là làm sao hiểu ông I-sai-a có thể nói về ông bằng những lời lẽ như thế (cũng x. 9,1-6) ?
Vậy cũng có thể nghĩ rằng thiếu phụ này là người được loan báo cách bí nhiệm trong Mk 5,2 như là mẹ của Đấng Mê-si-a : “một phụ nữ sinh con”, và có lẽ người mẹ này là cộng đoàn dân thánh. Sự thật là sấm ngôn này được hiểu là lời loan báo Đấng Mê-si-a và được lưu giữ cho các thời đại mai sau. Nhưng nếu như thế thì làm sao có thể hiểu lời ông I-sai-a nói đây như là lời loan báo một cuộc giáng sinh rất gần kề, và như một điềm báo cho những ai nghe lời ông ?
Không có câu trả lời cho các vấn nạn này. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được ông I-sai-a đã nói chính xác điều gì, vì sấm ngôn của ông đến với chúng ta qua những gì mà đức tin của dân Chúa đã bảo tồn, và khi đem bản văn này so sánh với bản văn Mk 5,2, chúng ta có được hai hướng nhìn.
Nét đặc trưng của các ngôn sứ là gom lại trong cùng một viễn cảnh những biến cố có lẽ rất cách xa trong thời gian, nhưng lại chỉ cho ta cắm mốc theo một hướng đi trong lịch sử. Ông I-sai-a đưa ra một dấu chỉ cho vua A-khát, cho những vị nối ngôi ông (7,13), và cho tất cả chúng ta đang sống trong một thế giới tan hoang vì tội lỗi loài người : dấu chỉ này chính là trẻ thơ sinh ra làm Đấng Cứu Độ (cũng x. 9,1-6).
Như trong địa đàng đã mất, chúng ta có hình ảnh một phụ nữ, hay người con trai của phụ nữ đạp giập đầu con rắn, thì ở đây chúng ta cũng có một hình ảnh khác, hình ảnh người trinh nữ với con trai của bà là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Đấng Em-ma-nu-en chịu đau khổ vì tội lỗi anh em mình, và chính vì thế Người có thể làm cho họ được hoà giải với Thiên Chúa.
4/ Thời xưa, nhiều người Do-thái nghĩ rằng nguồn gốc của Đấng Mê-si-a là phi thường, và trước Đức Giê-su, bản dịch Kinh Thánh Hy-lạp đã thay thế từ nguyên thuỷ “thiếu nữ” bằng từ chính xác hơn : “trinh nữ”. Vậy các tác giả sách Tin Mừng dễ dàng nhìn nhận sấm ngôn này đã được ứng nghiệm trong sự kiện Đức Giê-su sinh làm con một người mẹ đồng trinh.

--Bài Đọc II:
4Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi. 5Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói : Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. 6Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. 7Bấy giờ con mới thưa : Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.
8Trước hết, Đức Ki-tô nói : Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. 9Rồi Người nói : Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. 10Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ. (Dt 10,4-10)

--Tin Mừng:
*26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà."29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30 Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."
34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! "
35 Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."
38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi. (Lc 1,26-38)
--Chú thích:
* 1,26 Trình thuật truyền tin sắp cho chúng ta thấy : so với thánh Gio-an, Chúa Giê-su vượt xa ngàn trùng về phương diện con người cũng như sứ mạng.
Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a (c.27). Thánh Lu-ca dùng từ trinh nữ hai lần. Tại sao người không nói : một thiếu nữ hay một thiếu phụ ? Thưa chỉ vì muốn cho nghe vang dội lời các ngôn sứ đã từng khẳng định Thiên Chúa sẽ được trinh nữ Ít-ra-en đón nhận. Trong bao nhiêu thế kỷ, Thiên Chúa đã chịu đựng những tội bất tín bất trung của dân Người và đã tha thứ hết cho họ. Nhưng khi xuống thế làm Đấng Cứu Độ ở giữa chúng ta thì Người lại muốn được dân Người đón nhận với một tấm lòng trung trinh, hoàn toàn thuộc về Người. Thời Chúa Giê-su, khi đọc lời ngôn sứ I-sai-a 7,14, đã có nhiều người nghĩ rằng Đấng Mê-si-a sẽ sinh làm con một người mẹ đồng trinh. Và sách Tin Mừng nói cho ta biết : Đức Ma-ri-a chính là người trinh nữ sinh hạ Đấng Mê-si-a.
Người nữ đã được Thiên Chúa chọn ngay từ đầu, để đón nhận Con của Người với một đức tin hoàn hảo, tất phải là một trinh nữ. Người mẹ sắp truyền tặng cho con người Giê-su dòng máu trong huyết quản, những nét di truyền, tính tình, giáo dục thuở còn thơ, tất đã phải núp bóng Đấng Tối Cao mà lớn lên, tựa một đoá hoa ẩn kín chưa hề bị chiếm hữu, biến cả đời mình thành tặng phẩm hoàn toàn hiến dâng lên Thiên Chúa Hằng Sống.
Việc ấy sẽ xảy ra cách nào ? (c.34). Sứ thần nói rõ rằng thánh Giu-se sẽ không can dự một chút gì trong việc bà sinh con : Đấng sinh làm con Đức Ma-ri-a cũng là Đấng vẫn hằng ở trong Thiên Chúa, được Thiên Chúa sinh ra, là Con của Thiên Chúa Cha (x. Ga 1,1).
Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà (c.35). Sách Thánh vẫn nói đến đám mây toả đầy Đền Thờ (1 V 8,10), dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa bao phủ và chở che thành thánh Giê-ru-sa-lem (Hc 24,4). Khi sử dụng hình ảnh này, sách Tin Mừng cho thấy Đức Ma-ri-a trở thành nơi Thiên Chúa ngự. Thánh Thần ngự đến không phải trên Chúa Con, nhưng trước hết trên Đức Ma-ri-a : bà sẽ thụ thai do quyền năng Chúa Thánh Thần, không cần đến sự can thiệp của nam nhân. Sự kiện Chúa Giê-su đầu thai nơi Đức Ma-ri-a là hiệu quả và biểu hiện, trên bình diện sinh học, của một động tác đức tin có một không hai trong lịch sử, nhờ đó Đức Ma-ri-a đã hoàn toàn đón nhận Ngôi Lời duy nhất và hằng hữu của Thiên Chúa Cha.
Như thế, Giao Ước giữa Thiên Chúa và nhân loại giờ đây mới được thể hiện. Giao Ước này sẽ không chỉ là “công trình” của Chúa Giê-su : chính bản thân Người đã là Giao Ước muôn đời. Trong một gia đình, một đứa trẻ sinh ra thuộc trọn về bên nội cũng như bên ngoại : đứa trẻ ấy là mối giao ước nối kết hai gia đình trước đó xa lạ với nhau. Như thế, khi sinh làm con của Chúa Cha và của Đức Ma-ri-a, Chúa Giê-su là hiện thân của Giao Ước giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại, và đức tin của Hội Thánh đâm rễ sâu vào đó : “Chúa Giê-su đích thực là Thiên Chúa và đích thực là người.”
“Đức Ma-ri-a trọn đời đồng trinh” là một lời khẳng định trong truyền thống Ki-tô giáo, mà truyền thống này chỉ tìm cách giúp chúng ta đi vào chiều sâu những dữ kiện đã được chép trong Kinh Thánh mà thôi. Làm sao có thể nghĩ rằng, sau khi đã được Thiên Chúa yêu mến, viếng thăm như thế để thể hiện Giao Ước chung cuộc giữa Người với nhân loại nơi bản thân mình, Đức Ma-ri-a lại có thể khép mình ấp ủ một tình yêu phàm trần và hiến thân cho một đối tượng khác, cho dầu đối tượng này là ông Giu-se, người tôi tớ hoàn hảo của Thiên Chúa đi nữa ? Đã đành là Tin Mừng có nói đến các “anh em của Chúa Giê-su” : chúng tôi làm sáng tỏ vấn đề này ở Mc 3,31.
Một câu hỏi khác : trước khi được sứ thần đến viếng, Đức Ma-ri-a có chủ ý giữ mình đồng trinh hay không ? Về chuyện đó, sách Tin Mừng không đưa ra một điều gì khác ngoài lời thưa của Đức Ma-ri-a : Tôi không biết đến việc vợ chồng. Nên nhớ : Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se đã thành hôn tuy chưa về chung sống với nhau, vậy theo luật Do-thái thì hai người được hưởng mọi quyền lợi của đời sống hôn nhân (Mt 1,18-20). Có thể lời đó chỉ là một kiểu hành văn dẫn tới câu trả lời của sứ thần về việc Đức Ma-ri-a thụ thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Nhưng mọi sự trở thành sáng tỏ hơn với giả thiết Đức Ma-ri-a đã tận hiến bản thân mình cho Thiên Chúa độc nhất. Một quyết định như thế rất xa lạ đối với não trạng người Do-thái, nhưng cũng chắc chắn rằng Tin Mừng rực sáng với những quyết định mới mẻ, làm cho cả những người tín hữu đương thời cũng phải ngạc nhiên.
TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MA-RI-A
Chỉ một mình Đức Ma-ri-a mới có thể cho Hội Thánh sơ khai biết về mầu nhiệm Người thụ thai làm mẹ Chúa Giê-su. Nhưng Người đã nói lên kinh nghiệm nội tâm ấy như thế nào, và làm sao thuật lại được chuyện ấy ? Vậy sách Tin Mừng sẽ dùng những từ ngữ và hình ảnh trong Kinh Thánh, quen thuộc đối với độc giả, để diễn đạt những điều như thế.
Sứ thần Gáp-ri-en (c.26). Gáp-ri-en là tên vị sứ thần bậc nhất đã xuất hiện trong sách Đa-ni-en để loan báo công trình cứu độ (Đn 8,16 ; 9,21). Vậy là Tin Mừng muốn cho chúng ta biết rằng, đối với Đức Ma-ri-a, tất cả đã bắt đầu bằng niềm xác tín rằng người đang ở tâm điểm thời gian và không gian, nơi số phận của thế giới được quyết định.
Mừng vui lên (c.28). Đây là lời mời các ngôn sứ đã từng ngỏ với “thiếu nữ Xi-on”, tức là cộng đoàn những người khiêm nhu đang trông đợi Vị Cứu Tinh đến (Xp 3,14 ; Dcr 9,9).
Đấng đầy ân sủng. Từ dùng trong Tin Mừng có nghĩa chính xác là được sủng ái. Có những người khác cũng đã được yêu mến, được tuyển chọn, sủng ái, nhưng ở đây tính từ này trở thành như tên riêng của Đức Ma-ri-a.
Nghe lời ấy, bà rất bối rối. Khác với trường hợp ông Da-ca-ri-a (1,12), bản văn không nói Đức Ma-ri-a sợ hãi khi được đi sâu vào mầu nhiệm của Thiên Chúa. Người vốn luôn sống trong ý thức có Thiên Chúa hiện diện và hướng dẫn mọi quyết định của mình, nhưng khi được biết ơn gọi có một không hai của mình, thì không khỏi bối rối.
Bà sẽ thụ thai (c.31). Ở đây, Tin Mừng mượn lại những bản văn Cựu Ước khác nhau : một số báo trước tương lai của một trẻ mới sinh, số khác cho thấy Thiên Chúa giao phó một sứ mạng. X. St 16,1 ; Xh 3,11 ; Tl 6,11. Trên đây chúng ta đã nhắc tới đoạn Is 7,14 loan báo về Đấng Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Đức Ma-ri-a sẽ đặt tên cho Người là Giê-su, nghĩa là Vị Cứu Tinh.
Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời. Nhà Gia-cóp là dân Ít-ra-en. Chúa Giê-su sẽ là Vị Cứu Tinh, thuộc dòng dõi vua Đa-vít, mà các ngôn sứ đã báo trước : 2 Sm 7,16 ; Is 9,6.
Người sẽ nên cao cả (c.32). Tin Mừng không viết cao cả trước mặt Chúa như viết về ông Gio-an Tẩy Giả (1,15) tuy ông chỉ là một người phàm. Con Đấng Tối Cao và Con vua Đa-vít : hai cụm từ này chỉ Đấng Mê-si-a (2 Sm 7,14 ; Tv 2,7). Vì thế nói rõ ông Giu-se thuộc dòng dõi vua Đa-vít là điều quan trọng (1,27) : x. bình giải Mt 1,20.
NỮ TỲ CỦA CHÚA
Tôi đây là nữ tỳ của Chúa (c.38). Đức Ma-ri-a không tự hạ một cách giả tạo, nhưng nói lên thái độ sãn sàng của mình. Người sẽ sinh ra Đấng vừa là người Tôi Trung được các ngôn sứ báo trước (Is 42,1 ; 49,5 ; 52,13), vừa là Người Con của Thiên Chúa (Hr 1).
Từ nữ tỳ có thể làm cho nhiều người lầm hiểu Thiên Chúa như một ông chủ lợi dụng bầy tôi nhằm đạt mục đích của mình chứ không thật sự yêu mến họ. Những người đó cho rằng nếu Thiên Chúa trao cho Đức Ma-ri-a một trách nhiệm thiết thực trong biến cố Nhập Thể của Con mình thì Người đâu còn là Thiên Chúa cao cả một cách tuyệt đối nữa.
Nhưng nghĩ như vậy là hoàn toàn trái ngược với tinh thần Kinh Thánh. Thiên Chúa đâu cần một nữ tỳ để cho Con của Người một thể xác phàm nhân, nhưng Người muốn tìm một người mẹ cho người Con ấy ; và để Đức Ma-ri-a thật sự trở thành người mẹ đó, thì Chúa Cha ắt đã phải đoái nhìn và yêu mến Người hơn bất cứ thụ tạo nào khác. Vì thế mà Người được gọi là Đấng đầy ân sủng.
Chúng ta gọi là ân sủng quyền năng thuộc về Thiên Chúa có sức chữa lành tâm trí chúng ta, trợ giúp đức tin của chúng ta và cho chúng ta biết tự động có những nghĩa cử yêu thương thật sự. Chúng ta gọi là ân sủng tất cả những gì bắt nguồn từ Thiên Chúa Hằng Sống nhưng còn phải nẩy mầm trên trái đất chúng ta : Is 45,8 ; Tv 85,12. Đức Ma-ri-a thật sự đầy ân sủng, vì Chúa Giê-su đã sinh làm con của Người cũng như Người vốn sinh làm Con Thiên Chúa Cha từ muôn thuở.
Đó là lý do vì sao Hội Thánh tin rằng Đức Ma-ri-a có một vị trí độc nhất trong kế hoạch Thiên Chúa cứu độ chúng ta. Người là công trình kỳ diệu vô song mà Thiên Chúa đã thực hiện khi bắt đầu tái tạo nhân loại theo hình ảnh của Người. Bên cạnh Chúa Ki-tô là A-đam mới (Rm 5,14 ; 1 Cr 15,45), Đức Ma-ri-a là người mẹ thật của loài người, đối lập với bà E-và tội lỗi.
NHỮNG KẺ KHIÊM NHƯỜNG
-------------------

Lời Chúa và chú thích T Sáu 27/03/2020, sau CN IV Mùa Chay (Bản văn từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận

Tôi suy nghĩ: (TTL)
Ông Mô-sê hay thánh tổ phụ Mô-sê là một ngôn sứ, một mục tử hết lòng thờ phượng Thiên Chúa và hết lòng phục vụ đoàn dân Israel của ông. Nhiều lần dân chúng càm ràm kêu trách Đức Chúa, cả khi sấp mình thờ lạy bò vàng, Mô-sê đều nài van xin Đức Chúa tha thứ. Nhiều lần dân kêu trách đổ lỗi cho ông, ông đều bỏ qua và kiên nhẫn giải thích chỉ bảo… Từ đó đến nay, có mấy mục từ thi hành phận vụ được như Mô-sê?
Chúa Giê-su vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Chúa cũng là mục tử như ông Mô-sê nhưng vượt hẳn Mô-sê. Chúa đã dùng cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh để cứu chuộc nhân loại. Chúa Giê-su cứu chuộc mọi người và cứu chuộc riêng tôi nên Chúa là Chúa của muôn người, nhưng Chúa cũng là Chúa của riêng tôi. Tôi hết lòng biết ơn Chúa, Amen

Bài Đọc:
7 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa lên từ đất Ai-cập.8 Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: "Hỡi Ít-ra-en, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai-cập."9 ĐỨC CHÚA lại phán với ông Mô-sê: "Ta đã thấy dân này rồi, đó là một dân cứng đầu cứng cổ.10 Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, và Ta sẽ tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn."
11 Ông Mô-sê cố làm cho nét mặt ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ông, dịu lại. Ông thưa: "Lạy ĐỨC CHÚA, tại sao Ngài lại bừng bừng nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đã giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra khỏi đất Ai-cập?12 Tại sao người Ai-cập lại có thể rêu rao: Chính vì ác tâm mà Người đã đưa chúng ra, để giết chúng trong miền núi và tiêu diệt chúng khỏi mặt đất? Xin Ngài nguôi cơn thịnh nộ và xin Ngài thương đừng hại dân Ngài.13 Xin Ngài nhớ đến các tôi tớ Ngài là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Ít-ra-en; Ngài đã lấy chính danh Ngài mà thề với các vị ấy rằng: Ta sẽ làm cho dòng dõi các ngươi đông đúc như sao trên trời, và sẽ ban cho dòng dõi các ngươi tất cả miền đất ấy, là miền đất Ta đã hứa; chúng sẽ được thừa hưởng miền đất ấy đến muôn đời."14 ĐỨC CHÚA đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe. (Xh 32,7-14)

Tin Mừng:
31 Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật.32 Có Đấng khác làm chứng về tôi, và tôi biết: lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật.33 Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật.34 Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ.35 Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian.36 Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.37 Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người.38 Các ông đã không để cho lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến.39 Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi.40 Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống.
41 Tôi không cần người đời tôn vinh.42 Nhưng tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa.43 Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận.44 Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?
45 Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các ông tin cậy.46 Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi.47 Nhưng nếu điều ông ấy viết mà các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói? "(Ga 5,31-47
)
---------------
Lời Chúa và suy nghĩ T Năm 26/03/2020, sau CN IV Mùa Chay (Bản văn từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

29Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi.”
Bài Đọc:
1Thật vậy, suy tính sai lầm, chúng bảo nhau :
“Đời ta thật buồn sầu, vắn vỏi :
 12Ta hãy gài bẫy hại tên công chính,
vì nó chỉ làm vướng chân ta,
nó chống lại các việc ta làm,
trách ta vi phạm lề luật,
và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo.
13Nó tự hào là mình biết Thiên Chúa,
xưng mình là con của Đức Chúa.
14Nó như kẻ luôn chê trách tâm tưởng của ta,
thấy mặt nó thôi là ta chịu không nổi.
15Vì nó sống thật chẳng giống ai,
lối cư xử của nó hoàn toàn lập dị.
16Nó coi ta như bọn lọc lừa,
tránh đường ta đi như tránh đồ dơ bẩn.
Nó tuyên bố rằng thật lắm phúc nhiều may,
hậu vận của người công chính.
Nó huênh hoang vì có Thiên Chúa là Cha.
17Ta hãy coi những lời nó nói có thật không,
và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào.
18Nếu tên công chính là con Thiên Chúa,
hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù.
19Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó,
để biết nó hiền hoà làm sao,
và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào.
20Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã,
vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm.”
21Chúng suy tính như vậy thật sai lầm,
vì ác độc mà chúng ra mù quáng.
22Chúng không biết những bí nhiệm của Thiên Chúa,
chẳng trông chờ người thánh thiện sẽ được thưởng công, cũng không tin kẻ tinh tuyền sẽ được ân thưởng. (Kn 2, 1a.12-22)
Tin Mừng:
*1Sau đó, Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê ; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.
2Lễ Lều của người Do-thái gần tới, 10Tuy nhiên, khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.
*25Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói : “Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao ? 26Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thật sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô ? 27Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi ; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả.” 28Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng : “Các ông biết tôi ư ? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư ? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. 29Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi.”
30Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến. (Ga 7, 1-2.10.25-30)
Chú thích:
* 7,1 Chúa Giê-su buộc người ta phải tự hỏi Người là ai. Tự hỏi như thế thì tốt hơn là không hỏi gì hết, như những nhóm người tưởng đã biết Người rồi, chẳng hạn trường hợp các anh em của Người.
Hãy tỏ mình ra cho thiên hạ (cc. 3 và 4). Các anh em của Chúa đây là những người trong gia đình và những đồng hương của Người ở Na-da-rét (x. Mc 3,31). Những người này có thể đã gia nhập Giáo Hội sau khi Chúa sống lại, và cho mình là nhân vật quan trọng chỉ vì họ có dây mơ rễ má với Chúa. Nhưng vào lúc này, khi Chúa đang giảng dạy, thì họ hãy còn lâu mới hiểu được Người. Họ muốn Chúa cố ý làm cho mình nổi danh vì các phép lạ mình làm, trong khi Chúa lại giảng về mầu nhiệm cái chết dẫn đến vinh quang.
Thời của tôi chưa mãn (c.8). Chúa Giê-su cho đối lập nhau hai loại người : những người sống theo kế hoạch riêng của họ và những người để cho Thần Khí hướng dẫn họ. Hạng người thứ nhất không thời không giờ bởi vì họ không biết đến tiếng gọi của Thiên Chúa ; họ hành động tuỳ hứng tuỳ nghi. Còn những người được Thần Khí hướng dẫn thì chờ đợi giờ của Thiên Chúa. Tất cả những gì họ thực hiện vào giờ của Thiên Chúa đều thành công, làm vinh danh Người.
Người Do-thái (cc. 13.15.35). Có những lý do nặng ký cho phép nghĩ rằng tác giả Gio-an đã viết sách Tin Mừng của ông cho các cộng đoàn Ki-tô hữu ở bên kia sông Gio-đan (10,40 ; 11,54), một miền tự thấy mình xa lạ đối với giới Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và miền Giu-đê. Có lẽ điều này lý giải sự kiện ông tự đồng hoá mình với các thính giả và viết người Do-thái như thể bản thân ông không thuộc nhóm người này vậy. Nhưng còn có lý do này là trong các cộng đoàn Ki-tô hữu của ông, ông Gio-an chạm trán với một trào lưu mạnh thế, sau này được gọi là nhóm “Ki-tô hữu gốc Do-thái”. Những người này thật sự tin Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, nhưng lại không muốn làm bất cứ điều gì có vẻ chống đối cộng đoàn Do-thái giáo. Họ nói về “Đức Giê-su, Con Thiên Chúa”, nhưng không nghĩ từ này có tất cả ý nghĩa đậm đặc của nó như trong đức tin Ki-tô giáo. Vì vậy khi tác giả nói về những người Do-thái đã tin Chúa Giê-su mà không hiểu Người (8,31), thì chúng ta đoán được rằng thật ra ông nghĩ đến những người Ki-tô hữu gốc Do-thái đó, những người ba mươi năm sau sẽ có ảnh hưởng lớn trên một số Giáo Hội miền Pa-lét-tin.
* 7,25 ƠN CỨU ĐỘ – ĐI TÌM CHÂN LÝ
Đức Giê-su là ai ? Biết Đức Giê-su là ai là điều cốt tử đối với chúng ta, vì điều mà Người ban tặng cho chúng ta là vô giá : đó là được thông phần sự sống của Thiên Chúa. Nhưng nếu Đức Giê-su không đến từ Thiên Chúa, thì lời hứa này có giá trị gì ?
Vậy chúng ta phải khám phá ra cho được Đức Giê-su là ai, vì nhờ đó mà chúng ta sẽ tìm thấy ơn cứu thoát.
Con người của Người lôi cuốn chúng ta, nhưng lời Người nói lại làm chúng ta khó chịu. Khi Người tuyên bố rằng thế giới đã được cứu rỗi, rằng chúng ta đã được sống lại và chúng ta là con cái Thiên Chúa, chúng ta cứ nghĩ đó là văn chương chữ nghĩa bởi vì thực tế có vẻ khác quá đi. Chúng ta cần có thì giờ, kinh nghiệm và đau khổ, để thay đổi quan điểm của mình, và bước lên một bậc cao hơn để từ đó chúng ta khám phá thế giới và con người đúng y như Người mô tả. Lên tới đó, chúng ta sẽ nhìn nhận Đức Giê-su là Vị Cứu Tinh, mà cũng được biết chúng ta được cứu thoát, bởi vì qua những giai đoạn tìm tòi ấy, chúng ta đã có khả năng nhìn thấy mọi sự như Thiên Chúa thấy.
Trong khi đối thoại với những người không có đức tin, chúng ta đừng bao giờ quên rằng chính họ là những người phải đạt tới chân lý mà họ còn thiếu, nhờ được Thần Khí soi dẫn. Chính họ là kẻ phải đào sâu trong lòng mình để bắt gặp mạch nước ngầm đang chảy.
Chúng ta biết ông xuất thân từ đâu (c.27). Những người Do-thái này tưởng mình biết Kinh Thánh, nhưng Kinh Thánh lại có trăm ngàn chỗ vượt quá trí khôn của chúng ta nếu chúng ta không biết lắng nghe. Trước mặt họ, Chúa Giê-su tự xưng mình là Đấng Thiên Sai. Người dùng tước hiệu này không phải để gây sự nể nang, nhưng là để làm nổi bật đặc tính của Người là lệ thuộc vào Chúa Cha đồng thời biết rõ Chúa Cha.

Các ông sẽ tìm tôi mà không gặp (c.34). Đây cũng là lời cảnh cáo Thiên Chúa đã từng đưa ra qua tiếng các ngôn sứ (Gr 13,16). Một lần nữa, Chúa Giê-su lại áp dụng cho mình những ngôn từ và đặc quyền mà Kinh Thánh chỉ dành cho Thiên Chúa.
________________
Lời Chúa T Bày 28/03/2020, sau CN IV Mùa Chay (Bản văn từ CGKPV, ấn bản LCCMN)

Bài Đọc:
18ĐỨC CHÚA đã báo cho tôi và tôi đã biết. Bấy giờ Người cho tôi thấy âm mưu của chúng. 19Phần con, con khác nào con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt, con đâu biết chúng đang mưu tính hại con. Chúng bảo nhau : “Cây đương sức, nào ta chặt nó đi, loại nó ra khỏi đất dành cho kẻ sống, để không còn ai nhớ đến tên tuổi nó nữa !”
20Nhưng, lạy ĐỨC CHÚA các đạo binh,
Ngài công minh khi xét xử,
Ngài thấu suốt tâm can từng gang tấc,
con thấy Ngài trị tội chúng thật là đích đáng,
vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài. (Gr 11,18-20)
Tin Mừng:
40Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói : “Ông này thật là vị ngôn sứ.” 41Kẻ khác rằng : “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói : “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ? 42Nào Kinh Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao ?” 43Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. 44Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.
45Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng : “Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây ?” 46Các vệ binh trả lời : “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy !” 47Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng : “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? 48Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? 49Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !” 50Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ : 51“Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?” 52Họ đáp : “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.”

53Sau đó, ai nấy trở về nhà mình. (Ga 7,40-53)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét