Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống Tuần VII Mùa Phục Sinh 2021

 Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống CN VII Phục Sinh, LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, lễ trọng 16/05/2021 (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)

--Bài đọc 1 (Cv 1,1-11)

Đức Giê-su được cất lên ngay trước mắt các ông.

Khởi đầu sách Công vụ Tông Đồ.

1 Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy, kể từ đầu 2 cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. 3 Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình : trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. 4 Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, “điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, 5 đó là : ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.”

6 Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” 7 Người đáp : “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, 8 nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.”

9 Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. 10 Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh 11 và nói : “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.”

--Bài đọc 2 (Ep 1,17-23) 

Thiên Chúa đã đặt Đức Ki-tô ngự bên hữu Người trên trời.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

17 Thưa anh em, tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. 18 Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, 19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, 20 mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. 21 Như vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. 22 Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh ; 23 mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.

--Tin Mừng (Mc 16,15-20)

Đức Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.

Kết thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

15 Khi ấy, Đức Giê-su hiện ra với Nhóm Mười Một và nói với các ông rằng : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. 16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. 17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin : nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. 18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.”

19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. 20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

--Trích Sách lẽ Sống (thanhlinh.net)

-Cái Hôn-

        Hãng thông tấn AFP của Pháp trong bản tin ngày 23/01/1991 đã ghi một mẩu chuyện lạ như sau:

     Một phụ nữ Brazil đã lợi dụng cái hôn để cắn và nuốt mất khúc lưỡi của người yêu. Bà cho biết: làm như thế là để trả thù người đàn ông vì đã đánh đập, hành hạ bà.

     Cảnh sát tại thành phố Salvador de Bahia, mạn đông bắc Brazil cho biết như sau: Lucia bị người yêu là ông Djalm dos Santos, 47 tuổi, đã đánh đập, hành hạ thậm tệ. Nàng kiên nhẫn chờ đợi cơ hội. Hôm 22/01/1991, ông Djalm đến thăm Lucia để xin lỗi. Cô ta liền nhảy xổ vào người yêu, ôm hôn ông một cách rất tình tứ, không cho ông có thì giờ để giải thích.

     Hai người đang hôn nhau, thì đột nhiên, Lucia cắn đứt một phần lưỡi của Djalim và nuốt luôn vào bụng để người ta không thể vá lại khúc lưỡi đã bị mất.

     Người đàn ông được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Nhưng theo các bác sĩ điều trị, ông ta sẽ không bao giờ có thể nói lại một cách bình thường được, vì đã mất một khúc lưỡi.

     Ông Djalm than thở như sau: "Ðây là nụ hôn thê thảm nhất trong đời tôi. Ðó thật là nụ hôn của Giuda".

     Cái hôn có nhiều hình thức và ý nghĩa khác nhau.

     Có cái hôn của các nhà lãnh đạo tôn giáo, chính trị để nói lên tình hữu nghị, sự hòa giải. Có cái hôn bình an của các tín đồ của một tôn giáo. Có cái hôn dạt dào thương mến giữa cha mẹ và con cái. Có cái hôn nồng cháy dục tình giữa đôi tình nhân hay vợ chồng.

     Tựu trung, trong cái hôn nào cũng có hai yếu tố: yếu tố hữu hình là sự tiếp giáp giữa hai thân xác qua môi miệng và yếu tố vô hình mà cái hôn muốn diễn tả như tình liên đới, hữu nghị, sự hòa giải, tình mẫu tử, tình yêu lứa đôi. Cái hôn sẽ trở thành đồng nghĩa với sự phản bội khi nó tước đoạt khỏi yếu tố vô hình trên đây. Ðó là trường hợp cái hôn của người đàn bà Brazil trên đây.

     Nhưng điển hình nhất của cái hôn phản bội vẫn là cái hôn Giuda dành cho Chúa Giêsu. Ðiều bỉ ổi nhất trong cái hôn của Giuda chính là dùng một cử chỉ của tình thân như một dấu hiệu của sự bán nộp.

     Cái hôn của Giuda được lập lại khi người ta dùng những chiêu bài cao đẹp để che đậy những ý đồ đen tối. Cái hôn của Giuda được lập lại khi người ta nhân danh nhân nghĩa, nhân danh phục vụ, nhân danh người nghèo để kiếm quyền bính, tư lợi cho mình.

     Ðối với người tín hữu Kitô, thì cái hôn của Giuda chính là thái độ sống giả hình mà Chúa Giêsu không ngừng kết án trong Phúc Âm. Ðó là điều mà tiên tri Isaia đã cảnh cáo khi ông nói: "Dân này thờ Ta ngoài môi miệng, mà lòng trí chúng thì xa Ta". Nếu cái hôn của Giuda là một cử chỉ thân tình ngoài môi miệng, nhưng lòng trí thì lại chất chứa âm mưu thâm độc, thì thái độ sống giả hình của người tín hữu cũng là một cái hôn như thế.

     Khi môi miệng sốt sắng cầu kinh, nhưng cuộc sống lại đầy những hành động gian ác ích kỷ, phải chăng đó không là chiếc hôn của Giuda mà chúng ta dành cho Chúa.

-----------

Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Hai sau CN VII mùa Phục Sinh, 17/05/2021 (Bản văn và chú thích, đã được phép sử dụng cho ý hướng Loan báo Tin Mừng từ Nhóm CGKPV. Sách Lẽ Sống từ thanhlinh.net)

--Bài đọc 1 (Cv 19,1-8)

Khi tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa ?

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

*1 Hồi ấy, trong khi ông A-pô-lô ở Cô-rin-tô thì ông Phao-lô đi qua miền thượng du đến Ê-phê-xô. Ông Phao-lô gặp một số môn đệ 2 và hỏi họ : “Khi tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa ?” Họ trả lời : “Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói.” 3 Ông hỏi : “Vậy anh em đã được chịu phép rửa nào ?” Họ đáp : “Phép rửa của ông Gio-an.” 4 Ông Phao-lô nói : “Ông Gio-an đã làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Đấng đến sau ông, tức là Đức Giê-su.” 5 Nghe nói thế, họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. 6 Và khi ông Phao-lô đặt tay trên họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri. 7 Cả nhóm có chừng mười hai người.

8 Ông Phao-lô vào hội đường, và trong vòng ba tháng, ông mạnh dạn rao giảng, thảo luận về Nước Thiên Chúa và cố gắng thuyết phục họ.

--Tin Mừng Ga (16,29-33)

Can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

29 Khi ấy, các môn đệ thưa với Đức Giê-su rằng : “Bây giờ Thầy nói rõ, chứ không còn dùng dụ ngôn nào nữa. 30 Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến.” 31 Đức Giê-su đáp : “Bây giờ anh em tin à ? 32 Này đến giờ -và giờ ấy đã đến rồi- anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả và để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy. 33 Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.”

 

 --Chú thích Cv:

* 19,1 Đã ba năm qua kể từ ngày thánh Phao-lô muốn rao giảng Tin Mừng cho Ê-phê-xô. Đây là một trong những thành phố đẹp nhất và vĩ đại nhất của đế quốc.

Thánh Lu-ca muốn kể truyện mười hai người môn đệ này của ông Gio-an Tẩy Giả chịu phép rửa. Như nói trên, họ đã biết một phần giáo huấn của Chúa Giê-su, nhưng để được gọi là môn đệ của Người, họ còn thiếu cái quan trọng nhất : họ chưa được lãnh nhận Thánh Thần.

Thì Thánh Thần ngự xuống trên họ (c.6). X. Cv 8,14. Đừng quên rằng ngôn ngữ Ki-tô giáo lúc đầu còn rất giới hạn. Người ta biết Chúa Thánh Thần không chỉ tự biểu hiện qua những điềm thiêng đi kèm theo việc đặt tay, mà còn hơn thế nữa. Từ đó mà có những cách nói : chúng tôi chưa hề được nghe nói đến việc có Thánh Thần ; có những bản văn khác thì đọc : chuyện người ta lãnh nhận Thánh Thần.

Đặt tay là xác nhận sự biến đổi được thể hiện trong phép Thánh Tẩy, nhờ cảm nghiệm các ơn của Thánh Thần (1 Cr 12,7). Ngày nay, nhiều Ki-tô hữu sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu chưa bao giờ được nếm qua loại kinh nghiệm này về Thiên Chúa. Chúng ta chớ nói rằng ngày nay điều này không còn cần thiết hay không xảy ra nữa. Đã hẳn là điều quan trọng không phải là cảm nhận, mà là tin và sống đức tin của mình. Nhưng trong một đời người, những lúc được cảm nghiệm qua giác quan thường gây cảm xúc mạnh làm cho đức tin lại nở hoa : chúng ta cảm thấy Thiên Chúa gần gũi chúng ta làm sao, và Người làm chủ những phản ứng thầm kín của chúng ta như thế nào. Phải chăng đầu óc hay lý luận của chúng ta và lối sống trong Giáo Hội của chúng ta, với thái độ hay nghi ngờ trước những gì mang sắc thái cá nhân, đã dập tắt các ân huệ Thánh Thần, – nếu không phải vì chúng ta hãy còn hờ hững, chưa hết mình với Chúa Giê-su.

Họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su (c.5). Nên chăng phải nghĩ rằng lúc đầu, phép Thánh Tẩy được cử hành “nhân danh Chúa Giê-su” chứ không phải “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” ? Không có gì chắc chắn. “Nhân danh” có nghĩa là “nhờ sức mạnh của”. Có thể vào thời ấy, phép rửa nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần được gọi là “phép rửa nhân danh Chúa Giê-su”, để phân biệt với phép rửa của ông Gio-an và các phép rửa trong các tôn giáo khác. Cũng có thể là khi lãnh nhận nước rửa tội nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, chính người chịu phép rửa phải đích thân kêu cầu danh thánh Chúa Giê-su.

Nhưng cũng rất có thể là vào những thời kỳ đầu tiên, người ta làm phép rửa nhân danh Chúa Giê-su, rồi về sau, Hội Thánh sửa đổi công thức đó để phân biệt với những nhóm người tin Chúa Giê-su, nhưng không nhìn nhận Người là Con Thiên Chúa, sinh bởi Chúa Cha. Sự thay đổi này không có gì phải làm chúng ta ngạc nhiên : Hội Thánh thời các Tông Đồ đã đưa ra công thức thứ nhất, cũng chính Hội Thánh ấy đã đưa ra công thức thứ hai mà Mt 28,19 đặt trên miệng Chúa Giê-su

--Trích sách Lẽ Sống:

 -Ði Một Ðoạn Ðường Với Chúa-

        Người Ấn Ðộ có kể một câu chuyện ngụ ngôn như sau: Có một người thanh niên nọ khao khát được nhìn thấy Chúa. Ðêm ngày, anh cầu nguyện liên lỉ chỉ mong sao cho ước nguyện của mình thành sự thật. Quả thực, không bao lâu, Thiên Chúa đã đến với anh dưới hình dạng của một con người đẹp đẽ, uy quyền, trầm tĩnh.

     Chúa đề nghị với anh: "Con có thể đi với Ta một quãng đường không?". Người thanh niên cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Chúa và anh đồng hành với nhau như một đôi bạn tri âm. Ði một lúc, Chúa dừng lại nói với anh: "Ta khát nước, con có thể đi tìm cho Ta một ít nước không?".

     Người thanh niên hăm hở đi tìm nước. Lòng anh tràn ngập hạnh phúc. Còn gì sung sướng bằng đi tìm nước để mang về cho Chúa... Nhưng, anh đi tìm mãi mà không thấy nơi nào có nước... Anh đi mãi để rồi cuối cùng dừng lại bên một bờ sông. Anh đang chuẩn bị lấy nước mang về cho Chúa, thì tình cờ một cô gái đẹp xuất hiện bên bờ sông. Cô gái đẹp đến độ người thanh niên không còn thấy cảnh vật xung quanh, cũng như không còn nghĩ đến việc mang nước về cho Chúa.

     Anh nấn ná đến làm quen với cô gái. Họ thương nhau, lấy nhau và sinh được nhiều con cái. Không gì đầm ấm, hạnh phúc cho bằng. Nhưng một cơn ôn dịch xảy đến. Người thanh niên đưa vợ con đi đến một nơi khác. Nhưng khi họ đi qua một chiếc cầu, thì thình lình mưa gió thổi đến, nước dâng lên kéo cả vợ con anh theo. Người đàn ông bám vào được một gốc cây lớn. Anh khóc thương cho thân phận bọt bèo của vợ con cũng như chính kiếp cô đơn lạc loài của anh.

     Giữa lúc đó, Thiên Chúa xuất hiện trước mặt anh: Ngài mỉm cười hỏi anh: "Này con, con có mang nước về cho Ta không? Con làm gì để Ta phải chờ đợi gần cả tiếng đồng hồ".

     Một người cha nhân từ mòn mỏi trông đứa con hoang trở về: đó là hình ảnh cảm động nhất về Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta trong bài dụ ngôn "Người Con Hoang Ðàng". Từng ngày, người cha ra đầu ngõ để trông đợi. Khi đứa con còn ở đằng xa, ông đã chạy đến để giang rộng đôi cánh tay để ôm trọn đứa con vào lòng, không một lời quở trách, không một cử chỉ bất bình... Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như thế. Chúng ta tưởng mình đi tìm Ngài, chúng ta tưởng Ngài ẩn mặt với chúng ta. Nhưng kỳ thực, chính Ngài mới là Ðấng đeo đuổi chúng ta, tìm kiếm chúng ta, chờ đợi chúng ta. Chúng ta tưởng mình đang đi đến với Chúa, nhưng kỳ thực chính Ngài đang ở với chúng ta.

--------------

Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Ba sau CN VII mùa Phục Sinh, 18/05/2021 (Bản văn và chú thích, đã được phép sử dụng cho ý hướng Loan báo Tin Mừng từ Nhóm CGKPV. Sách Lẽ Sống từ thanhlinh.net)

--Bài đọc 1 (Cv 20,17-27)

Tôi đã chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giê-su

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

17 Hồi ấy, từ Mi-lê-tô, ông Phao-lô sai người đi mời các kỳ mục trong Hội Thánh Ê-phê-xô. 18 Khi họ đến gặp ông, ông nói với họ :

“Anh em biết, từ ngày đầu tiên đặt chân đến A-xi-a, tôi đã luôn luôn cư xử với anh em thế nào. 19 Khi phục vụ Chúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã nhiều lần phải rơi lệ, đã gặp bao thử thách do những âm mưu của người Do-thái. 20 Anh em biết tôi đã không bỏ qua một điều gì có ích cho anh em ; trái lại tôi đã giảng cho anh em và dạy anh em ở nơi công cộng cũng như tại chốn tư gia. 21 Tôi đã khuyến cáo cả người Do-thái lẫn người Hy-lạp phải trở về với Thiên Chúa, và tin vào Đức Giê-su, Chúa chúng ta.

22 “Giờ đây, bị Thần Khí trói buộc, tôi về Giê-ru-sa-lem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, 23 trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. 24 Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giê-su, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.

25 “Giờ đây tôi biết rằng : tất cả anh em, những người tôi đã đến thăm để rao giảng Nước Thiên Chúa, anh em sẽ không còn thấy mặt tôi nữa. 26 Vì vậy, hôm nay tôi xin tuyên bố với anh em rằng : nếu có ai trong anh em phải hư mất, thì tôi vô can. 27 Thật tôi đã không bỏ qua điều gì, trái lại đã rao giảng cho anh em tất cả ý định của Thiên Chúa.”

--Tin Mừng (Ga 17,1-11a)

Lạy Cha, xin Cha tôn vinh Con Cha.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

*1 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, giờ đã đến ! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha. 2 Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. 3 Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.

4 “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. 5 Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian. 6 Những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con, và họ đã tuân giữ lời Cha. 7 Giờ đây, họ biết rằng tất cả những gì Cha ban cho con đều do bởi Cha, 8 vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con ; họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con.

9 “Con cầu nguyện cho họ. Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha. 10 Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con ; và con được tôn vinh nơi họ. 11a Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian ; phần con, con đến cùng Cha.”

--Chú thích Cv:

* 20,17 Thánh Phao-lô trở lại Pa-lét-tin. Ngài có linh cảm, hoặc đã được Chúa Thánh Thần mặc khải cho biết rằng một giai đoạn khác trong đời ngài sắp bắt đầu : những năm bị giam cầm và thử thách. Vì thế ngài muốn nói lời từ biệt với các vị lãnh đạo Hội Thánh tại A-xi-a, một tỉnh thuộc đế quốc Rô-ma. Ngài không quen biết họ nhiều bởi vì việc rao giảng Tin Mừng trong tỉnh này là do một nhóm phụ tá của ngài đảm trách (20,4). Những vị lãnh đạo này được gọi là kỳ mục ở c.17 và người coi sóc ở c.28 (do đó mà có từ “giám mục”). Xem chủ đề này trong phần bình giải Pl 1,1.
Thánh Phao-lô lấy bản thân mình làm gương và từ đó khai triển đề tài những ràng buộc mà các vị chăn dắt Hội Thánh (“mục tử”) đảm nhận (c.28). Tiếp theo, ngài kêu gọi họ không nên chỉ biết luẩn quẩn trong vai trò lãnh đạo hoặc điều hành giáo đoàn, mà còn phải chuẩn bị giáo đoàn cho những thời kỳ khó khăn nữa. Họ chỉ cần trông gương thánh nhân mà nghĩ đến mình thì sẽ nhận thấy công việc tông đồ đòi hỏi biết bao là hy sinh. Họ có thể đang tâm ngồi đó chăng, chờ cho có một vị tông đồ nào đó, một ai đó khác, dĩ nhiên không phải là họ, nai lưng ra đối đầu với các khủng hoảng ?
Cc. 28-30 cảnh báo về những chia rẽ và lạc giáo trong Hội Thánh : sẽ gặp lại ngôn ngữ này trong các thư Mục Vụ (2 Tm 3,1-9). Chúng ta đã quá quen thấy anh em Ki-tô hữu chia rẽ nhau, nhưng đối với thánh Phao-lô thì đó là điều không thể tưởng tượng được. Khi ngài nói “các Hội Thánh Đức Ki-tô” (Rm 16,4 và 16 ; 1 Cr 4,17 ; 11,16), ngài chỉ có thể nghĩ đến những giáo đoàn có tình nghĩa tương giao với nhau, và tất cả đều đón nhận cùng một đức tin và cùng một truyền thống từ các Tông Đồ, không hề có sự tranh cãi.
Trong cc. 33-35, thánh Phao-lô mượn ý bài diễn từ của ông Sa-mu-en khi từ nhiệm (1 Sm 12,3) : tiếc thay, người phục vụ có cách vụ lợi cho mình rất sớm, trong bất cứ công việc tông đồ hay công việc tương tự nào khác !
Thánh Phao-lô gợi ý cho thấy số phận nào đang chờ đợi ngài : chúng ta không thể mơ ước gì hơn là bước theo Chúa Ki-tô, Đấng đã mua Hội Thánh bằng máu của chính mình (c.28). Người lãnh đạo Hội Thánh chỉ tìm được nghỉ ngơi và hưu trí thật sự ở trên trời mà thôi (20,32).
--Chú thích Ga:
* 17,1 DUY NHẤT VÀ THÁNH THIỆN
“Lời nguyện của Đức Giê-su Thượng Tế” hay “lời nguyện hiến tế” là tên đặt cho lời cầu nguyện trong đó, trước khi chết, Chúa Ki-tô dâng hiến mạng sống của Người, với tư cách là tư tế đồng thời là lễ vật (c.19). Trong thời Cựu Ước, từ “thánh hiến” được áp dụng cho hai việc : vị tư tế tự thánh hiến mình, nghĩa là làm những nghi thức chuẩn bị để xứng đáng dâng của lễ, và ông cũng thánh hiến lễ vật khi tiến dâng nó lên Thiên Chúa.
Chúa Giê-su đến chấm dứt phương thức thờ phượng của Cựu Ước trong đền thờ Do-thái giáo (Hr 8,13 ; 10,9). Dân Do-thái đã từng được gọi là thánh, nghĩa là được tách riêng ra để phụng sự vị Thiên Chúa Chí Thánh mà, giữa muôn dân, họ là dân duy nhất được đặc ân nhận biết.
Chúa Giê-su cầu nguyện cho những kẻ thuộc về Người để họ trở thành dân mới của Người (Tv 102,19), dân thánh, nghĩa là được thánh hiến cho Thiên Chúa trong sự thật (c.17). Người sẽ đổ xuống trên họ Thần Khí sự thật đã được hứa ban trước đó cho dân Ít-ra-en, và Thần Khí này sẽ dạy dỗ họ từ trong đáy lòng của họ.
Xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha (c.11). Nói cách khác : xin gìn giữ họ trong ánh quang nhiệm mầu của Cha, mà Cha vẫn chia sẻ cho Con. Đây là lời cầu nguyện của Chúa Giê-su cho Hội Thánh của Người, vì Người giao phó cho Hội Thánh chính sứ mạng của Người. Nhiệm vụ hàng đầu của Hội Thánh sẽ là nhận biết Thiên Chúa. (Từ nhận biết được lặp lại bảy lần, cho thấy rõ việc nhận biết là tâm điểm trong ý nguyện của Chúa Giê-su). Ki-tô giáo sẽ nghèo nàn biết bao nếu chỉ biết nói suông : Yêu thương, yêu thương ! Cho dù Hội Thánh ở vào tình huống nào, sứ mạng đặc biệt và không thay thế được của Hội Thánh vẫn là gìn giữ và rao truyền sự hiểu biết chân chính về Chúa Cha và điều răn mà Con của Người đã ban.
Chúa Giê-su cũng muốn hễ ai thuộc về Người thì nhận biết Thiên Chúa. Điều này đòi hỏi phải hiểu sâu lời Chúa, kiên trì trong cầu nguyện và tham dự các buổi phụng tự của cộng đoàn tín hữu. Khi thực hành những việc này, chúng ta sẽ nhận được ơn trợ giúp của Thánh Thần, Đấng trao ban các ơn hiểu biết và khôn ngoan (Cl 1,9). Từ ơn hiểu biết sẽ phát sinh những việc thiện và tình yêu : đây là khởi điểm của sự sống đời đời (c.3), khi mà chúng ta sẽ được nhìn thấy tỏ tường dung nhan Thiên Chúa (1 Ga 3,2).
Chúa Ki-tô đã cầu nguyện cho Hội Thánh của Người được nên một, nghĩa là được nên dấu chỉ hợp nhất trong một thế giới bị phân hoá. Tuyên xưng Chúa Ki-tô thì chưa đủ ; người ta còn phải thấy được ở giữa họ một Hội Thánh duy nhất và hợp nhất nữa.
Hội Thánhcông giáo, nghĩa là toàn cầu, trong đó không ai cảm thấy mình là người xa lạ. Một Hội Thánh duy nhất bất phân, nhờ có cùng một Thần Khí, với mối dây hợp nhất thấy rõ giữa các thành viên.
Lịch sử Giáo Hội dường như mâu thuẫn với ý cầu nguyện của Chúa Giê-su, cũng như với ý muốn của Người là xây dựng Hội Thánh Người trên nền tảng Nhóm Mười Hai, đặt thánh Phê-rô làm thủ lãnh hữu hình của Nhóm và của cả Hội Thánh. Nhưng duy trì sự hợp nhất giữa những người thuộc đủ mọi quốc gia, với những tính khí và văn hoá khác nhau, đòi hỏi nhiều tình yêu và thông cảm.
Ngay từ những năm đầu tiên, một số người trong Giáo Hội đã bắt đầu bác bỏ đức tin mà các Tông Đồ rao giảng, và từ đó các nhóm hay giáo phái đã xuất hiện.
Về sau, vì những lý do lịch sử, các nước thuộc đế quốc Rô-ma chia ra làm hai khối : đế quốc Phương Đông theo văn hoá Hy-lạp, và đế quốc Phương Tây (Tây Âu) trong đó nền văn hoá Trung Cổ sẽ phát triển sau thời kỳ các dân tộc man di xâm lăng châu Âu. Giữa người Ki-tô hữu thuộc hai khối, sự giao lưu trở nên ngày càng khó khăn. Và bởi vì họ sống cùng một niềm tin nhưng lại theo những truyền thống và lối sống đạo khác nhau, nên họ bắt đầu cho rằng họ theo những tôn giáo khác nhau. Các Giáo Hội Đông Phương, được gọi là Giáo Hội Chính Thống, tách khỏi Giáo Hội Rô-ma như thế đó.
Mãi sau này, sự lơ là của hàng giáo phẩm trước hiện tượng những lạm dụng dai dẳng trong một Giáo Hội đã ngả theo “thói đời”, là cơ hội thúc đẩy những người Tin Lành thành lập những Giáo Hội mới gọi là “Giáo Hội cải cách”. Ngoài ra, sự ly khai này còn có những nguyên nhân rất phức tạp, chính trị, kinh tế và xã hội. Cuộc khủng hoảng văn hoá mà khối Ki-tô giáo đang trải qua buộc người Ki-tô hữu phải xét lại các quan điểm của mình về Kinh Thánh, triết học và xã hội. Đứng trước các vấn đề này, tuỳ theo lập trường mình chọn mà người này theo Giáo Hội Tin Lành, người kia ở lại trong Giáo Hội Công Giáo.
Ngày nay, một phần đáng kể những khó khăn trong quá khứ nói trên đã được làm sáng tỏ. Anh em Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành đang có nhiều cố gắng trong nỗ lực hợp nhất lại với nhau. Nhưng đồng thời những rạn nứt mới lại xuất hiện trong nội bộ mỗi Giáo Hội. Bởi vì đứng trước các vấn nạn đương thời gây nhiều xung đột nhất, người Ki-tô hữu không nhất trí với nhau, không những trong cách chọn lựa của họ về mặt chính trị, mà còn trong cách hiểu biết Chúa Ki-tô, trong cách rao truyền thông điệp của Người nữa.
Vì vậy, phong trào đại kết, nghĩa là nỗ lực hoà giải và xích lại gần nhau giữa các Giáo Hội, đòi hỏi chúng ta cũng phải vượt qua những mâu thuẫn mới đang đe doạ sự hợp nhất trong nội bộ Giáo Hội. Chúng ta phải làm cả cái không thể làm, để sự hợp nhất của tất cả các Ki-tô hữu được thành tựu, như Chúa Ki-tô mong muốn, và bằng những phương cách Người mong muốn.

-- Trích sách Lẽ Sống

-Cánh Diều-

        Người Rumani nói về nguồn gốc của trò chơi thả diều bằng mẩu chuyện như sau:

     Tại một làng kia, có một người nghèo mà ai cũng gọi là Cob. Cob là một tên gọi không mấy thanh cao trong ngôn ngữ Rumani. Người ta gọi ông bằng tên ấy vì cái miệng sún răng cũng như đôi chân khập khiễng của ông. Con người có dáng vẻ xấu xí ấy lẽ dĩ nhiên chỉ có thể là một người nghèo mà thôi. Không vợ, không con, ông Cob lầm than như tất cả những người nghèo khác. Ði đến đâu, ông cũng trở thành trò đùa cho mọi người. Vậy mà con người ấy không hề than thân trách phận hoặc tỏ ra giận dữ, buồn phiền mỗi khi bị chọc ghẹo.

     Cả đời, ông chỉ có mỗi một băn khoăn: là chưa hề làm một việc thiện cho người khác. Ông yêu người, ông muốn tặng thật nhiều quà cho mọi người. Nhưng ông cảm thấy mình quá nghèo để có thể thực hiện được giấc mơ ấy. Ông thường tự nhủ: "Bệnh tật, đau yếu, khốn khổ, chết chóc, đó là số phận chung của mọi người. Ai không nhỏ lệ thì cũng khóc thầm trong lòng. Nước mắt là cơm bữa của loài người. Do đó, cần phải làm cho con người phấn khởi, vui tươi". Nghĩ thế, ông trình bày lên Chúa tước nguyện như sau: "Xin Chúa cho con có thể mang lại cho những người đau khổ một quà tặng".

     Một quà tặng cho nhân loại đau khổ, nhưng ông Cob vẫn không biết món quà đó phải như thế nào. Trong khi chờ đợi, mỗi lần bị cười chê, mỗi lần bị đem ra làm trò cười, ông vẫn tươi cười với ý nghĩ rằng: "Ít ra mình cũng làm cho người vui".

     Sau một thời gian suy nghĩ, cuối cùng ông Cob mới tìm ra được món quà tặng mà ông sẽ mang lại cho nhân loại đau khổ: đó là một cánh diều bay lơ lửng trên không.

     Nghĩ đó là sự linh ứng của Chúa, ông Cob đi nhặt tất cả những gì cần thiết để làm một cánh diều. Ông miệt mài cắt xén, sơn vẽ để hoàn thành được một cánh diều óng ả, sáng chói như một đĩa bay.

     Khi cánh diều gặp gió bay cao, cả dân làng kéo nhau ra cánh đồng để nhìn ngắm cánh diều của ông Cob. Mọi người đưa mắt nhìn lên không trung và quên hẳn những nhọc nhằn của cuộc sống. Ðó là quà tặng mà người khốn khổ nhất của ngôi làng đã mang lại cho người đồng loại của mình.

     Một tác giả nào đó đã nói: "Trái tim không phải là một món hàng để mua bán, mà là một món quà để trao tặng". Một trái tim không biết trao tặng là một trái tim chết.

     Sự giàu có và nghèo nàn có thể phân biệt con người thành giai cấp thứ bậc. Có người tiền rừng bạc biển, có người nghèo rớt mòng tơi. Nhưng mỗi người chỉ có một quả tim, và quả tim đó lẽ ra phải giống nhau, bởi vì người ta không thể cân lường được quả tim. Do đó, quà tặng xuất phát từ quả tim đều vô giá. Giá trị của món quà không hệ tại ở số lượng của tiền của, mà ở quả tim được gói gém trong món quà.

     Chúa Giêsu đã nhìn thấy qủa tim mà một người đàn bà góa đã gói trọn trong một đồng xu nhỏ dâng cúng đền thờ. Nhân vật Cob trong câu chuyện của người Rumani trên đây đã đặt tất cả con tim của mình vào cánh diều để làm vui cho con người.

     Một ánh mắt, một nụ cười, một lời nói an ủi, một bàn tay nâng đỡ, đó là bao nhiêu quả tim mà con người có thể trao tặng cho nhau. Và có thể là những món quà cao quý nhất mà những người xung quanh đang chờ đợi nơi chúng ta.

-----------

Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Tư sau CN VII mùa Phục Sinh, 19/05/2021 (Bản văn và chú thích từ Nhóm CGKPV, sách Lẽ Sống từ thanhlinh.net)

--Bài đọc 1 (Cv 20,28-38)

Tôi xin phó thác anh em cho Thiên Chúa, Đấng có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

28 Hồi ấy, ông Phao-lô nói với các kỳ mục trong Hội Thánh Ê-phê-xô rằng : “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình.

29 “Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. 30 Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng. 31 Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng, suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm khi phải rơi lệ.

32 “Giờ đây, tôi xin phó thác anh em cho Thiên Chúa và cho lời ân sủng của Người, là lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh hiến.

33 “Vàng bạc hay quần áo của bất cứ ai, tôi đã chẳng ham. 34 Chính anh em biết rõ : những gì cần thiết cho tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. 35 Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy : cho thì có phúc hơn là nhận.”

36 Nói thế rồi, ông Phao-lô cùng với tất cả các anh em quỳ gối xuống cầu nguyện. 37 Ai nấy oà lên khóc và ôm cổ ông mà hôn. 38 Họ đau đớn nhất vì lời ông vừa nói là họ sẽ không còn thấy mặt ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu.

--Tin Mừng (Ga 17,11b-19)

Lạy Cha, xin cho họ nên một như chúng ta.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

11b Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. 12 Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13 Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. 14 Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15 Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16 Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. 17 Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. 18 Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. 19 Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.”

--Trích sách Lẽ Sống

 -Tôi Chết Thay Cho Thầy Tôi-

        Một tu sĩ Hồi Giáo nọ quy tụ được 60 môn sinh. Sau một thời gian giáo huấn họ, ông quyết định như sau: Ta thấy đã đến lúc phải làm một cuộc hành trình mới. Ta không biết những gì sẽ xảy ra cho thầy trò chúng ta. Các ngươi hãy tuân giữ các điều ta đã truyền dạy cho các ngươi. Hãy nhớ điều này: trong bất cứ lúc nào, hễ ta giơ tay lên trời thì các ngươi hãy hô lớn: "Tôi chết thay cho thầy tôi".

     Ðám môn sinh nhận thấy không thể chấp nhận được một đề nghị xem ra điên rồ như thế, cho nên 59 người đã bỏ cuộc trở về với nếp sống cũ của họ. Chỉ có một người chấp nhận điều kiện và quyết tâm đi theo thầy mình cho đến cùng. Hai thầy trò lên đường mà không biết đi về đâu. Họ đi mãi cho đến lúc tới một thành phố do một bạo chúa cai trị. Không bao lâu thì họ vào thành phố, ông bạo chúa đã ra lệnh cho các binh lính như sau: "Các ngươi hãy bắt giữ lấy tên du thử du thực đầu tiên và điệu đến đây cho ta. Ta muốn treo cổ hắn để làm một bài học cho bọn vô lại trong thành phố này".

     Thế là bọn lính đã đến bắt người đệ tử của vị tu sĩ và điệu đến trước mặt bạo chúa. Giữa lúc cuộc hành quyết sắp bắt đầu, thì vị tu sĩ mới xuất hiện giữa đám đông và hô lớn: "Thưa quan lớn, xin hãy giết tôi, vì chính tôi là người đã dụ dỗ thanh niên này bỏ nhà ra đi để sống kiếp sống lang thang như tôi". Nói xong ông giơ tay lên trời.

     Vừa thấy cử chỉ ấy của vị thầy, người thanh niên mới gào lên: "Thưa quan lớn, tôi muốn chết thay cho thầy tôi".

     Quan bạo chúa nghe thế, mới hỏi các viên cố vấn của mình như sau: "Họ là ai mà sẵn sàng chết thay cho nhau?". Quan bạo chúa mới cho điệu vị tu sĩ đến trước mặt và yêu cầu giải thích cho cặn kẽ về mối tương quan giữa thầy trò.

     Vị tu sĩ Hồi Giáo mới bình tĩnh phát biểu như sau: "Thưa quan lớn, chúng tôi có nghe nói rằng bất cứ ai được giết trong thành phố này đều được phúc trường sinh bất tử. Dĩ nhiên, nghe biết như thế, cho nên thầy trò chúng tôi mới hăm hở đến đây để được chết như thế".

     Nghe thế, quan bạo chúa mới mỉm cười, rồi ra lệnh trả tự do cho họ. Người môn sinh chợt hiểu được rằng ai hy sinh mạng sống mình thì sẽ tìm lại được nó.

     Cái chết của Ðức Kitô trên thập giá đều là vô nghĩa, nếu cái chết đó không phải là cái chết cho mọi người. Thập giá của Ðức Kitô sẽ chỉ là một ô nhục, nếu thập giá đó không là biểu trưng của tình yêu, sự hy sinh.

     Bước theo Ðức Kitô trong cuộc tử nạn, vác lấy thập giá và đi theo Ngài không là một việc làm nhiệm ý và tùy hứng, nhưng là đòi hỏi thiết yếu của ơn gọi Kitô. Con đường của Ðức Kitô chính là con đường của tình yêu, của hy sinh hiến thân cho người khác.

 -------------

Lời Chúa T Năm 20/05/2021, sau CN lễ Chúa Thăng Thiên 

--Bài đọc 1 (Cv 22,30; 23,6-11)

 Con cũng phải làm chứng tại Rô-ma nữa.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

22 30 Hôm ấy, vì muốn biết chắc chắn người Do-thái tố cáo ông Phao-lô về điều gì, vị chỉ huy cơ đội tháo xiềng cho ông và ra lệnh cho các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng họp lại, rồi ông đưa ông Phao-lô từ đồn xuống, để ra trước mặt họ.

23 6 Ông Phao-lô biết rằng một phần Thượng Hội Đồng thuộc phái Xa-đốc, còn phần kia thuộc phái Pha-ri-sêu, nên ông nói lớn tiếng giữa hội nghị : “Thưa anh em, tôi là người Pha-ri-sêu, thuộc dòng dõi Pha-ri-sêu ; chính vì hy vọng rằng kẻ chết sẽ sống lại mà tôi bị đưa ra xét xử.” 7 Ông vừa nói thế, thì người Pha-ri-sêu và người Xa-đốc chống đối nhau, khiến hội nghị chia rẽ. 8 Thật vậy, người Xa-đốc chủ trương rằng chẳng có sự sống lại, chẳng có thiên sứ hay quỷ thần ; còn người Pha-ri-sêu thì lại tin là có. 9 Người ta la lối om sòm. Có mấy kinh sư thuộc phái Pha-ri-sêu đứng lên phản đối mạnh mẽ : “Chúng tôi không thấy người này có gì là xấu. Biết đâu một vị thần hay một thiên sứ đã nói với ông ấy ?” 10 Hai bên chống đối gay gắt đến nỗi vị chỉ huy sợ người ta xé xác ông Phao-lô, nên mới ra lệnh cho lính xuống lôi ông ra khỏi đám người đó mà đưa về đồn.

11 Đêm ấy Chúa đến bên ông Phao-lô và nói : “Hãy vững lòng ! Con đã long trọng làm chứng cho Thầy ở Giê-ru-sa-lem thế nào, thì con cũng phải làm chứng như vậy tại Rô-ma nữa.”

--Tin Mừng (Ga 17,20-26)

Xin cho họ được hoàn toàn nên một.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

20 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, 21 để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con. 22 Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một : 23 Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một ; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.

24 “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành. 25 Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con. 26 Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.”

--     Trích sách Lẽ Sống

-Kẻ Ăn Cắp Một Ổ Bánh Mì-

    

    Người ta thường kể về một trong những ông thị trưởng đầu tiên của thành phố New York bên Hoa Kỳ giai thoại như sau: một ngày mùa đông lạnh buốt nọ, ông thị trưởng phải chủ tọa các phiên tòa. Người ta điệu đến trước mặt ông một ông lão quần áo tả tơi. Người đàn ông này bị tố cáo là đã ăn cắp một mẩu bánh mì. Lời tự biện hộ duy nhất mà người đàn ông khốn khổ đưa ra là: "Gia đình tôi đang chết đói".

 

    Nghe xong lời cáo buộc của cử tọa cũng như lời biẹn bạch của ông lão, viên thị trưởng đưa ra phán quyết như sau: "Luật pháp không tha thứ cho bất cứ một hành động xấu nào. Tôi thấy cần phải trừng phạt ông, và hình phạt cho tội ăn cắp là ông phải đóng 10 đô la". Vừa công bố bản án, ông thị trưởng rút trong túi của mình ra 10 đô la và trao cho ngưòi đàn ông khốn khổ. Quay xuống cử tọa ông nói tiếp: "Ông lão đã bồi thường vì tội ăn cắp của ông. Còn phần quý vị, tôi yêu cầu mỗi người phải đóng 50 xu tiền phạt vì sống dửng dưng đến độ để cho trong thành phố của chúng ta còn có một người nghèo phải đi ăn cắp". Nói xong, ông ra lệnh cho viên biện lý đi thu tiền vả trao tất cả cho ông lão.

 

    Khi chiếc mũ đã được truyền một vòng tòa án và trở về tay mình, ông lão đếm được tất cả 47 đô la 50 xu.

 

    Trong sứ điệp Mùa Chay năm 1991, Ðức thánh Cha Gioan Phaolô II mời gọi chúng ta hãy đọc và suy ngẫm về bài dụ ngôn người giàu có và Lazarô.

 

    Mới nghe qua, chúng ta có cảm tưởng người giàu có trong bài dụ ngôn đã không làm điều gian ác nào để đến độ phải bị trầm luân. Chúa Giêsu đã không nói: ông đã trộm cướp, hay biển lận hoặc gian xảo trong việc làm ăn. Ngài cũng không kết án việc ông ngày ngày yến tiệc linh đình.

 

    Vậy thì đâu là tội của người phú hộ? Thưa đó là tội dửng dưng trước nỗi khổ của người khác. Chúa Giêsu nói đến sự hiện diện ngày qua ngày của một người khốn khổ trước cửa nhà ông để cho chúng ta thấy sự đang tâm làm ngơ của người giàu có... Máu chảy, ruột mềm. Trước cảnh khốn khổ của người đồng loại, mà người giàu có ấy vẫn không biểu lộ một chút xúc động hoặc làm như không nhìn thấy, thì quả thật không gì đáng trách bằng, bởi vì người giàu có đã làm cho trái tim của mình khô cứng.

     Dửng dưng trước nỗi khổ của người khác không là một thái độ vô thưởng vô phạt, mà là một hành động tội ác. Ông thị trưởng thành phố New York trong câu chuyện trên đây quả thực đã thấy được tội ác của chính ông và của thị dân của ông đối với lão ông ăn cắp bánh mì.

-------------

Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Năm sau CN VII mùa Phục Sinh, 20/05/2021 (Bản văn và chú thích, đã được phép sử dụng cho ý hướng Loan báo Tin Mừng từ Nhóm CGKPV. Sách Lẽ Sống từ thanhlinh.net) Bài đọc 1 (Cv 25,13b-21) Đức Giê-su đã chết mà ông Phao-lô quả quyết là vẫn sống. Bài trích sách Công vụ Tông Đồ. 13b Hồi ấy, vua Ác-ríp-pa và bà Béc-ni-kê đến Xê-da-rê chào mừng ông Phét-tô. 14 Vì hai người ở lại đó nhiều ngày, ông Phét-tô mới đem vụ ông Phao-lô ra trình bày với nhà vua. Ông nói : “Ở đây có một người tù ông Phê-lích để lại. 15 Khi tôi tới Giê-ru-sa-lem, các thượng tế và các kỳ mục Do-thái đến kiện và xin tôi kết án người ấy. 16 Tôi đã trả lời họ rằng người Rô-ma không có lệ nộp bị cáo nào, trước khi đương sự ra đối chất với nguyên cáo, và được cơ hội biện hộ về lời tố cáo. 17 Vậy họ cùng đến đây với tôi, và không chút trì hoãn, ngày hôm sau tôi ra ngồi toà và truyền điệu đương sự đến. 18 Đứng quanh đương sự, các nguyên cáo đã không đưa ra một tội trạng nào như tôi tưởng. 19 Họ chỉ tranh luận với ông ta về một số vấn đề liên quan đến tôn giáo riêng của họ, và liên quan đến một ông Giê-su nào đó đã chết, mà Phao-lô quả quyết là vẫn sống. 20 Phần tôi, phân vân trước cuộc tranh luận về những chuyện ấy, tôi hỏi xem ông ta có muốn đi Giê-ru-sa-lem để được xử tại đó về vụ này không. 21 Nhưng Phao-lô đã kháng cáo, xin dành vụ này cho Thánh Thượng xét xử, nên tôi đã ra lệnh giữ ông ta lại cho đến khi giải lên hoàng đế.” --Tin Mừng (Ga 21,15-19) Hãy chăn dắt chiên của Thầy. ✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. *15 Sau khi dùng bữa với các môn đệ tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới lần thứ ba : “Anh có thương mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.” - Chú thích Ga: 21,15 Chúa Giê-su hỏi ông Phê-rô một câu đến ba lần, cân xứng với ba lần ông chối Chúa trong cuộc Thương Khó của Người. Ông Phê-rô, người mục tử các mục tử, cũng là một tội nhân đã được tha thứ. Chúa Giê-su giao phó cả Hội Thánh cho ông, cũng như ở Mt 16,18. Anh có mến Thầy không ? Đây là điều kiện thứ nhất để làm người mục tử trong Giáo Hội. Cuộc đối thoại này giữa Chúa Giê-su và ông Phê-rô nói rõ cho biết làm Ki-tô hữu có nghĩa là gì. Mỗi ngày, Chúa Giê-su hỏi chúng ta có yêu mến Người một cách đặc biệt và “trên hết mọi sự” hay không : Anh có mến Thầy hơn các anh em này không ? Cũng như ông Phê-rô, chúng ta trả lời ‘có’, mặc dù chúng ta đầy những yếu đuối ; và Chúa Giê-su lại mời gọi chúng ta đi theo Người vì tình yêu (c.22), và cùng với Người gánh vác dân Thiên Chúa. Để bước theo Chúa Giê-su, không có cách nào tốt cho bằng hy sinh cuộc đời mình cho sứ mạng của Người. Chúa Giê-su ra lệnh cho ông Phê-rô chăm sóc Hội Thánh và qua đó Người truyền lệnh cho chúng ta có thái độ phục tùng. Chúng ta tự nguyện phục tùng, không phải vì các mục tử luôn luôn là những người tài đức và không hề sai lầm, nhưng là vì các ngài có một nhiệm vụ tối cần là thực thi quyền bính. Chúng ta tin rằng trong lịch sử, các ngài là những người kế vị các Tông Đồ, và vì lẽ đó, đã lãnh nhận từ Thiên Chúa sứ mạng dẫn dắt đoàn chiên. Tin Mừng kết thúc với lời tiên báo về hai số phận khác nhau dành cho hai thánh Phê-rô và Gio-an. Thánh Phê-rô sẽ tử vì đạo tại Rô-ma vào năm 66 hay 67 ; còn thánh Gio-an thì năm 90 hãy còn sống. Ông là người cuối cùng trong số các nhân chứng của Chúa Ki-tô, và nhiều người vẫn nghĩ là ông sẽ không chết trước ngày Chúa lại đến: đó là lý do tại sao Tin Mừng nhấn mạnh rằng Chúa Giê-su đã không hứa như thế. Đoạn cuối cùng được viết thêm vào làm phần kết luận cho sách Tin Mừng theo thánh Gio-an, tác giả là những người ở bên cạnh thánh nhân khi người qua đời -- Trích sách Lẽ Sống -Ðôi Cánh Con Tuấn Mã- Hai người bạn thân ngồi bên nhau dưới một bóng cây cổ thụ. Cả hai đều đưa mắt nhìn về cánh đồng trước mặt, nhưng mỗi người một ý nghĩ. Người có dáng vẻ đầy nghị lực, cái nhìn cương quyết, thốt lên như sau: "Một cảnh vật phẳng lặng và độc điệu như thế này quả thực là nhàm chán. Tôi sẽ rời bỏ ngôi làng nhỏ bé này để làm một vòng du lịch cho biết đó biết đây". Người bạn khác với dáng điệu mảnh khảnh ít nói, mỉm cười nhìn vào phong cảnh xung quanh rồi nói: "Tôi cũng có một con tuấn mã. Từ bao lâu nay, tôi đã đi lại không biết bao nhiêu nơi rồi". Hai người chia tay nhau và hẹn cũng gặp lại dưới bóng cây cổ thụ để kể cho nhau nghe những cuộc du lịch của mình. Sau một năm, họ lại gặp nhau... người thứ nhất kể chuyện: "Trong một năm qua, hầu như nơi nào tỗi cung đã đặt chân đến. Tôi đã đi xuống biển, lên ngàn, vượt đèo, qua suối. Tôi đã gặp không biết bao nhiêu người. Tôi đã học được bí quyết kiếm được nhiều tiền... Giờ đây, tôi trở nên giàu có. Tôi sẽ tiếp tục đi du lịch... Còn bạn, bạn đã đi được nơi nào trong suốt năm qua?". Người bạn chưa từng rời bỏ ngôi làng của mình đã trả lời: "Tôi đã lên trời, tôi đã bay lượn trên các tầng mây. Tôi đã đến đô thị của mặt trời". Nghe thế, người kia thắc mắc: "Phải chăng con tuấn mã của anh bay được?". Con người có tâm hồn thi sĩ trả lời: "Ðúng thế, con ngựa của tôi có đôi cánh. Nó đưa tôi lên tất cả những nơi nào tôi muốn. Mắt tôi nhìn thấy được muôn kỳ công của vũ trụ. tai tôi nghe được muôn điệu nhạc của thiên nhiên... Ðối với anh, sự giàu có nằm trong của cải vàng bạc. Nhưng đối với tôi, của cải chính là đôi mắt của tâm hồn tôi. Cho dẫu một năm qua, tôi chỉ ngồi dưới bóng cây cổ thụ này, cho dẫu quang cảnh trước mặt tôi chỉ là cánh đồng phẳng lặng này, nhưng tâm hồn tôi nhìn thấy muôn nghìn cảnh đẹp của thiên nhiên, tai tôi có thể nghe được bao nhiêu điệu nhạc của thiên nhiên mà anh không thể nghe được". Người có tâm hồn nghệ sĩ có những rung cảm mà người khác không có. họ nhìn thấy, họ lắng nghe được những điều mà người khác không cảm nhận được. Cũng thế, người có đôi mắt Ðức tin có thể nhìn thấy các giá trị mà người khác không nhìn thấy. Ðôi mắt Ðức tin giúp chúng ta cảm nhận được sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa trong vũ trụ, trong lịch sử, trong con người. Ðôi mắt Ðức tin ấy giúp chúng ta thấy được giá trị của cuộc sống độc điệu, của những hy sinh âm thầm hằng ngày. Ðôi mắt Ðức tin ấy giúp chúng ta thấy được lẽ khôn ngoan trong những điều người đời cho là điên dại, sức mạnh trong những cái yếu đuối. Ðức tin ấy giúp chúng ta nhìn thấy ánh sáng trong tăm tối, sự sống trong cái chết, ân sủng trong tội lỗi.
----------

--Bài đọc 1 (Cv 28,16-20.30-31)

Ông Phao-lô ở lại Rô-ma và rao giảng Nước Thiên Chúa.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

16 Khi chúng tôi vào Rô-ma, ông Phao-lô được phép ở nhà riêng cùng với người lính canh giữ ông.

17 Ba ngày sau, ông mời các thân hào Do-thái đến. Khi họ đã tới đông đủ, ông nói với họ : “Thưa anh em, tôi đây, mặc dầu đã không làm gì chống lại dân ta hay các tục lệ của tổ tiên, tôi đã bị bắt tại Giê-ru-sa-lem và bị nộp vào tay người Rô-ma. 18 Sau khi điều tra, họ muốn thả tôi, vì tôi không có tội gì đáng chết. 19 Nhưng vì người Do-thái chống đối, nên bó buộc tôi phải kháng cáo lên hoàng đế Xê-da ; tuy vậy không phải là tôi muốn tố cáo dân tộc tôi. 20 Đó là lý do khiến tôi xin được gặp và nói chuyện với anh em, bởi chính vì niềm hy vọng của Ít-ra-en mà tôi phải mang xiềng xích này.”

30 Suốt hai năm tròn, ông Phao-lô ở tại nhà ông đã thuê, và tiếp đón tất cả những ai đến với ông. 31 Ông rao giảng Nước Thiên Chúa và dạy về Chúa Giê-su Ki-tô, một cách rất mạnh dạn, không gặp ngăn trở nào.

--Tin Mừng (Ga 21,20-25)

Chính môn đệ này đã viết ra những điều đó và lời chứng của người ấy là xác thực.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

20 Khi ấy, ông Phê-rô quay lại, thì thấy người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau ; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi : “Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy ?” 21 Vậy khi thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, còn anh này thì sao ?” 22 Đức Giê-su đáp : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ? Phần anh, hãy theo Thầy.” 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là : “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ?”

24 Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.

25 Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.


--     Trích sách Lẽ Sống

-Thiên Chúa Tạo Dựng Con Người-

    Người Ấn Ðộ thường kể câu chuyện ngụ ngôn về việc sáng tạo con người như sau: Một hôm Thiên Chúa quyết định tạo dựng con người, nghĩa là làm một tạo vật đẹp nhất giữa các tạo vật. Dĩ nhiên, khi Thiên Chúa vừa công bố quyết định, các Thiên thần đã tỏ ra không mấy hồ hởi, một phần vì ganh tị, một phần vì không thể chấp nhận được một ý tưởng xem ra quá kỳ cục ấy. Làm sao tưởng tượng được một thụ tạo vừa thuộc về hạ giới, lại vừa tham dự vào đời sống thần linh. Làm sao có được một hữu thể vừa là một mảnh của thời gian, lại vừa mang tính vĩnh cửu? Làm sao chấp nhận được giữa vật chất và tinh thần?

    Các Thiên Thần không thể tưởng tượng được rằng Thiên Chúa có thể tạo dựng được một tạo vật như thế. Các vị e ngại rằng ý tưởng ấy sẽ hạ giảm quyền năng và sự khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa.

    Ðể ngăn chặn Thiên Chúa trong ý định của Ngài, các Thiên Thần mới bầu ra một ủy ban. Sau nhiều ngày ráo riết làm việc, ủy ban đã soạn xong một kiến nghị đệ trình lên Chúa gồm những điểm như sau: tinh thần không thể kết hợp với vật chất, bản tính thiên thần không thể kết hợp với bản tính thú vật, cái có cùng không thể hòa hợp với cái không cùng, cái chóng qua đi không thể đi đôi với điều vĩnh hằng, do đó yêu cầu Thiên Chúa hãy từ bỏ ý định điên rồ của Ngài.

    Sau khi đọc kỹ bản kiến nghị, Thiên Chúa đưa ra phán quyết như sau: "Tất cả những góp ý của các người đều hợp lý. Nhưng điều ta sắp thực hiện không phải là một vấn đề triết học". Các Thiên Thần đều nhao nhao hỏi: "Vậy thì vấn đề đó là gì?". Sau một hồi thinh lặng, Thiên Chúa chậm rãi đáp: "Con người là vấn đề của Niềm Tin". Ngài thinh lặng, rồi phán quyết: "Con người là vấn đề của Niềm Tin".

    Trong một xã hội được xây dựng trên luật của cá lớn ăn hiếp cá bé, trong một xã hội mà nền tảng đã bị đục khoét bởi lọc lừa, gian trá, phản bội, đố kỵ, hận thù, con người dễ mất đi niềm tin nơi con người, bởi vì khi không tin ở người, con người cũng không còn tin ở chính mình. Một cuộc sống như thế chẳng khác nào một cuộc tự hủy, một cuộc tự sát tập thể.

     Thiên Chúa yêu thương mọi người. Ngài tiếp

tục tin tưởng nơi con người, Ngài cũng mời gọi chúng ta tin tưởng nơi con người... Thay vì tự giam hãm trong khép kín, trong đố kỵ, chúng ta hãy ra khỏi chính mình để đến với người... Ðến với người bằng sự thông cảm tha thứ, cho dẫu chúng ta chỉ gặp toàn những lừa đảo phản bội. Ðến với người bằng những san sẻ sớt chia, cho dẫu chúng ta chỉ toàn gặp những bội bạc, vong ân. Ðến với người bằng tiếng cười rộn rã, cho dẫu chúng ta chỉ gặp toàn đắng cay, sầu muộn.

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét