Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống CN 1/11/2020 (XXX TN) CÁC THÁNH NAM NỮ, lễ trọng (Bản văn, chú thích từ CGKP, chú thích ấn bản Lời Chúa CMN)
--Bài đọc 1 (Kh7,2-4.9-14)
Tôi thấy : Kìa một đoàn người thật
đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn
ngữ.
Bài trích sách Khải huyền của thánh
Gio-an tông đồ.
2 Tôi là Gio-an, tôi thấy một thiên thần mang ấn của Thiên
Chúa hằng sống, từ phía mặt trời mọc đi lên. Thiên thần ấy lớn tiếng gọi bốn
thiên thần khác, là những vị được quyền phá hại đất liền và biển cả. 3
Thiên thần ấy nói : “Xin đừng phá hại đất liền, biển cả và cây cối, trước khi
chúng tôi đóng ấn trên trán các tôi tớ của Thiên Chúa chúng ta”. 4
Rồi tôi nghe nói đến con số những người được đóng ấn : một trăm bốn mươi bốn
ngàn người thuộc mọi chi tộc con cái Ít-ra-en.
9 Sau đó, tôi thấy : một đoàn người thật đông không tài nào
đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước
ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. 10
Họ lớn tiếng tung hô : “Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính
Con Chiên đã cứu độ chúng ta.” 11 Tất cả các thiên thần đều đứng
chung quanh ngai, chung quanh các Kỳ Mục và bốn Con Vật. Họ đều sấp mặt xuống,
phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô 12 rằng :
“A-men ! Xin kính dâng Thiên Chúa
chúng ta
lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn,
danh dự, uy quyền và sức mạnh,
đến muôn thuở muôn đời ! A-men !”
13 Một trong các Kỳ Mục lên tiếng hỏi tôi : “Những người mặc
áo trắng kia là ai vậy ? Họ từ đâu đến ?” 14 Tôi trả lời : “Thưa
Ngài, Ngài biết đó.” Vị ấy bảo tôi : “Họ là những người đã đến, sau khi trải
qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con
Chiên.”
--Bài đọc 2 (1Ga 3,1-3)
Thiên Chúa thế nào, chúng ta sẽ thấy
Người như vậy.
Bài trích thư thứ nhất của thánh
Gio-an tông đồ.
*1Anh em thân mến,
anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào :
Người yêu đến nỗi
cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa
- mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.
Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta,
là vì thế gian đã không biết Người.
2Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa ;
nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ.
Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện,
chúng ta sẽ nên giống như Người,
vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
3Phàm ai đặt hy vọng như thế vào Đức Ki-tô
thì làm cho mình nên thanh sạch
như Người là Đấng thanh sạch.
--Tin Mừng (Mt 5,1-12a)
Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần
thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi
xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người lên tiếng dạy họ rằng :
3“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
4Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
5Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
11Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
12aAnh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”
--Chú thích 1Ga:
* 3,1 Ở đây bắt đầu phần thứ hai của bức thư : chúng ta là con cái Thiên Chúa và chúng ta phải sống với tư cách đó.
”Làm con cái Thiên Chúa” có thể được hiểu theo nhiều cách. Có thể hiểu theo nghĩa Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta và yêu thương chúng ta... Nhưng thánh Gio-an lưu ý chúng ta hai điểm :
– anh em là con cái, để trở nên giống như Thiên Chúa. Vậy đừng tìm kiếm gì khác ngoài mục tiêu trở nên hoàn thiện, bởi Thiên Chúa là Đấng hoàn thiện ;
– anh em là con cái, để trở về với Cha mình. Hỏi chúng ta có thật sự nghĩ đến cái cùng đích mà Thiên Chúa nhắm tới khi tuyển chọn chúng ta hay không ? Nhận thức được điều ấy, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa thanh luyện chúng ta bằng muôn ngàn phương cách, vì chỉ như thế chúng ta mới đạt được mục đích của mình.
Chúng ta sẽ nên giống nh” Người (c.2), được chia sẻ trọn vẹn bản tính của Thiên Chúa, và một cách nào đó trở nên Thiên Chúa với Thiên Chúa (x. 1 Cr 13,12). Những ai hiện đang chịu đựng một cuộc sống đau khổ với Chúa Ki-tô sẽ được hiển dung giống như Người (Mc 9 ; Cl 3,4). Bấy giờ, vũ trụ sẽ đạt tới đích của nó, với trung tâm điểm là con cái Thiên Chúa, nói đúng hơn, là Con Người Mới (Rm 8,19).
Phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra thì không phạm tội (c.9). Nói thế có vẻ là phóng đại, nhưng làm con cái Thiên Chúa không phải là một chuyện hữu danh vô thực : chúng ta đã thật sự bắt đầu sống trong sự thật và yêu thương. Chúng ta không còn có thể làm một chuyện mà thực chất là tội được nữa : nhất quyết từ chối yêu thương, từ chối tha thứ, hoặc là từ chối chiến đấu với sự dữ. Nhưng chúng ta cầu xin với Cha : “Xin đừng để chúng con sa chước...”
--Chú thích Mt:
* 5,1 Đức Giê-su lên núi. Khung cảnh nơi Mt đặt trình thuật Bài Giảng trên núi là một trong những ngọn đồi nằm dọc biển hồ Ti-bê-ri-a. Nhưng vẫn viết là “núi” để nhắc ta nhớ núi Xi-nai, nơi ông Mô-sê đã nhận Luật Chúa (Xh 19). Lý do là vì trong diễn từ đầu tiên này của Chúa Giê-su (x. Dẫn Nhập), Mt giới thiệu Chúa như vị Thầy sắp ban cho Ít-ra-en và toàn thể nhân loại điều Luật mới, có hiệu lực vĩnh viễn.
Công thức Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết sẽ trở lại đến sáu lần, để nhấn mạnh sự đối chọi giữa Luật Mô-sê và Luật mới.
Nhưng không nên hiểu sai nghĩa chữ Luật này. Luật trước hết không phải là các điều răn, mà là giáo huấn của Thiên Chúa. Trước hết chính những lời tuyên bố của Thiên Chúa đã xác lập Ít-ra-en thành dân riêng của Người, được trao cho một sứ mạng trong thế giới.
Phúc thay ! Đoạn đầu tiên này cho chúng ta thấy dân mới của Thiên Chúa được Người ban Luật. Trước kia, Luật đã được ban cho “con cháu Áp-ra-ham và Ít-ra-en” mà ông Mô-sê đã đưa ra khỏi Ai-cập. Nhiều đoạn Kinh Thánh viết : “Ít-ra-en, ngươi thật có phúc”, nghĩa là ngươi thật may mắn được chọn, và thật là một ân huệ lớn lao được làm dân Thiên Chúa ; ngươi thật có phúc vì được Thiên Chúa trao gửi lời Người (Đnl 33,29 ; Tv 144,15 ; Br 4,4).
Rồi đột nhiên Tin Mừng nói về một dân khác của Thiên Chúa. Không còn là đoàn dân gồm 12 chi tộc, với miền đất, ngôn ngữ riêng của nó, với những ranh giới và những tham vọng quốc gia nữa, nhưng là một dân gồm những người mà Thiên Chúa đi tìm từ giữa mọi dân mọi nước. Và họ là ai, những người mà Thiên Chúa tuyển chọn và phải tự hào được diễm phúc hưởng ơn gọi ấy ? Thưa đó là những kẻ nghèo khó, những ai buồn khổ khóc than, những người đã bao lần toan nguyền rủa số phận, những tội lỗi và những mâu thuẫn của chính mình.
Ở đây, Mt trình bày tám mối Phúc, trong khi Lc 6,20-26 chỉ cho ba mối (người nghèo, người đói và kẻ khóc than). Nhưng điều này không quan trọng, bởi vì thật ra, tất cả đều cùng triển khai một chủ đề duy nhất. Điểm khác biệt chính yếu giữa Mt và Lc nằm ở chỗ các mối phúc được trình bày cho hai nhóm người khác nhau.
Chúa Giê-su tuyên bố các mối phúc làm sao, Lc ghi lại y như vậy. Chúa đang nói với đám người bình dân, và Người nói năng như một người cùng giai cấp với họ. Chúa tuyên bố thẳng thừng, không nói bóng bẩy, y như các ngôn sứ : Anh em là kẻ nghèo, anh em là những người đầu tiên được hưởng các lời hứa của Thiên Chúa.
Mt thì ngược lại, nhắm tới thành phần Ki-tô hữu. Giáo Hội đã lan ra rộng rãi, và các cộng đoàn thuộc những tầng lớp xã hội rất khác nhau : người nô lệ, dân chất phác và người giàu có. Vậy khi tác giả Mt đặt lên miệng Chúa Giê-su những lời khen chúc này thì đó là một cách ông chiêm ngắm những việc Chúa đã thực hiện nơi họ : Phúc thay những ai đã lãnh nhận thần khí của Thầy, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Rồi ông thêm vào danh sách ấy những người xây dựng hoà bình và những ai có tâm hồn trong sạch.
Vậy là Lc cho biết phải rao giảng Tin Mừng cho ai trước tiên : cho những hạng người bị xã hội rẻ rúng và có nhiều khó khăn hơn. Tác giả Mt thì khác : ông nhắc nhở chúng ta về ơn gọi của mình, đồng thời chỉ cho thấy phải làm thế nào để được xứng với Thiên Chúa, Đấng đã chọn chúng ta.
Những người được xem là có phúc không phải do đau khổ mà có phúc : hiểu như vậy thì rất khó nghe. Họ có phúc là vì Nước Trời được mở ra tiếp đón họ.
Nước Trời là của họ (c.3), và ngay sau đó họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Đất và Trời ở đây có mâu thuẫn nhau không ?
Trước hết, phải hiểu chữ Trời theo nghĩa nó được dùng vào thời Chúa Giêsu. Người Do-thái hết sức tôn sùng danh xưng Thiên Chúa, nên rất sợ phạm huý. Vì vậy họ dùng những từ khác thay cho danh xưng ấy, như là Trời, Vinh Quang, Quyền Lực. Nước Trời hiểu sát nghĩa là Nước Thiên Chúa, giống như Cha trên trời có nghĩa là Thiên Chúa Cha vậy. Trên môi miệng Chúa Giê-su, Nước Trời thường không chỉ về phần thưởng dành cho chúng ta sau khi chết (khi đó sẽ là Nước của Cha), nhưng chỉ về Triều Đại Thiên Chúa đến với chúng ta trên trần gian này cùng một lúc với Chúa Giê-su.
Cũng vậy, phải hiểu chữ Đất theo đúng nghĩa của nó. Trong Kinh Thánh, chữ này chỉ đất Pa-lét-tin, vì chính đó là nơi mà Thiên Chúa đến cứu dân Người. Tin Mừng cũng không cho đối lập cái vật chất và cái thiêng liêng – thật ra trong toàn bộ Tin Mừng, không thấy có từ “thiêng liêng” ở đâu cả. Khi Thiên Chúa dùng miệng các ngôn sứ mà phán dạy, thì Người hứa ban cho dân Người một thế giới trong đó mọi nhu cầu sẽ được thoả mãn : nào là những bữa tiệc ngon (Is 25,6), cuộc đời trường thọ, nào là nước dư thừa để tưới đất đai, ơn giải thoát khỏi mọi áp bức, một vương quốc công bằng. Nhưng hơn tất cả những thứ ấy là Thiên Chúa sẽ đến ở với loài người và thông ban cho họ Thần Khí của Người : Chúng sẽ là dân của Ta, và Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng (Ed 37,23).
Trong các mối phúc cũng vậy, Nước Thiên Chúa vừa là đất Pa-lét-tin đã được hứa ban cho con cháu Áp-ra-ham, vừa là miền đất của bình an vì có Thiên Chúa hiện diện. Những ai khát khao nên người công chính sẽ nhận được của ăn thể xác lẫn sự thánh thiện của Thiên Chúa, bởi trong Kinh Thánh, công chính cũng có nghĩa là sống đẹp lòng Thiên Chúa.
Và Chúa Giê-su nói chúng ta sẽ được thoả lòng theo nghĩa như thế đó. Niềm an ủi của chúng ta trên đời là được biết và nghiệm thấy rằng Thiên Chúa yêu thương chăm sóc chúng ta, và dù thế nào đi chăng nữa, Người cũng đảo ngược tình thế cho người bị áp bức. Cũng có nghĩa là chúng ta biết rằng, ngay cả khi Người có vẻ chẳng nghe thấu lời cầu nguyện của chúng ta, gánh nặng khổ đau của chúng ta vẫn có một ý nghĩa và một mục đích. Cuối cùng, chẳng đáng mừng lắm sao khi được biết rằng, trong đời sau, Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta nhiều hơn là những gì chúng ta có thể mong ước hoặc xứng đáng lãnh nhận !
Cho đến thời Chúa Giê-su giáng thế, loài người sống trong nỗi niềm chờ mong. Chúa Giê-su nói cho chúng ta biết một kỷ nguyên mới đã bắt đầu : Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, và đối với những ai có tâm hồn trong sạch, Triều Đại Người đã đến, nghĩa là những dục vọng của họ đã được thanh luyện, và họ sẽ được nhìn thấy Người.
Phúc thay... bị bách hại. Như Lc, Mt triển khai mối phúc cuối cùng này, vì dù là ở đâu, chúng ta cũng không thể sống Tin Mừng mà không phải chịu bách hại.
-- Trích sách Lẽ Sống (thanhlinh)
-Giòng Giống Vĩ Nhân-
Cách đây mười năm, một người Pháp tên là Alfred de Pierrecourt để lại gia tài của ông là 2 triệu Mỹ kim với lời di chúc là phải sử dụng số tiền ấy để gây giống cho những người khổng lồ. Người thi hành di chúc của ông đã trích ra 1/4 số tiền để tìm và mang những người cao lớn vượt tầm mức về sống ở gần thành phố Rouen, khuyến khích họ lập gia đình với nhau. Nhưng chương trình gây giống những người khổng lồ này bị thất bại vài năm sau đó.
Cách đây non hai ngàn năm có một người cũng để lại một di chúc, một chương trình, nhưng không phải để gây giống cho những người khổng lồ về phương diện hình vóc mà là về phương diện tinh thần. Chương trình quen được gọi là "8 mối phúc thật" do Chúa Giêsu biên thảo. Trải qua bao thế hệ mãi cho đến thời đại chúng ta, vô số những tín hữu Kitô nhờ áp dụng chương trình này mà trở thành vĩ nhân.
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Hai 2/11/2020, cầu cho các tín hữu đã qua đời, lễ nhớ (Bản văn, chú thích từ CGKP, chú thích ấn bản Lời Chúa CMN)
--Bài đọc 1 (G 19,1.23-27a)
Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn
sống.
Bài trích sách Gióp.
1 Bấy giờ, ông Gióp lên tiếng nói :
23“Ôi, những lời tôi nói đây, phải chi có người chép lại,
phải chi có người ghi vào sách,
24có người đục bằng sắt, trám bằng chì,
tạc vào đá cho đến muôn đời !
25Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống,
và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất.
26Sau khi da tôi đây bị tiêu huỷ,
thì với tấm thân này, tôi sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa.
27aChính tôi sẽ được ngắm nhìn Người,
Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ.”
--Bài đọc 2 (Rm 5,5-11)
Chúng ta đã được nên công chính nhờ
Máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông
đồ gửi tín hữu Rô-ma.
5 Thưa anh em, trông cậy không làm chúng ta phải thất vọng,
vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà
Người ban cho chúng ta. 6 Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm
được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì
chúng ta. 7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai
dám chết vì một người lương thiện chăng. 8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết
vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng
Thiên Chúa yêu thương chúng ta. 9 Phương chi bây giờ chúng ta đã
được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu
khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. 10 Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta
còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà
cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà
giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy. 11
Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức
Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa.
--Tin Mừng (Ga 6,37-40)
Ai tin vào người Con, thì được sống
muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
37 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Tất cả những
người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không
loại ra ngoài, 38 vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý
tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. 39 Mà ý của Đấng đã sai
tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng
sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. 40 Thật vậy, ý của Cha tôi là
tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và
tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”
****
Lễ II
--Bài đọc 1 (Is 25,6a.7-9)
Đức Chúa sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử
thần.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
6aNgày ấy, trên núi này,
Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc :
7Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân,
và tấm màn trùm lên muôn nước.
8Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần.
Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ
trên khuôn mặt mọi người,
và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch
nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy.
9Ngày ấy, người ta sẽ nói : “Đây là Thiên Chúa chúng ta,
chúng ta từng trông đợi Người,
và đã được Người thương cứu độ.
Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông.
Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ.”
--Bài đọc 2 (Rm 8,14-23)
Chúng ta trông đợi Thiên Chúa cứu
chuộc thân xác chúng ta nữa.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông
đồ gửi tín hữu Rô-ma.
14 Thưa anh em, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn,
đều là con cái Thiên Chúa. 15 Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận
Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí
làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : “Áp-ba ! Cha ơi !” 16
Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên
Chúa. 17 Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho
thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô ; vì một khi cùng chịu đau khổ
với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người.
18 Thật vậy, tôi nghĩ rằng : những đau khổ chúng ta chịu bây
giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. 19
Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang
của con cái Người. 20 Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo,
không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn
còn niềm trông cậy 21 là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải
lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do
và vinh quang. 22 Thật vậy, chúng ta biết rằng : cho đến bây giờ,
muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. 23
Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng : chúng ta
đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho
trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa.
--Tin Mừng (Lc 22,23.39-42)
Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên
Thiên Đàng.
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
33 Bấy giờ, khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người
vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên
trái.
39 Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục
mạ Người : “Ông không phải là Đấng Ki-tô sao ? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả
chúng tôi với !” 40 Nhưng tên kia mắng nó : “Mày đang chịu chung một
hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! 41 Chúng
ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có
làm điều gì trái !” 42 Rồi anh ta thưa với Đức Giê-su : “Ông Giê-su
ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” 43 Và Người nói với
anh ta : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”
****
Lễ III
--Bài đọc 1 (2Mc 12,42-45)
Ông Giu-đa Ma-ca-bê đã làm một cử
chỉ rất tốt đẹp và cao quý, vì cho rằng người chết sẽ sống lại.
Bài trích sách Ma-ca-bê quyển thứ
hai
43 Khi ấy, ông Giu-đa Ma-ca-bê quyên góp được khoảng hai ngàn
quan tiền, và gửi về Giê-ru-sa-lem để xin dâng hy lễ tạ tội ; ông làm cử chỉ
rất tốt đẹp và cao quý này vì cho rằng người chết sẽ sống lại. 44
Thực thế, nếu ông không hy vọng rằng những chiến binh đã ngã xuống sẽ sống lại,
thì cầu nguyện cho người chết quả là việc dư thừa và ngu xuẩn. 45
Nhưng nếu ông nghĩ đến phần thưởng rất tốt đẹp dành cho những người đã an nghỉ
trong tinh thần đạo đức, thì đây quả là một ý nghĩ đạo đức và thánh thiện. Đó
là lý do khiến ông xin dâng hy lễ đền tội cho những người đã chết, để họ được
giải thoát khỏi tội lỗi.
--Bài đọc 2 (Kh 21, 1-5a.6b-7)
Sẽ không còn sự chết.
Bài trích sách Khải huyền của thánh
Gio-an tông đồ.
1 Tôi là Gio-an, tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ
đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. 2 Và tôi thấy Thành Thánh
là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân
nương trang điểm để đón tân lang. 3 Rồi tôi nghe từ phía ngai có
tiếng hô to : “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng
với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. 4
Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết ; cũng chẳng còn tang
tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.”
5a Đấng ngự trên ngai phán : “Này đây Ta đổi mới mọi sự. 6b
Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng. Chính Ta sẽ ban cho ai
khát được uống nơi nguồn nước trường sinh, mà không phải trả tiền. 7
Ai thắng sẽ được thừa hưởng hồng ân đó. Ta sẽ là Thiên Chúa của người ấy, và
người ấy sẽ là con của Ta.”
--Tin Mừng (Ga 11,17-27)
Chính Thầy là sự sống lại và là sự
sống.
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
17 Khi đến Bê-ta-ni-a, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn
trong mồ được bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không
đầy ba cây số. 19 Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô
Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức
Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21
Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không
chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên
Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ
sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ
chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính
Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ
được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.
Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn
tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”
-- Trích sách Lẽ Sống (thanhlinh.net)
-Bên Kia Sự Chết-
Trên giường hấp hối, thánh Monica đã nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: "Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh".
Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đã được nghe nhiều lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta, trước khi từ giã cõi đời... Nhưng xa mặt cách lòng, nhiều người trong chúng ta lãng quên những lời van xin thống thiết ấy.
Cần được thương, cần được nhớ: đó là khát vọng tự nhiên của con người. Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn. Dưới cái nhìn Ðức Tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện cho, còn chứng tỏ một lòng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận cái giới hạn mỏng manh bất lực của mình.
Ðể giúp chúng ta có dịp đáp lại thỉnh cầu của những người đã đi vào thế giới bên kia và để thể hiện mối tình thông hiệp "các thánh thông công", Giáo Hội ngay từ buổi đầu kỷ nguyên Kitô đã cổ động việc tưởng nhớ cầu nguyện cho những người quá cố. Những thế kỷ gần đây đã dành tháng 11 hằng năm cho việc đạo đức ấy. Hai ngày lễ mừng kính các thánh và cầu cho các linh hồn được ấn định vào hai ngày mùng một và mùng hai đầu tháng với những kinh nguyện rất ý nghĩa, nhắc chúng ta về sự hiệp thông trong Giáo Hội. Công đồng Vatican II trong hiến chế về Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết như sau: "Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh...".
Nói về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Ðồng viết như sau: "Khi được về quê Trời và hiện diện trước nhan Chúa, nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh lại không ngừng cầu bàu cho chúng ta bên Chúa Cha...". Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu đáp đền, đã thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện.
Quỳ cầu nguyện một mình trong nhà thờ, hay ngậm ngùi đốt lên một ngọn bạch lạp tại một nghĩa trang nào, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người chết và chính cái chết. Chúng ta đang đứng giữa biên giới vô hình của sự sống và sự chết. Và một cách vô cùng huyền nhiệm và sống động, những người chết đang hiện diện với chúng ta bằng một sợi dây liên kết thâm sâu, thắm thiết... Cái chết không còn là một chấm hết cuối cùng đối với chúng ta nữa. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Chính Tình Yêu đã làm cho những người đã chết được sống và cũng chính Tình Yêu liên kết chúng tư với những người chết. Vâng, chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người được bất tử. Chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người liên kết với những người đã chết. Chỉ có Tình Yêu mới mặc cho những nghĩa cử của con người sự bất diệt.
Mỗi lần chúng ta hy sinh cho một người nào đó, mỗi lần chúng ta săn sóc một người đau yếu, an ủi một người đau khổ, bênh vực một người cô thế, hay cùng với những người khác dấn thân để canh tân cuộc sống... Chúng ta đang tiến dần đến sự bất tử.
Yêu thương chính là tái sinh, là sự thông dự vào sự sung mãn của cuộc sống. Ðó phải là niềm tin của chúng ta trong ngày hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố. Xin Chúa nâng đỡ Ðức Tin yếu kém của chúng ta, xin Ngài ban thêm niềm hy vọng cho chúng ta.
---------------------Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Ba 3/11/2020, thánh Mác-ti-nô Po-rét, tu sĩ, lễ nhớ tự do (Bản văn, chú thích từ CGKP, chú thích ấn bản Lời Chúa CMN)
--Bài đọc 1 (Pl 4,4-9)
Những gì là tinh tuyền, thì xin anh
em hãy để ý.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông
đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.
*4 Thưa anh em, anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.
Tôi nhắc lại : vui lên anh em ! 5 Sao cho mọi người thấy anh em sống
hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến. 6 Anh em đừng lo lắng gì cả,
nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà
giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. 7 Và
bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng
trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su. 8 Ngoài ra, thưa anh
em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì
là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen,
thì xin anh em hãy để ý. 9 Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận,
đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn
bình an sẽ ở với anh em.
--Tin Mừng (Mt 22,34-40)
Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên
Chúa của ngươi, và yêu người thân cận như chính mình.
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
34 Khi ấy, nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm
miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người
thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng : 36 “Thưa
Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37
Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng,
hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn trọng nhất và
điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy,
là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật
Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.”
--Chú thích Pl
* 4,4 Những gì là chân thật,... xin anh em hãy để ý (c.8).
Thánh Phao-lô cứ nhắc đi nhắc lại rằng tuân giữ các điều răn và tránh làm các
điều cấm thì không đủ. Chúng ta hãy biết khám phá thái độ rất tự do và cởi mở của
người tín hữu biết rằng Thiên Chúa có trăm ngàn cách để ngỏ lời với mình qua những
người khác. Hằng ngày có bao nhiêu tấm gương trước mắt chúng ta : bao nhiêu là
sự việc kỳ vĩ, chân chính và cao quý trong thế giới này, nhưng chúng ta lại nói
xấu quá nhiều về những sự việc đó. Chúng ta hãy ghi nhận tất cả những gì là tốt
lành ở tất cả những nơi chúng ta gặp thấy, ngay cả nơi những anh em không tín
ngưỡng.
-- Trích sách Lẽ Sống (thanhlinh.)
-Con Chỉ Là Một Tên Mọi Ðen-
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Martinô Porres.
Nhắc đến thánh nhân, người ta thường liên tưởng đến những ơn lạ lùng như xuất thần ngất trí trong khi cầu nguyện, như hiện diện ở hai nơi cùng một lúc, hoặc như có thể trò chuyện và điều khiển cả thú vật.
Vị thánh có lòng bác ái cao độ này lại xuất thân từ một hoàn cảnh vô cùng bi đát và đắng cay. Là con của một thiếu nữ da đen đã từng bị đem bán làm nô lệ vào một nhà quý tộc người Tây Ban Nha, Martinô đã được vị linh mục Rửa Tội ghi trong sổ bộ của giáo xứ là "con không cha". Quả thật, con không cha như nhà không nóc. Martinô đa lớn lên trong cảnh thiếu vắng tình cha mãi cho đến năm 8 tuổi. Nhưng sau khi được chính thức thừa nhận không bao lâu, thì người cha lại bỏ rơi gia đình. Một lần nữa, cậu bé Martinô lại rơi vào cảnh khốn khổ như đa số các em bé nghèo của thành phố Lima, Pêru vào giữa thế kỷ thứ 16.
Nhưng cảnh nghèo ấy đã không gieo vào lòng cậu bé mang hai dòng máu này chút đắng cay nào. Trái lại, cậu tiếp nhận mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống như một thách đố, như một ân sủng.
Năm 12 tuổi, Martinô đã được học nghề hớt tóc và đôi chút xảo thuật của ngành giải phẫu. Vừa hành nghề như một người thợ hớt tóc, vừa như một y tá, Martinô đã đem hết sự hăng say và tận tụy của mình để phục vụ những người nghèo đồng cảnh ngộ.
Nhưng nhận thấy chỉ có thể sống trọn Ðức Ái trong một tu viện, Martinô đã đến gõ cửa một nhà dòng Ðaminh để xin được làm trợ sĩ trong nhà? Bí quyết nên thánh của thầy Martinô là sám hối cầu nguyện và phục vụ, nhất là phục vụ trong những công việc vô danh nhất. Lần kia, nhà dòng mang nợ đến độ không thể bảo đảm được các nhu cầu của các tu sĩ, thầy Martinô đã đến thưa với Bề trên như sau: "Thưa cha, con chỉ là tên mọi đen. Xin hãy bán con đi".
Sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho người khác, thầy Martinô cũng luôn nhận tất cả phần lỗi về mình.
Ôn lại gương hy sinh, cầu nguyện và bác ái của thánh Martinô, không những chúng ta chỉ chạy đến xin ngài bầu cử trong những lúc gặp gian nan thử thách, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là lòng tin thác vào Chúa quan phòng của thánh nhân mà chúng ta cần học hỏi, nhất là trong giai đoạn gặp khó khăn này.
Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Ðó phải là niềm xác tín của chúng ta. Một Thiên Chúa quan phòng là Ðấng có thể biến tất cả những đắng cay, buồn phiền, thất bại, khổ đau trong cuộc sống con người thành khởi đầu của một nguồn ơn cao quí hơn. Cũng như loài ong chỉ rút mật ngọt từ bao nhiêu vị đắng cay của cánh hoa, cũng thế, người có niềm tin luôn có thể rút tỉa được những sức đẩy mới từ những thất bại rủi ro trong cuộc sống. Thánh Martinô đã không hận đời đen bạc vì bị người cha bỏ rơi, mà trái lại xem đó như một dịp may để cảm thông, để học hỏi và để phục vụ người khác hữu hiệu hơn. "Hạt lúa rơi xuống đất có mục nát đi mới trổ sinh được nhiều bông hạt". Ðó là định luật của cuộc sống. Thập giá trong cuộc sống thường là khởi đầu và cơ may cho một vươn lên cao hơn.
Chúng ta thường chạy đến khẩn cầu với thánh Martinô trong cơn hoạn nạn thử thách, chúng ta cũng hãy noi gương ngài để phó thác cho Tình Yêu quan phòng của Chúa, và nhất là xin Ngài cũng giúp chúng ta luôn biết lấy Tình Thương để thắng vượt những ngược đãi của người đời, cũng luôn biết sẵn sàng phục vụ và phục vụ bằng chính mạng sống của mình.
-------------------Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Tư 4/11/2020, thánh Ca-rô-lô Bo-rô-mê-ô, giám mục, lễ nhớ bắt buộc (Bản văn, chú thích từ CGKP, chú thích ấn bản Lời Chúa CMN)
--Bài đọc 1 (Rm 12, 3-13)
Có những đặc sủng khác nhau, tuỳ
theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông
đồ gửi tín hữu Rô-ma.
3 Thưa anh em, dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi
xin nói với từng người trong anh em : đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng
hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tuỳ theo lượng đức tin Thiên Chúa đã
phân phát cho. *4 Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ
phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, 5 thì chúng ta
cũng vậy : tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Ki-tô, mỗi người liên
đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể. 6 Chúng
ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người.
Được ơn làm ngôn sứ, thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. 7
Được ơn phục vụ, thì phải phục vụ. Ai dạy bảo, thì cứ dạy bảo. 8 Ai
khuyên răn, thì cứ khuyên răn. Ai phân phát, thì phải chân thành. Ai chủ toạ,
thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái thì vui vẻ mà làm.
*9 Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét
điều dữ, tha thiết với điều lành ; 10 thương mến nhau với tình huynh
đệ, coi người khác trọng hơn mình ; 11 nhiệt thành, không trễ nải ;
lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. 12 Hãy vui mừng vì có niềm
hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. 13
Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần
tiếp đãi khách đến nhà.
--Tin Mừng (Ga 10,11-16)
Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống
mình cho đoàn chiên.
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
11 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi chính
là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. 12
Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên
khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán
loạn, 13 vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. 14
Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết
tôi, 15 như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh
mạng sống mình cho đoàn chiên.
16 “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng
phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một
mục tử.”
--Chú thích Rm:
* 12,4 Cách thức thánh Phao-lô nói về cộng đoàn Ki-tô hữu giúp chúng ta hiểu rằng Giáo Hội thời bấy giờ không phải được tổ chức như ngày nay. Trong Giáo Hội sơ khai, không phải tất cả mọi sự đều tuỳ thuộc những linh mục đã được tách riêng ra để huấn luyện và được phái từ nơi khác đến các cộng đoàn. Như chúng ta đã bình giải ở Cv 12,24, cộng đoàn bổ nhiệm một hội đồng các kỳ mục được các Tông Đồ chuẩn nhận. Trong số các kỳ mục, các ngôn sứ được tôn trọng đặc biệt. Các kỳ mục lãnh đạo Giáo Hội chủ toạ thánh lễ.
Cộng đoàn biết có thể cậy nhờ vào khả năng của mỗi thành viên, và những thừa tác vụ hay việc phục vụ mà các thành viên đảm nhận trong Giáo Hội thì được coi là ân huệ Thiên Chúa ban. X. Ep 4,11 và phần bình giải 1 Tm 4,14.
Trong lịch sử, Giáo Hội đã phải không ngừng đổi mới cơ cấu của mình, và thích nghi với các thực tại mới trong xã hội cũng như những tiến bộ về văn hoá.
Ai phân phát thì phải chân thành (c.8). Thánh Phao-lô đi từ chỗ chu toàn các thừa tác vụ đến chỗ thực thi đức ái đối với tha nhân.
* 12,9 Cc. 9-13 đưa ra một chương trình cho đời sống Ki-tô hữu. Thánh Phao-lô chú tâm đến thái độ và ý hướng nội tâm nhiều hơn là khuyên phải làm việc này việc nọ một cách rõ ràng.
Đừng lấy ác báo ác (c.17) : nghĩa là hãy tha thứ, một đòi hỏi mà Chúa Giê-su đã nhiều lần nêu rõ. Một thứ khôn ngoan không đúng nghĩa khuyên chúng ta lấy ác báo ác, lấy ti tiện đáp ti tiện... Và cũng chỉ là khôn vặt khi cố gắng làm cho mình ra vẻ quan trọng, cao sang, hay là gặp ai có bề thế thì tỏ ra nể trọng hơn.
-- Trích sách Lẽ Sống (thanhlinh.net)
-Quo Vadis, Domine?-
Ðêm trước ngày vào cơ mật viện để bầu Giáo Hoàng, Hồng Y Karol Wojtyla đã chuẩn bị hành lý để trở về Krakow, tổng giáo phận của ngài. Thế nhưng, ngài đã không trở lại Krakow nữa? Ngày thứ hai, 16 tháng 10 năm 1978, vị Hồng Y 58 tuổi này đã được bầu làm Giáo Hoàng và lấy tên là Gioan Phaolô II. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến từ Ba Lan, là vị Giáo Hoàng đầu tiên không phải là người Italia kể từ 450 năm qua, và tính từ 150 năm trở lại, thì ngài là vị Giáo Hoàng trẻ nhất.
Trong khi chuẩn bị cho bài giảng Chúa Nhật đầu tiên kể từ lúc được bầu làm Giáo Hoàng, Ðức Gioan Phaolô II đã nghĩ đến tác giả của quyển tiểu thuyết giả sử nổi tiếng "Quo vadis, Domine?" là ông Henryk Sienkiewicz, một văn sĩ và đồng thời cũng là một nhà ái quốc Ba Lan? Qua tác phẩm này, vị Giáo Hoàng người Ba Lan đã so sánh tâm tình của mình với vị Giáo Hoàng đầu tiên là thánh Phêrô như được ghi lại trong tác phẩm "Quo vadis,Domine?", "Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?". Theo tác giả quyển tiểu thuyết giả sử, thì có lẽ thánh Phêrô thích ở lại quanh quẩn bên bờ hồ Genezareth hơn là đến giữa trung tâm của đế quốc La Mã để gặp không biết bao nhiêu chống đối và bách hại. Giữa lúc vị Giáo Hoàng đầu tiên toan tình trốn khỏi La Mã để trở về quê hương mình, thì ngài gặp lại Chúa Giêsu hiện ra đang đi ngược chiều với ngài. Ngạc nhiên về sự xuất hiện của Chúa, thánh Phêrô đã hỏi: "Quo vadis, Domine?" nghĩa là "Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu?". Và Chúa Giêsu đã trả lời như sau: "Ta đang đi đến La Mã để chịu đóng đinh một lần nữa". Hiểu được ý Chúa, Phêrô đã quay trở lại La Mã và ngài ở lại đó cho đến khi chịu đóng đinh.
Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Carolô Borremêô và mừng bổn mạng một cách đặc biệt của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Mãi mãi tên Carolô gắn liền với tên tuổi và vận mệnh của Ðức Thánh Cha. Hơn ai hết, ngài phải là người kính nhớ và ghi ơn vị thánh bổn mạng nhiều nhất.
Tên thánh được đặt cho chúng ta trong ngày chịu Phép Rửa đánh dấu sự đổi đời quan trọng của chúng ta. Từ cái chết trong tội lỗi, chúng ta được tái sinh trong sự sống của Chúa. Hướng đi của chúng ta phải là hướng đi tới Chúa, không thể là bước thụt lùi.
Mang lấy tên thánh Carolô, Wojtyla đã quyết tâm hướng cuộc đời của mình tiến tới trong phục vụ và hy sinh như như chính thánh giám mục Carolô Borremêô. Và khi chọn lấy danh hiệu mới là Gioan Phaolô, vị Giáo Hoàng người Ba Lan cũng quyết tâm tiến tới trên con đường mà hai vị tiền nhiệm của mình đã vạch ra... Là người Kitô, chúng ta cũng luôn được mời gọi tiến tới không ngừng trên đường theo chân Chúa Giêsu. Tên thánh mà chúng ta mang lấy trong ngày Rửa Tội, danh hiệu Kitô mà chúng ta được đặt cho phải luôn luôn là một nhắc nhở chúng ta về con đường tiến lên ấy. Chắc chắn con đường ấy không là một con đường rộng thênh thang. Sự tiến lên ấy không là một đà tiến dễ dàng. Phêrô đã quay trở lại La Mã để chịu đóng đinh... Thập giá có lẽ đang chờ đợi chúng ta, chúng ta hãy hiên ngang tiến bước vì đó chính là hướng đi của tất cả những ai mang danh hiệu Kitô.
----------------
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Năm 5/11/2020, sau CN XXXI TN A (Bản văn, chú thích từ CGKP, chú thích ấn bản Lời Chúa CMN)
--Bài đọc 1 (Pl 3,3-8a)
Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, để được Đức Ki-tô.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.
3 Thưa anh em, chúng ta mới thật là những người được cắt bì, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, những người hiên ngang hãnh diện vì Đức Ki-tô Giê-su, chứ không cậy vào xác thịt, 4 mặc dầu tôi đây, tôi có lý do để cậy vào xác thịt. Nếu ai khác có lý do để cậy vào xác thịt, thì tôi càng có lý do hơn : 5 tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri ; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu ; 6 nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh ; còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được tôi. 7 Nhưng, những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. 8a Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi.
--Tin Mừng (Lc 15,1-10)
Trên trời ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau : “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này :
4 “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ? 5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. 6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ 7 Vậy, tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.
8 “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ? 9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói : ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ 10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay : giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
-- Trích sách Lẽ Sống (thanhlinh)
-Chiếc Quan Tài Con-
Tại chùa Tô Châu bên Tàu có một nhà sư tên gọi là Viên Thủ Trung, nổi tiếng là tu hành đắc đạo.
Nhà sư thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi, một cái quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ 3 tấc, có một cái nắp đậy, mở được. Khách đến chơi trông thấy thường tò mò tra hỏi, nhà sư trả lời: "Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Tôi thực lấy làm lạ, người đời ai cũng chỉ biết có phú quý, công danh, tài sắc thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì... Mỗi khi có việc không được như ý, tôi cầm lấy cái quan tài mà ngắm, tức khắc tôi cảm thấy được yên ổn trong tâm hồn ngay".
Con người sở dĩ chạy theo tiền tài danh vọng đến độ chà đạp trên người khác là bởi vì con người không nghĩ đến cái chết đang rình rập sau lưng. Khi tử thần xuất hiện, thì con người không kịp mang theo bất cứ một tài sản nào. Cái chết chỉ trở thành đáng sợ khi con người còn quá nhiều dính bén đối với trần thế này. Trái lại, được ôm ấp suy gẫm mỗi ngày, cái chết sẽ trở thành một người bạn đồng hành giúp con người vượt qua được mọi chán chường, bận tâm thái quá... Trong tất cả mọi sự, người không ngoan đích thực luôn nghĩ đến cùng đích.
Mừng kính những vĩ nhân ấy trong ngày lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta hãy noi gương các ngài đem ra thực hành mỗi mối phúc thật trong cuộc sống, để càng sống chúng ta càng phát triển, tiến bộ trên con đường thánh thiện mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho mỗi người chúng taLời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Bảy 7/11/2020, sau CN XXXI TN A (Bản văn, chú thích từ CGKP, chú thích ấn bản Lời Chúa CMN)
--Bài đọc 1 (Pl 4,10-19)
Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi
chịu được hết.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông
đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.
10 Thưa anh em, nhờ Chúa, tôi rất vui mừng vì cuối cùng thấy
tình cảm của anh em đối với tôi lại thắm thiết. Tình cảm đó vẫn sống động,
nhưng anh em chỉ thiếu dịp tỏ ra. 11 Không phải vì thiếu thốn mà tôi
nói thế, bởi lẽ tôi đã học sống tự lập trong bất cứ hoàn cảnh nào. 12
Tôi sống thiếu thốn cũng được, mà sống dư dật cũng được. Trong mọi hoàn cảnh,
no hay đói, dư dật hay túng bấn, tôi đã tập quen cả. 13 Với Đấng ban
sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết. 14 Tuy nhiên, anh em đã chia sẻ
với tôi, khi tôi gặp cơn quẫn bách, như thế là phải. 15 Chính anh
em, những người thành Phi-líp-phê, anh em biết là trong giai đoạn tôi bắt đầu
rao giảng Tin Mừng, lúc rời khỏi Ma-kê-đô-ni-a, không một Hội Thánh nào đã đóng
góp vào các khoản chi thu của tôi, chỉ có anh em thôi ; 16 bởi vì
ngay khi tôi còn ở Thê-xa-lô-ni-ca, đôi lần anh em đã gửi cho tôi những gì tôi
cần dùng. 17 Điều tôi tìm kiếm không phải là quà tặng, mà là những
gì sinh hoa kết quả dồi dào cho anh em. 18 Tôi có đủ mọi thứ cần
dùng, lại còn dư dật nữa là khác. Tôi rất đầy đủ, kể từ khi nhận được những gì
anh em gửi đến tôi qua tay anh Ê-páp-rô-đi-tô. Quà anh em tặng cho tôi đó,
chẳng khác nào hương thơm, lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa và được Người chấp nhận. 19
Thiên Chúa của tôi sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em một cách tuyệt vời, theo
sự giàu sang của Người trong Đức Ki-tô Giê-su.
--Tin Mừng (Lc 16,9-15)
Nếu anh em không trung tín trong
việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân
thật cho anh em ?
✠Tin
Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo cho
anh em biết : hãy dùng Tiền Của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền
hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. 10 Ai trung tín
trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc
rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. 11 Vậy nếu anh em không
trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao
phó của cải chân thật cho anh em ? 12 Và nếu anh em không trung tín
trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải
dành riêng cho anh em ?
13 “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét
chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em
không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được.”
14 Người Pha-ri-sêu vốn ham hố tiền bạc, nên nghe các điều ấy,
thì cười nhạo Đức Giê-su. 15 Người bảo họ : “Các ông là những kẻ làm
ra bộ công chính trước mặt người đời, nhưng Thiên Chúa thấu biết lòng các ông,
bởi vì điều cao trọng đối với người đời lại là điều ghê tởm trước mặt Thiên
Chúa.”
-- Trích sách Lẽ Sống
-Nỗi Khao Khát Của Hạt Muối-
Khao khát duy nhất của hạt muối là được xem thấy biển. Bằng mọi giá, nó muốn khám phá thế nào là biển... Ngày kia, nó ra đi... Vừa đến bờ biển, nó khám phá ra một cái gì mênh mông, xanh ngắt và sống động. Nó thốt lên:
- Biển ơi, hãy nói đi, ngươi là ai?
Một đợt sóng trả lời:
- Hãy chạm đến ta, rồi ngươi sẽ hiểu.
Hạt muối trườn mình xuống nước. Ô kìa, nó cảm thấy ngây ngất, niềm vui tột cùng làm nó cảm thấy như không còn đứng vững được nữa. Nó cảm thấy như đang hòa lẫn từ từ trong nước. Niềm vui dâng trào. Nó lại hỏi một lần nữa:
- Biển ơi, hãy nói đi, ngươi là ai?
Một đợt sóng cuối cùng ôm ghì lấy nó và nó từ từ tan biến trong nước. Nó chợt reo vui lần cuối cùng:
- Bây giờ ta mới hiểu thế nào là biển: biển là một phần của chính ta.
Hạt muối chỉ có thể hiểu được thế nào là biển khi nó được hòa tan trong nước. Có chìm ngập trong biển, có đi vào biển mới hiểu được thế nào là biển... Thiên Chúa cao cả hơn lý trí của con người. Chúng ta không thể chỉ biết Thiên Chúa bằng lý trí... Hãy để cho Thiên Chúa chiếm ngự, hãy để cho Thiên Chúa ôm chầm lấy ta, ta mới có thể biết được Ngài là ai. Tình tri giao giữa Thiên Chúa và con người chỉ có thể nảy nở bằng thinh lặng, hòa nhập trong cảm mến, tri ân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét