Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống CN VII Phục Sinh, LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, lễ trọng 16/05/2021 (Bản văn, chú thích từ CGKPV ấn bản Lời Chúa Cho MN)
--Bài đọc 1 (Cv
1,1-11)
Đức
Giê-su được cất lên ngay trước mắt các ông.
Khởi
đầu sách Công vụ Tông Đồ.
1 Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong
quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giê-su làm và những
điều Người dạy, kể từ đầu 2 cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước
ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh
Thần. 3 Người
lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi
đã chịu khổ hình : trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông
về Nước Thiên Chúa. 4 Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ,
Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở
lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, “điều mà anh em đã nghe Thầy nói
tới, 5 đó
là : ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ
chịu phép rửa trong Thánh Thần.”
6 Bấy giờ những người đang tụ họp
ở đó hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương
quốc Ít-ra-en không ?” 7 Người đáp : “Anh em không cần biết thời giờ và
kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, 8 nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh
Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy
tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng
trái đất.”
9 Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. 10 Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh 11 và nói : “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.”
--Bài đọc 2 (Ep
1,17-23)
Thiên
Chúa đã đặt Đức Ki-tô ngự bên hữu Người trên trời.
Bài
trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
17 Thưa anh em, tôi cầu xin Chúa
Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em
thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. 18 Xin Người soi lòng mở trí cho
anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi,
đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân
thánh, 19 đâu
là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó
chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, 20 mà Người đã biểu dương nơi Đức
Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người
trên trời. 21 Như
vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước
vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới
tương lai. 22 Thiên
Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh
; 23 mà
Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả
được viên mãn.
--Tin Mừng (Mc
16,15-20)
Đức
Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.
Kết
thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
15 Khi ấy, Đức Giê-su hiện ra với
Nhóm Mười Một và nói với các ông rằng : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,
loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. 16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được
cứu độ ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. 17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo
những ai có lòng tin : nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những
tiếng mới lạ. 18 Họ
sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ
đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.”
19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa
lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. 20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi,
có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận
lời các ông rao giảng.
--Trích Sách lẽ Sống (thanhlinh.net)
-Cái Hôn-
Hãng thông tấn AFP của Pháp trong bản tin ngày 23/01/1991 đã ghi một mẩu chuyện lạ như sau:
Một phụ nữ Brazil đã lợi dụng cái hôn để cắn và nuốt mất khúc lưỡi của người yêu. Bà cho biết: làm như thế là để trả thù người đàn ông vì đã đánh đập, hành hạ bà.
Cảnh sát tại thành phố Salvador de Bahia, mạn đông bắc Brazil cho biết như sau: Lucia bị người yêu là ông Djalm dos Santos, 47 tuổi, đã đánh đập, hành hạ thậm tệ. Nàng kiên nhẫn chờ đợi cơ hội. Hôm 22/01/1991, ông Djalm đến thăm Lucia để xin lỗi. Cô ta liền nhảy xổ vào người yêu, ôm hôn ông một cách rất tình tứ, không cho ông có thì giờ để giải thích.
Hai người đang hôn nhau, thì đột nhiên, Lucia cắn đứt một phần lưỡi của Djalim và nuốt luôn vào bụng để người ta không thể vá lại khúc lưỡi đã bị mất.
Người đàn ông được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Nhưng theo các bác sĩ điều trị, ông ta sẽ không bao giờ có thể nói lại một cách bình thường được, vì đã mất một khúc lưỡi.
Ông Djalm than thở như sau: "Ðây là nụ hôn thê thảm nhất trong đời tôi. Ðó thật là nụ hôn của Giuda".
Cái hôn có nhiều hình thức và ý nghĩa khác nhau.
Có cái hôn của các nhà lãnh đạo tôn giáo, chính trị để nói lên tình hữu nghị, sự hòa giải. Có cái hôn bình an của các tín đồ của một tôn giáo. Có cái hôn dạt dào thương mến giữa cha mẹ và con cái. Có cái hôn nồng cháy dục tình giữa đôi tình nhân hay vợ chồng.
Tựu trung, trong cái hôn nào cũng có hai yếu tố: yếu tố hữu hình là sự tiếp giáp giữa hai thân xác qua môi miệng và yếu tố vô hình mà cái hôn muốn diễn tả như tình liên đới, hữu nghị, sự hòa giải, tình mẫu tử, tình yêu lứa đôi. Cái hôn sẽ trở thành đồng nghĩa với sự phản bội khi nó tước đoạt khỏi yếu tố vô hình trên đây. Ðó là trường hợp cái hôn của người đàn bà Brazil trên đây.
Nhưng điển hình nhất của cái hôn phản bội vẫn là cái hôn Giuda dành cho Chúa Giêsu. Ðiều bỉ ổi nhất trong cái hôn của Giuda chính là dùng một cử chỉ của tình thân như một dấu hiệu của sự bán nộp.
Cái hôn của Giuda được lập lại khi người ta dùng những chiêu bài cao đẹp để che đậy những ý đồ đen tối. Cái hôn của Giuda được lập lại khi người ta nhân danh nhân nghĩa, nhân danh phục vụ, nhân danh người nghèo để kiếm quyền bính, tư lợi cho mình.
Ðối với người tín hữu Kitô, thì cái hôn của Giuda chính là thái độ sống giả hình mà Chúa Giêsu không ngừng kết án trong Phúc Âm. Ðó là điều mà tiên tri Isaia đã cảnh cáo khi ông nói: "Dân này thờ Ta ngoài môi miệng, mà lòng trí chúng thì xa Ta". Nếu cái hôn của Giuda là một cử chỉ thân tình ngoài môi miệng, nhưng lòng trí thì lại chất chứa âm mưu thâm độc, thì thái độ sống giả hình của người tín hữu cũng là một cái hôn như thế.
Khi môi miệng sốt sắng cầu kinh, nhưng cuộc sống lại đầy những hành động gian ác ích kỷ, phải chăng đó không là chiếc hôn của Giuda mà chúng ta dành cho Chúa.
-----------
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Hai
sau CN VII mùa Phục Sinh, 17/05/2021 (Bản văn và chú thích, đã được phép sử
dụng cho ý hướng Loan báo Tin Mừng từ Nhóm CGKPV. Sách Lẽ Sống từ thanhlinh.net)
--Bài đọc 1 (Cv
19,1-8)
Khi
tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa ?
Bài
trích sách Công vụ Tông Đồ.
*1 Hồi ấy, trong khi ông A-pô-lô ở
Cô-rin-tô thì ông Phao-lô đi qua miền thượng du đến Ê-phê-xô. Ông Phao-lô gặp
một số môn đệ 2 và
hỏi họ : “Khi tin theo, anh em đã nhận được Thánh Thần chưa ?” Họ trả lời :
“Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói.” 3 Ông hỏi : “Vậy anh em đã được
chịu phép rửa nào ?” Họ đáp : “Phép rửa của ông Gio-an.” 4 Ông Phao-lô nói : “Ông Gio-an đã
làm một phép rửa tỏ lòng sám hối, và ông bảo dân tin vào Đấng đến sau ông, tức
là Đức Giê-su.” 5 Nghe
nói thế, họ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. 6 Và khi ông Phao-lô đặt tay trên
họ, thì Thánh Thần ngự xuống trên họ, họ nói tiếng lạ và nói tiên tri. 7 Cả nhóm có chừng mười hai người.
8 Ông Phao-lô vào hội đường, và
trong vòng ba tháng, ông mạnh dạn rao giảng, thảo luận về Nước Thiên Chúa và cố
gắng thuyết phục họ.
--Tin Mừng Ga (16,29-33)
Can
đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
29 Khi ấy, các môn đệ thưa với Đức
Giê-su rằng : “Bây giờ Thầy nói rõ, chứ không còn dùng dụ ngôn nào nữa. 30 Giờ đây, chúng con nhận ra là
Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con
tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến.” 31 Đức Giê-su đáp : “Bây giờ anh em tin à ? 32 Này đến giờ -và giờ ấy đã đến
rồi- anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả và để Thầy cô độc một mình. Nhưng
Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy. 33 Thầy nói với anh em những điều
ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan
khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.”
--Chú thích Cv:
* 19,1 Đã ba năm qua kể từ ngày
thánh Phao-lô muốn rao giảng Tin Mừng cho Ê-phê-xô. Đây là một trong những
thành phố đẹp nhất và vĩ đại nhất của đế quốc.
Thánh Lu-ca muốn kể
truyện mười hai người môn đệ này của ông Gio-an Tẩy Giả chịu phép rửa. Như nói
trên, họ đã biết một phần giáo huấn của Chúa Giê-su, nhưng để được gọi là môn
đệ của Người, họ còn thiếu cái quan trọng nhất : họ chưa được lãnh nhận Thánh
Thần.
Thì Thánh Thần ngự
xuống trên họ (c.6). X. Cv
8,14. Đừng quên rằng ngôn ngữ Ki-tô giáo lúc đầu còn rất giới hạn. Người ta
biết Chúa Thánh Thần không chỉ tự biểu hiện qua những điềm thiêng đi kèm theo
việc đặt tay, mà còn hơn thế nữa. Từ đó mà có những cách nói : chúng tôi chưa
hề được nghe nói đến việc có Thánh Thần ; có những bản văn
khác thì đọc : chuyện người ta lãnh nhận Thánh Thần.
Đặt tay là xác nhận sự
biến đổi được thể hiện trong phép Thánh Tẩy, nhờ cảm nghiệm các ơn của Thánh
Thần (1 Cr 12,7). Ngày nay, nhiều Ki-tô hữu sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu chưa bao
giờ được nếm qua loại kinh nghiệm này về Thiên Chúa. Chúng ta chớ nói rằng ngày
nay điều này không còn cần thiết hay không xảy ra nữa. Đã hẳn là điều quan
trọng không phải là cảm nhận, mà là tin và sống đức tin của mình. Nhưng trong
một đời người, những lúc được cảm nghiệm qua giác quan thường gây cảm xúc mạnh
làm cho đức tin lại nở hoa : chúng ta cảm thấy Thiên Chúa gần gũi chúng ta làm
sao, và Người làm chủ những phản ứng thầm kín của chúng ta như thế nào. Phải
chăng đầu óc hay lý luận của chúng ta và lối sống trong Giáo Hội của chúng ta,
với thái độ hay nghi ngờ trước những gì mang sắc thái cá nhân, đã dập tắt các
ân huệ Thánh Thần, – nếu không phải vì chúng ta hãy còn hờ hững, chưa hết mình
với Chúa Giê-su.
Họ chịu phép rửa nhân
danh Chúa Giê-su (c.5). Nên chăng
phải nghĩ rằng lúc đầu, phép Thánh Tẩy được cử hành “nhân danh Chúa Giê-su” chứ
không phải “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” ? Không có gì chắc
chắn. “Nhân danh” có nghĩa là “nhờ sức mạnh của”. Có thể vào thời ấy, phép rửa
nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần được gọi là “phép rửa nhân danh
Chúa Giê-su”, để phân biệt với phép rửa của ông Gio-an và các phép rửa trong
các tôn giáo khác. Cũng có thể là khi lãnh nhận nước rửa tội nhân danh Thiên
Chúa Ba Ngôi, chính người chịu phép rửa phải đích thân kêu cầu danh thánh Chúa
Giê-su.
Nhưng cũng rất có thể
là vào những thời kỳ đầu tiên, người ta làm phép rửa nhân danh Chúa Giê-su, rồi
về sau, Hội Thánh sửa đổi công thức đó để phân biệt với những nhóm người tin
Chúa Giê-su, nhưng không nhìn nhận Người là Con Thiên Chúa, sinh bởi Chúa Cha.
Sự thay đổi này không có gì phải làm chúng ta ngạc nhiên : Hội Thánh thời các
Tông Đồ đã đưa ra công thức thứ nhất, cũng chính Hội Thánh ấy đã đưa ra công
thức thứ hai mà Mt 28,19 đặt trên miệng Chúa Giê-su
--Trích sách Lẽ Sống:
-Ði Một Ðoạn Ðường
Với Chúa-
Người Ấn Ðộ có kể một câu chuyện ngụ ngôn như sau: Có một người thanh niên nọ khao khát được nhìn thấy Chúa. Ðêm ngày, anh cầu nguyện liên lỉ chỉ mong sao cho ước nguyện của mình thành sự thật. Quả thực, không bao lâu, Thiên Chúa đã đến với anh dưới hình dạng của một con người đẹp đẽ, uy quyền, trầm tĩnh.
Chúa đề nghị với anh: "Con có thể đi với Ta một quãng đường không?". Người thanh niên cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Chúa và anh đồng hành với nhau như một đôi bạn tri âm. Ði một lúc, Chúa dừng lại nói với anh: "Ta khát nước, con có thể đi tìm cho Ta một ít nước không?".
Người thanh niên hăm hở đi tìm nước. Lòng anh tràn ngập hạnh phúc. Còn gì sung sướng bằng đi tìm nước để mang về cho Chúa... Nhưng, anh đi tìm mãi mà không thấy nơi nào có nước... Anh đi mãi để rồi cuối cùng dừng lại bên một bờ sông. Anh đang chuẩn bị lấy nước mang về cho Chúa, thì tình cờ một cô gái đẹp xuất hiện bên bờ sông. Cô gái đẹp đến độ người thanh niên không còn thấy cảnh vật xung quanh, cũng như không còn nghĩ đến việc mang nước về cho Chúa.
Anh nấn ná đến làm quen với cô gái. Họ thương nhau, lấy nhau và sinh được nhiều con cái. Không gì đầm ấm, hạnh phúc cho bằng. Nhưng một cơn ôn dịch xảy đến. Người thanh niên đưa vợ con đi đến một nơi khác. Nhưng khi họ đi qua một chiếc cầu, thì thình lình mưa gió thổi đến, nước dâng lên kéo cả vợ con anh theo. Người đàn ông bám vào được một gốc cây lớn. Anh khóc thương cho thân phận bọt bèo của vợ con cũng như chính kiếp cô đơn lạc loài của anh.
Giữa lúc đó, Thiên Chúa xuất hiện trước mặt anh: Ngài mỉm cười hỏi anh: "Này con, con có mang nước về cho Ta không? Con làm gì để Ta phải chờ đợi gần cả tiếng đồng hồ".
Một người cha nhân từ mòn mỏi trông đứa con hoang trở về: đó là hình ảnh cảm động nhất về Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta trong bài dụ ngôn "Người Con Hoang Ðàng". Từng ngày, người cha ra đầu ngõ để trông đợi. Khi đứa con còn ở đằng xa, ông đã chạy đến để giang rộng đôi cánh tay để ôm trọn đứa con vào lòng, không một lời quở trách, không một cử chỉ bất bình... Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như thế. Chúng ta tưởng mình đi tìm Ngài, chúng ta tưởng Ngài ẩn mặt với chúng ta. Nhưng kỳ thực, chính Ngài mới là Ðấng đeo đuổi chúng ta, tìm kiếm chúng ta, chờ đợi chúng ta. Chúng ta tưởng mình đang đi đến với Chúa, nhưng kỳ thực chính Ngài đang ở với chúng ta.
--------------
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Ba
sau CN VII mùa Phục Sinh, 18/05/2021 (Bản văn và chú thích, đã được phép sử
dụng cho ý hướng Loan báo Tin Mừng từ Nhóm CGKPV. Sách Lẽ Sống từ thanhlinh.net)
--Bài đọc 1 (Cv
20,17-27)
Tôi
đã chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giê-su
Bài
trích sách Công vụ Tông Đồ.
17 Hồi ấy, từ Mi-lê-tô, ông Phao-lô
sai người đi mời các kỳ mục trong Hội Thánh Ê-phê-xô. 18 Khi họ đến gặp ông, ông nói với
họ :
“Anh em biết, từ ngày đầu tiên đặt chân đến A-xi-a,
tôi đã luôn luôn cư xử với anh em thế nào. 19 Khi phục vụ Chúa, tôi đã hết
lòng khiêm tốn, đã nhiều lần phải rơi lệ, đã gặp bao thử thách do những âm mưu
của người Do-thái. 20 Anh em biết tôi đã không bỏ qua một điều gì có
ích cho anh em ; trái lại tôi đã giảng cho anh em và dạy anh em ở nơi công cộng
cũng như tại chốn tư gia. 21 Tôi đã khuyến cáo cả người Do-thái lẫn người
Hy-lạp phải trở về với Thiên Chúa, và tin vào Đức Giê-su, Chúa chúng ta.
22 “Giờ đây, bị Thần Khí trói buộc,
tôi về Giê-ru-sa-lem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, 23 trừ ra điều này, là tôi đến
thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng xiềng xích và gian truân
đang chờ đợi tôi. 24 Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng
giá gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa
Giê-su, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.
25 “Giờ đây tôi biết rằng : tất cả
anh em, những người tôi đã đến thăm để rao giảng Nước Thiên Chúa, anh em sẽ
không còn thấy mặt tôi nữa. 26 Vì vậy, hôm nay tôi xin tuyên bố với anh em
rằng : nếu có ai trong anh em phải hư mất, thì tôi vô can. 27 Thật tôi đã không bỏ qua điều
gì, trái lại đã rao giảng cho anh em tất cả ý định của Thiên Chúa.”
--Tin Mừng (Ga
17,1-11a)
Lạy
Cha, xin Cha tôn vinh Con Cha.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
*1 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên
trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, giờ đã đến ! Xin Cha tôn vinh Con Cha để
Con Cha tôn vinh Cha. 2 Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi
phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho
Người. 3 Mà
sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và
nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.
4 “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở
dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. 5 Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha
tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha
trước khi có thế gian. 6 Những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban
cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con,
và họ đã tuân giữ lời Cha. 7 Giờ đây, họ biết rằng tất cả những gì Cha ban
cho con đều do bởi Cha, 8 vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con
; họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin
là Cha đã sai con.
9 “Con cầu nguyện cho họ. Con
không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ
thuộc về Cha. 10 Tất
cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con ; và
con được tôn vinh nơi họ. 11a Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ,
họ ở trong thế gian ; phần con, con đến cùng Cha.”
--Chú thích Cv:
-- Trích sách Lẽ Sống
-Cánh Diều-
Người Rumani nói về nguồn gốc của trò chơi thả diều bằng mẩu chuyện như sau:
Tại một làng kia, có một người nghèo mà ai cũng gọi là Cob. Cob là một tên gọi không mấy thanh cao trong ngôn ngữ Rumani. Người ta gọi ông bằng tên ấy vì cái miệng sún răng cũng như đôi chân khập khiễng của ông. Con người có dáng vẻ xấu xí ấy lẽ dĩ nhiên chỉ có thể là một người nghèo mà thôi. Không vợ, không con, ông Cob lầm than như tất cả những người nghèo khác. Ði đến đâu, ông cũng trở thành trò đùa cho mọi người. Vậy mà con người ấy không hề than thân trách phận hoặc tỏ ra giận dữ, buồn phiền mỗi khi bị chọc ghẹo.
Cả đời, ông chỉ có mỗi một băn khoăn: là chưa hề làm một việc thiện cho người khác. Ông yêu người, ông muốn tặng thật nhiều quà cho mọi người. Nhưng ông cảm thấy mình quá nghèo để có thể thực hiện được giấc mơ ấy. Ông thường tự nhủ: "Bệnh tật, đau yếu, khốn khổ, chết chóc, đó là số phận chung của mọi người. Ai không nhỏ lệ thì cũng khóc thầm trong lòng. Nước mắt là cơm bữa của loài người. Do đó, cần phải làm cho con người phấn khởi, vui tươi". Nghĩ thế, ông trình bày lên Chúa tước nguyện như sau: "Xin Chúa cho con có thể mang lại cho những người đau khổ một quà tặng".
Một quà tặng cho nhân loại đau khổ, nhưng ông Cob vẫn không biết món quà đó phải như thế nào. Trong khi chờ đợi, mỗi lần bị cười chê, mỗi lần bị đem ra làm trò cười, ông vẫn tươi cười với ý nghĩ rằng: "Ít ra mình cũng làm cho người vui".
Sau một thời gian suy nghĩ, cuối cùng ông Cob mới tìm ra được món quà tặng mà ông sẽ mang lại cho nhân loại đau khổ: đó là một cánh diều bay lơ lửng trên không.
Nghĩ đó là sự linh ứng của Chúa, ông Cob đi nhặt tất cả những gì cần thiết để làm một cánh diều. Ông miệt mài cắt xén, sơn vẽ để hoàn thành được một cánh diều óng ả, sáng chói như một đĩa bay.
Khi cánh diều gặp gió bay cao, cả dân làng kéo nhau ra cánh đồng để nhìn ngắm cánh diều của ông Cob. Mọi người đưa mắt nhìn lên không trung và quên hẳn những nhọc nhằn của cuộc sống. Ðó là quà tặng mà người khốn khổ nhất của ngôi làng đã mang lại cho người đồng loại của mình.
Một tác giả nào đó đã nói: "Trái tim không phải là một món hàng để mua bán, mà là một món quà để trao tặng". Một trái tim không biết trao tặng là một trái tim chết.
Sự giàu có và nghèo nàn có thể phân biệt con người thành giai cấp thứ bậc. Có người tiền rừng bạc biển, có người nghèo rớt mòng tơi. Nhưng mỗi người chỉ có một quả tim, và quả tim đó lẽ ra phải giống nhau, bởi vì người ta không thể cân lường được quả tim. Do đó, quà tặng xuất phát từ quả tim đều vô giá. Giá trị của món quà không hệ tại ở số lượng của tiền của, mà ở quả tim được gói gém trong món quà.
Chúa Giêsu đã nhìn thấy qủa tim mà một người đàn bà góa đã gói trọn trong một đồng xu nhỏ dâng cúng đền thờ. Nhân vật Cob trong câu chuyện của người Rumani trên đây đã đặt tất cả con tim của mình vào cánh diều để làm vui cho con người.
Một ánh mắt, một nụ cười, một lời nói an ủi, một bàn tay nâng đỡ, đó là bao nhiêu quả tim mà con người có thể trao tặng cho nhau. Và có thể là những món quà cao quý nhất mà những người xung quanh đang chờ đợi nơi chúng ta.
-----------
Lời Chúa, chú thích và Lẽ sống T Tư
sau CN VII mùa Phục Sinh, 19/05/2021 (Bản văn và chú thích từ Nhóm CGKPV, sách Lẽ Sống từ thanhlinh.net)
--Bài đọc 1 (Cv
20,28-38)
Tôi
xin phó thác anh em cho Thiên Chúa, Đấng có sức xây dựng và ban cho anh em được
hưởng phần gia tài.
Bài
trích sách Công vụ Tông Đồ.
28 Hồi ấy, ông Phao-lô nói với các
kỳ mục trong Hội Thánh Ê-phê-xô rằng : “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và
toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt
Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình.
29 “Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi
đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn
chiên. 30 Ngay
từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc,
hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng. 31 Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng,
suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm
khi phải rơi lệ.
32 “Giờ đây, tôi xin phó thác anh
em cho Thiên Chúa và cho lời ân sủng của Người, là lời có sức xây dựng và ban
cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh
hiến.
33 “Vàng bạc hay quần áo của bất cứ
ai, tôi đã chẳng ham. 34 Chính anh em biết rõ : những gì cần thiết cho
tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. 35 Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng
phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ
lại lời Chúa Giê-su đã dạy : cho thì có phúc hơn là nhận.”
36 Nói thế rồi, ông Phao-lô cùng
với tất cả các anh em quỳ gối xuống cầu nguyện. 37 Ai nấy oà lên khóc và ôm cổ ông
mà hôn. 38 Họ
đau đớn nhất vì lời ông vừa nói là họ sẽ không còn thấy mặt ông nữa. Rồi họ
tiễn ông xuống tàu.
--Tin Mừng (Ga
17,11b-19)
Lạy
Cha, xin cho họ nên một như chúng ta.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
11b Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên
trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh
Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. 12 Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ
họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong
họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13 Bây giờ, con đến cùng Cha, và
con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui
của con. 14 Con
đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về
thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15 Con không xin Cha cất họ khỏi
thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16 Họ không thuộc về thế gian cũng
như con đây không thuộc về thế gian. 17 Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha
là sự thật. 18 Như
Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. 19 Vì họ, con xin thánh hiến chính
mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.”
--Trích sách Lẽ Sống
-Tôi Chết Thay Cho
Thầy Tôi-
Một tu sĩ Hồi Giáo nọ quy tụ được 60 môn sinh. Sau một thời gian giáo huấn họ, ông quyết định như sau: Ta thấy đã đến lúc phải làm một cuộc hành trình mới. Ta không biết những gì sẽ xảy ra cho thầy trò chúng ta. Các ngươi hãy tuân giữ các điều ta đã truyền dạy cho các ngươi. Hãy nhớ điều này: trong bất cứ lúc nào, hễ ta giơ tay lên trời thì các ngươi hãy hô lớn: "Tôi chết thay cho thầy tôi".
Ðám môn sinh nhận thấy không thể chấp nhận được một đề nghị xem ra điên rồ như thế, cho nên 59 người đã bỏ cuộc trở về với nếp sống cũ của họ. Chỉ có một người chấp nhận điều kiện và quyết tâm đi theo thầy mình cho đến cùng. Hai thầy trò lên đường mà không biết đi về đâu. Họ đi mãi cho đến lúc tới một thành phố do một bạo chúa cai trị. Không bao lâu thì họ vào thành phố, ông bạo chúa đã ra lệnh cho các binh lính như sau: "Các ngươi hãy bắt giữ lấy tên du thử du thực đầu tiên và điệu đến đây cho ta. Ta muốn treo cổ hắn để làm một bài học cho bọn vô lại trong thành phố này".
Thế là bọn lính đã đến bắt người đệ tử của vị tu sĩ và điệu đến trước mặt bạo chúa. Giữa lúc cuộc hành quyết sắp bắt đầu, thì vị tu sĩ mới xuất hiện giữa đám đông và hô lớn: "Thưa quan lớn, xin hãy giết tôi, vì chính tôi là người đã dụ dỗ thanh niên này bỏ nhà ra đi để sống kiếp sống lang thang như tôi". Nói xong ông giơ tay lên trời.
Vừa thấy cử chỉ ấy của vị thầy, người thanh niên mới gào lên: "Thưa quan lớn, tôi muốn chết thay cho thầy tôi".
Quan bạo chúa nghe thế, mới hỏi các viên cố vấn của mình như sau: "Họ là ai mà sẵn sàng chết thay cho nhau?". Quan bạo chúa mới cho điệu vị tu sĩ đến trước mặt và yêu cầu giải thích cho cặn kẽ về mối tương quan giữa thầy trò.
Vị tu sĩ Hồi Giáo mới bình tĩnh phát biểu như sau: "Thưa quan lớn, chúng tôi có nghe nói rằng bất cứ ai được giết trong thành phố này đều được phúc trường sinh bất tử. Dĩ nhiên, nghe biết như thế, cho nên thầy trò chúng tôi mới hăm hở đến đây để được chết như thế".
Nghe thế, quan bạo chúa mới mỉm cười, rồi ra lệnh trả tự do cho họ. Người môn sinh chợt hiểu được rằng ai hy sinh mạng sống mình thì sẽ tìm lại được nó.
Cái chết của Ðức Kitô trên thập giá đều là vô nghĩa, nếu cái chết đó không phải là cái chết cho mọi người. Thập giá của Ðức Kitô sẽ chỉ là một ô nhục, nếu thập giá đó không là biểu trưng của tình yêu, sự hy sinh.
Bước theo Ðức Kitô trong cuộc tử nạn, vác lấy thập giá và đi theo Ngài không là một việc làm nhiệm ý và tùy hứng, nhưng là đòi hỏi thiết yếu của ơn gọi Kitô. Con đường của Ðức Kitô chính là con đường của tình yêu, của hy sinh hiến thân cho người khác.
-------------
Lời Chúa T Năm 20/05/2021, sau CN lễ Chúa Thăng Thiên
--Bài đọc 1 (Cv 22,30; 23,6-11)
Con cũng phải làm chứng tại Rô-ma nữa.
Bài
trích sách Công vụ Tông Đồ.
22 30 Hôm ấy, vì muốn biết chắc chắn
người Do-thái tố cáo ông Phao-lô về điều gì, vị chỉ huy cơ đội tháo xiềng cho
ông và ra lệnh cho các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng họp lại, rồi ông
đưa ông Phao-lô từ đồn xuống, để ra trước mặt họ.
23 6 Ông Phao-lô biết rằng một phần
Thượng Hội Đồng thuộc phái Xa-đốc, còn phần kia thuộc phái Pha-ri-sêu, nên ông
nói lớn tiếng giữa hội nghị : “Thưa anh em, tôi là người Pha-ri-sêu, thuộc dòng
dõi Pha-ri-sêu ; chính vì hy vọng rằng kẻ chết sẽ sống lại mà tôi bị đưa ra xét
xử.” 7 Ông
vừa nói thế, thì người Pha-ri-sêu và người Xa-đốc chống đối nhau, khiến hội
nghị chia rẽ. 8 Thật
vậy, người Xa-đốc chủ trương rằng chẳng có sự sống lại, chẳng có thiên sứ hay
quỷ thần ; còn người Pha-ri-sêu thì lại tin là có. 9 Người ta la lối om sòm. Có mấy
kinh sư thuộc phái Pha-ri-sêu đứng lên phản đối mạnh mẽ : “Chúng tôi không thấy
người này có gì là xấu. Biết đâu một vị thần hay một thiên sứ đã nói với ông ấy
?” 10 Hai
bên chống đối gay gắt đến nỗi vị chỉ huy sợ người ta xé xác ông Phao-lô, nên
mới ra lệnh cho lính xuống lôi ông ra khỏi đám người đó mà đưa về đồn.
11 Đêm ấy Chúa đến bên ông Phao-lô
và nói : “Hãy vững lòng ! Con đã long trọng làm chứng cho Thầy ở Giê-ru-sa-lem
thế nào, thì con cũng phải làm chứng như vậy tại Rô-ma nữa.”
--Tin Mừng (Ga
17,20-26)
Xin
cho họ được hoàn toàn nên một.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
20 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên
trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, Con không chỉ cầu nguyện cho những người
này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, 21 để tất cả nên một, như Cha ở
trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ
tin rằng Cha đã sai con. 22 Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha
đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một : 23 Con ở trong họ và Cha ở trong
con, để họ được hoàn toàn nên một ; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha
đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.
24 “Lạy Cha, con muốn rằng con ở
đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng
vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con
trước khi thế gian được tạo thành. 25 Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không
biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha
đã sai con. 26 Con
đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương
con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.”
-- Trích sách Lẽ Sống
-Kẻ Ăn Cắp Một Ổ Bánh Mì-
Người ta thường kể về một trong những ông thị
trưởng đầu tiên của thành phố New York bên Hoa Kỳ giai thoại như sau: một ngày
mùa đông lạnh buốt nọ, ông thị trưởng phải chủ tọa các phiên tòa. Người ta điệu
đến trước mặt ông một ông lão quần áo tả tơi. Người đàn ông này bị tố cáo là đã
ăn cắp một mẩu bánh mì. Lời tự biện hộ duy nhất mà người đàn ông khốn khổ đưa
ra là: "Gia đình tôi đang chết đói".
Nghe xong lời cáo buộc của cử tọa cũng như
lời biẹn bạch của ông lão, viên thị trưởng đưa ra phán quyết như sau:
"Luật pháp không tha thứ cho bất cứ một hành động xấu nào. Tôi thấy cần
phải trừng phạt ông, và hình phạt cho tội ăn cắp là ông phải đóng 10 đô la".
Vừa công bố bản án, ông thị trưởng rút trong túi của mình ra 10 đô la và trao
cho ngưòi đàn ông khốn khổ. Quay xuống cử tọa ông nói tiếp: "Ông lão đã
bồi thường vì tội ăn cắp của ông. Còn phần quý vị, tôi yêu cầu mỗi người phải
đóng 50 xu tiền phạt vì sống dửng dưng đến độ để cho trong thành phố của chúng
ta còn có một người nghèo phải đi ăn cắp". Nói xong, ông ra lệnh cho viên
biện lý đi thu tiền vả trao tất cả cho ông lão.
Khi chiếc mũ đã được truyền một vòng tòa án
và trở về tay mình, ông lão đếm được tất cả 47 đô la 50 xu.
Trong sứ điệp Mùa Chay năm 1991, Ðức thánh
Cha Gioan Phaolô II mời gọi chúng ta hãy đọc và suy ngẫm về bài dụ ngôn người
giàu có và Lazarô.
Mới nghe qua, chúng ta có cảm tưởng người
giàu có trong bài dụ ngôn đã không làm điều gian ác nào để đến độ phải bị trầm
luân. Chúa Giêsu đã không nói: ông đã trộm cướp, hay biển lận hoặc gian xảo
trong việc làm ăn. Ngài cũng không kết án việc ông ngày ngày yến tiệc linh
đình.
Vậy thì đâu là tội của người phú hộ? Thưa đó
là tội dửng dưng trước nỗi khổ của người khác. Chúa Giêsu nói đến sự hiện diện
ngày qua ngày của một người khốn khổ trước cửa nhà ông để cho chúng ta thấy sự
đang tâm làm ngơ của người giàu có... Máu chảy, ruột mềm. Trước cảnh khốn khổ
của người đồng loại, mà người giàu có ấy vẫn không biểu lộ một chút xúc động
hoặc làm như không nhìn thấy, thì quả thật không gì đáng trách bằng, bởi vì
người giàu có đã làm cho trái tim của mình khô cứng.
Dửng dưng trước nỗi khổ của người khác không là một thái độ vô thưởng vô phạt, mà là một hành động tội ác. Ông thị trưởng thành phố New York trong câu chuyện trên đây quả thực đã thấy được tội ác của chính ông và của thị dân của ông đối với lão ông ăn cắp bánh mì.
-------------
--Bài đọc 1 (Cv
28,16-20.30-31)
Ông
Phao-lô ở lại Rô-ma và rao giảng Nước Thiên Chúa.
Bài
trích sách Công vụ Tông Đồ.
16 Khi chúng tôi vào Rô-ma, ông Phao-lô
được phép ở nhà riêng cùng với người lính canh giữ ông.
17 Ba ngày sau, ông mời các thân
hào Do-thái đến. Khi họ đã tới đông đủ, ông nói với họ : “Thưa anh em, tôi đây,
mặc dầu đã không làm gì chống lại dân ta hay các tục lệ của tổ tiên, tôi đã bị bắt
tại Giê-ru-sa-lem và bị nộp vào tay người Rô-ma. 18 Sau khi điều tra, họ muốn thả
tôi, vì tôi không có tội gì đáng chết. 19 Nhưng vì người Do-thái chống đối, nên bó buộc
tôi phải kháng cáo lên hoàng đế Xê-da ; tuy vậy không phải là tôi muốn tố cáo
dân tộc tôi. 20 Đó
là lý do khiến tôi xin được gặp và nói chuyện với anh em, bởi chính vì niềm hy
vọng của Ít-ra-en mà tôi phải mang xiềng xích này.”
30 Suốt hai năm tròn, ông Phao-lô ở
tại nhà ông đã thuê, và tiếp đón tất cả những ai đến với ông. 31 Ông rao giảng Nước Thiên Chúa và
dạy về Chúa Giê-su Ki-tô, một cách rất mạnh dạn, không gặp ngăn trở nào.
--Tin Mừng (Ga
21,20-25)
Chính
môn đệ này đã viết ra những điều đó và lời chứng của người ấy là xác thực.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
20 Khi ấy, ông Phê-rô quay lại, thì
thấy người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau ; ông này là người đã
nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi : “Thưa Thầy, ai là kẻ
nộp Thầy ?” 21 Vậy
khi thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, còn anh này thì
sao ?” 22 Đức
Giê-su đáp : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc
gì đến anh ? Phần anh, hãy theo Thầy.” 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ
ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là : “Anh ấy sẽ
không chết”, mà chỉ nói : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy
đến, thì việc gì đến anh ?”
24 Chính môn đệ này làm chứng về
những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác
thực.
25 Còn có nhiều điều khác Đức
Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới
cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.
-- Trích sách Lẽ Sống
-Thiên Chúa Tạo Dựng Con Người-
Người Ấn Ðộ thường kể câu chuyện ngụ ngôn về
việc sáng tạo con người như sau: Một hôm Thiên Chúa quyết định tạo dựng con
người, nghĩa là làm một tạo vật đẹp nhất giữa các tạo vật. Dĩ nhiên, khi Thiên
Chúa vừa công bố quyết định, các Thiên thần đã tỏ ra không mấy hồ hởi, một phần
vì ganh tị, một phần vì không thể chấp nhận được một ý tưởng xem ra quá kỳ cục
ấy. Làm sao tưởng tượng được một thụ tạo vừa thuộc về hạ giới, lại vừa tham dự
vào đời sống thần linh. Làm sao có được một hữu thể vừa là một mảnh của thời
gian, lại vừa mang tính vĩnh cửu? Làm sao chấp nhận được giữa vật chất và tinh
thần?
Các Thiên Thần không thể tưởng tượng được
rằng Thiên Chúa có thể tạo dựng được một tạo vật như thế. Các vị e ngại rằng ý
tưởng ấy sẽ hạ giảm quyền năng và sự khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa.
Ðể ngăn chặn Thiên Chúa trong ý định của
Ngài, các Thiên Thần mới bầu ra một ủy ban. Sau nhiều ngày ráo riết làm việc,
ủy ban đã soạn xong một kiến nghị đệ trình lên Chúa gồm những điểm như sau:
tinh thần không thể kết hợp với vật chất, bản tính thiên thần không thể kết hợp
với bản tính thú vật, cái có cùng không thể hòa hợp với cái không cùng, cái
chóng qua đi không thể đi đôi với điều vĩnh hằng, do đó yêu cầu Thiên Chúa hãy
từ bỏ ý định điên rồ của Ngài.
Sau khi đọc kỹ bản kiến nghị, Thiên Chúa đưa
ra phán quyết như sau: "Tất cả những góp ý của các người đều hợp lý. Nhưng
điều ta sắp thực hiện không phải là một vấn đề triết học". Các Thiên Thần
đều nhao nhao hỏi: "Vậy thì vấn đề đó là gì?". Sau một hồi thinh
lặng, Thiên Chúa chậm rãi đáp: "Con người là vấn đề của Niềm Tin". Ngài
thinh lặng, rồi phán quyết: "Con người là vấn đề của Niềm Tin".
Trong một xã hội được xây dựng trên luật của
cá lớn ăn hiếp cá bé, trong một xã hội mà nền tảng đã bị đục khoét bởi lọc lừa,
gian trá, phản bội, đố kỵ, hận thù, con người dễ mất đi niềm tin nơi con người,
bởi vì khi không tin ở người, con người cũng không còn tin ở chính mình. Một
cuộc sống như thế chẳng khác nào một cuộc tự hủy, một cuộc tự sát tập thể.
Thiên Chúa yêu thương mọi người. Ngài tiếp
tục tin tưởng nơi con người, Ngài cũng mời gọi chúng ta tin tưởng nơi con
người... Thay vì tự giam hãm trong khép kín, trong đố kỵ, chúng ta hãy ra khỏi
chính mình để đến với người... Ðến với người bằng sự thông cảm tha thứ, cho dẫu
chúng ta chỉ gặp toàn những lừa đảo phản bội. Ðến với người bằng những san sẻ
sớt chia, cho dẫu chúng ta chỉ toàn gặp những bội bạc, vong ân. Ðến với người
bằng tiếng cười rộn rã, cho dẫu chúng ta chỉ gặp toàn đắng cay, sầu muộn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét