Lời
Chúa, chú thích và suy niệm T Tư sau CN XX TN, năm lẻ, 21/8/2019
15 Chẳng lẽ tôi lại
không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt
bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?
Suy nghĩ (sửa lại năm 2015)
Bài Tin Mừng hôm nay có câu cuối giống với bài Tin Mừng hôm
trước là đứng đầu lại xuống chót, chót lại nhảy lên đầu. Tại sao lại có sự
nghịch lý đó? Tôi nghĩ người vào làm vườn nho đầu tiên, thay vì được công đầu
lại bị xếp xuống công cuối (công cuối sau cả những người tới rất trễ). Ông ta
đến sớm nên phải làm nhiều, vất vả cực nhọc và ông muốn người vào sau, ít và
vất vả cực nhọc hơn, phải được ít tiền hơn ông ta. Ông muốn công bình kiểu cào
bằng, ông không muốn người khác được hưởng lòng thương xót bởi ông chưa hề biết
xót thương. Lời Chúa -qua miệng ông chủ vườn nho- cho ông ta biết, người đến
sớm, phải xuống chót vì ghen tức với những người tới sau. Ghen tức là không
muốn ai bằng hay hơn mình, ghen tức là muốn người khác mất đi cái họ có, cái mà
mình ao ước mà không có được. Lòng ghen phát xuất từ tự ái, ích kỷ, là mình yêu
mình quá sức. Ghen tức ghen ghét là nguồn cơn phát sinh muôn vàn giống tội, nó hủy
hoại nhân cách con người và biến con người thành nhỏ nhen, ti tiện.
- Thưa Cha,
Đấng vô cùng đáng mến của chúng con, chúng con hết lòng càm tạ vì muôn điều tốt
lành Cha đã làm cho chúng con. Chúng con nài van Lòng xót thương của Cha, không
chỉ cho riêng chúng con nhưng cho tất cả mọi người, chúng con cầu xin điều đó cậy
nhờ công nghiệp của Con Cha, Chúa chúng con trong sự hiệp thông của Chúa Thánh
Thần đến muôn thuở muôn đời, amen.
Thánh Thư:
6 Bấy giờ tất cả thân hào Si-khem cùng toàn dân Bết Mi-lô họp
lại, kéo đến tôn A-vi-me-léc lên làm vua, bên cạnh cây sồi trước bia đá ở
Si-khem.
7 Khi người ta báo tin ấy cho ông Giô-tham, ông liền lên đứng trên đỉnh núi Gơ-ri-dim, cất tiếng gọi và nói với những người kia rằng: "Hỡi các thân hào Si-khem! Hãy nghe tôi đây, thì Thiên Chúa cũng sẽ nghe các người.
8 Cây cối đã lên đường đi xức dầu phong một vua cai trị chúng. Chúng nói với cây ô-liu: "Hãy làm vua cai trị chúng tôi!
9 Nhưng cây ô-liu nói với chúng: "Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ dầu của tôi là thứ đã từng làm cho thần minh và người đời được tôn trọng, mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?
10 Cây cối liền nói với cây vả: "Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!
11 Nhưng cây vả bảo chúng: "Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ vị ngọt và trái ngon của tôi mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?
12 Bấy giờ cây cối nói với cây nho: "Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!
13 Nhưng cây nho bảo chúng: "Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ rượu của tôi là thứ đã từng làm cho thần minh và người đời phấn khởi, mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?
14 Tất cả cây cối liền nói với bụi gai: "Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!
15 Bụi gai trả lời cây cối: "Nếu quả thật các ngươi xức dầu phong ta làm vua cai trị các ngươi, thì hãy tới nương náu dưới bóng ta; bằng không, lửa sẽ bốc ra từ bụi gai và sẽ thiêu rụi các cây bá hương Li-băng! (Tl 9, 6-15)
7 Khi người ta báo tin ấy cho ông Giô-tham, ông liền lên đứng trên đỉnh núi Gơ-ri-dim, cất tiếng gọi và nói với những người kia rằng: "Hỡi các thân hào Si-khem! Hãy nghe tôi đây, thì Thiên Chúa cũng sẽ nghe các người.
8 Cây cối đã lên đường đi xức dầu phong một vua cai trị chúng. Chúng nói với cây ô-liu: "Hãy làm vua cai trị chúng tôi!
9 Nhưng cây ô-liu nói với chúng: "Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ dầu của tôi là thứ đã từng làm cho thần minh và người đời được tôn trọng, mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?
10 Cây cối liền nói với cây vả: "Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!
11 Nhưng cây vả bảo chúng: "Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ vị ngọt và trái ngon của tôi mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?
12 Bấy giờ cây cối nói với cây nho: "Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!
13 Nhưng cây nho bảo chúng: "Chẳng lẽ tôi lại từ bỏ rượu của tôi là thứ đã từng làm cho thần minh và người đời phấn khởi, mà đi đu đưa trên cây cối hay sao?
14 Tất cả cây cối liền nói với bụi gai: "Hãy đến làm vua cai trị chúng tôi!
15 Bụi gai trả lời cây cối: "Nếu quả thật các ngươi xức dầu phong ta làm vua cai trị các ngươi, thì hãy tới nương náu dưới bóng ta; bằng không, lửa sẽ bốc ra từ bụi gai và sẽ thiêu rụi các cây bá hương Li-băng! (Tl 9, 6-15)
Tin Mừng:
*1 "Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình.2 Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc.3 Khoảng giờ thứ ba, ông lại trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ.4 Ông cũng bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng."5 Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy.6 Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: "Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết? "7 Họ đáp: "Vì không ai mướn chúng tôi." Ông bảo họ: "Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!"8 Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: "Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất."9 Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền.10 Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền.11 Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ:12 "Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt."13 Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: "Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao?14 Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó.15 Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức? "16 Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. (Mt 20, 1-16a)
Chú thích (từ CGKPV, ấn bản
LCCMN)
* 20,1 Dụ ngôn này làm cho nhiều người ngạc
nhiên. Họ thấy rằng cho tất cả các người thợ được lãnh cùng một thù lao là bất
công, trong khi nhóm người này thì làm việc và chịu cực nhọc lâu giờ hơn nhóm
người kia.
Chắc chắn
Chúa Giê-su đã muốn gây sốc và xoá đi trong trí óc chúng ta cái ý tưởng cố hữu
là “chúng ta đã lập công thì Chúa phải biết cho”.
Nhưng
cũng nên nghiên cứu kỹ hơn dụ ngôn này. Chúa Giê-su so sánh không phải người
làm công này với người làm công kia, mà là nhóm người này với nhóm người kia.
Cũng như bao nhiêu dụ ngôn khác, đây là một “dụ ngôn về Nước Trời” : mỗi nhóm
tiêu biểu cho một quốc gia hay một tầng lớp xã hội, và trong khi một số đã được
đón nhận lời Chúa từ lâu, số nhóm kia vừa mới đạt tới đức tin thôi.
Qua bao
nhiêu thế kỷ, Thiên Chúa kêu gọi nhiều dân tộc khác nhau làm việc trong vườn
nho của Người. Trước hết, Người gọi ông Áp-ra-ham và giao cho dòng dõi ông thể
hiện công trình của Người trong thế giới. Sau đó, vào thời ông Mô-sê, nhiều
nhóm người khác đã nhập đoàn với nhóm dân ông để ra khỏi nước Ai-cập, và cứ tiếp
tục như vậy trong suốt chiều dài lịch sử. Những người kỳ cựu không ngừng đòi
quyền được đãi ngộ tốt hơn kẻ khác ; thật ra vườn nho đâu phải được giao cho họ
độc quyền trông coi.
Tiếp
theo, khi Chúa Ki-tô đến, Tin Mừng được loan báo cho những dân tộc khác, trước
đó là ngoại đạo. Họ gia nhập Hội Thánh và làm thành khối Ki-tô giáo. Và tới
phiên họ cũng sẽ tự cho mình là chủ nhân Nước Trời và Giáo Hội. Ngày nay, một
vài nhóm người trong xã hội kêu trách khi Giáo Hội phê bình về những đặc ân của
họ và không dành cho họ vị trí hàng đầu nữa : hoá ra hồi nào tới giờ họ cứ
tưởng rằng Giáo Hội là sở hữu của họ.
Trong dụ
ngôn, mọi người đều ngang hàng với nhau hết và nhận cùng một quan tiền như nhau. Chớ gì ai nấy vui
mừng vì, đang lúc thất nghiệp, lại được kêu đi làm việc !
----------
CHÚNG TA KHÔNG MẤT LÒNG CẬY TRÔNG
TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MA-RI-A
NỮ TỲ CỦA CHÚA
NHỮNG KẺ KHIÊM NHƯỜNG
-----------------------
Lời Chúa và chú thích
T Năm 22/8/2019, Đức Mẹ Nữ Vương
“Vâng, tôi đây là nữ tỳ
của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
Thánh Thư:
*1Dân đang lần bước giữa tối tăm
đã thấy một ánh sáng huy hoàng ;
đám
người sống trong vùng bóng tối,
nay
được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
2Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ,
đã
tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ
mừng vui trước nhan Ngài
như
thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như
người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.
3Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập
xuống vai họ,
và
ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy
như
trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an.
4Vì mọi giày lính nện xuống rần rần
và
mọi áo choàng đẫm máu
sẽ
bị đem thiêu, làm mồi cho lửa.
5Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta,
một
người con đã được ban tặng cho ta.
Người
gánh vác quyền bính trên vai,
danh
hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh,
người
Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình.
6Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền
hoà bình vô tận
cho
ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít.
Người
sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền
trên
nền tảng chính trực công minh,
từ
nay cho đến mãi muôn đời.
Vì
yêu thương nồng nhiệt,
ĐỨC
CHÚA các đạo binh sẽ thực hiện điều đó. (Is 9,1-6)
Tin Mừng:
*26Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa
sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se,
thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.
28Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân
sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29Nghe lời ấy, bà rất
bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp
lòng Thiên Chúa. 31Và này đây bà sẽ thụ
thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao.
Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên
Người. 33Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại
của Người sẽ vô cùng vô tận.”
34Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra cách
nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !”
35Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng
Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là
Con Thiên Chúa. 36Kìa bà Ê-li-sa-bét,
người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai :
bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. 37Vì đối với Thiên Chúa,
không có gì là không thể làm được.”
38Bấy giờ bà Ma-ri-a nói : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của
Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi. (Lc 1,26-38)
Chú thích (từ CGKPV, ấn bản
LCCMN)
* 9,1 Bài thơ này có lẽ đã được viết vào năm
732, khi vua Át-sua vừa mới tiêu diệt vương quốc Ít-ra-en ở phương bắc, một
nước vừa là ruột thịt vừa là kẻ thù. Theo tập tục của họ, người Át-sua dẫn một
phần trong dân đến tận cuối biên giới của đế quốc họ : ở đấy là cư dân trong
lãnh thổ Dơ-vu-lun và Náp-ta-li sau này sẽ là Ga-li-lê. Bị phân tán giữa các
dân ngoại, họ ra khỏi lịch sử thánh để đi vào bóng
tối.
Cuộc giải
phóng Thiên Chúa hứa cho họ được trình bày như một cuộc chiến thắng lẫy lừng
của Đức Chúa khai mạc triều đại hoà bình : triều đại này là triều đại của Đấng
Em-ma-nu-en, con trẻ sơ sinh.
Dân đang lần bước giữa tối tăm... (c.1) : Sách
Tin Mừng (Mt 4,15) nhìn thấy trong dân này đoàn người đông đảo mà Đức Giê-su
ngỏ lời khi giảng dạy :
– Một dân
bị đủ loại người áp bức thống trị.
– Một dân
tìm đến ánh sáng và không biết đặt hy vọng vào ai trên đời này.
Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta (c.5) : Khi
lớn lên, Người sẽ không đánh mất những đặc tính của trẻ em, nhưng sẽ biết làm
cho các nước chấm dứt thói ngạo nghễ của chúng.
Trẻ này
chắc chắn là người được gọi là Em-ma-nu-en ở 7,15. Ở đây cũng vậy, danh hiệu
của Người nói cho chúng ta biết những điều Thiên Chúa sẽ nhờ Người mà thực
hiện. Qua Người, Thiên Chúa tự mặc khải là Cố
Vấn Kỳ Diệu, nghĩa là Đấng đưa ra những khuyến nghị, những kế hoạch với một
sự khôn ngoan tuyệt vời. Thiên Chúa là Người
Cha như Người đã từng là Cha đối với vua Đa-vít, là Thần Linh dũng mãnhnhư Người đã đấu dũng
mãnh với Gia-cóp. Thủ Lãnh hoà bình:
có lẽ đây vẫn chỉ về Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa sẽ là Thủ Lãnh hoà bình khi
ban tặng chiến thắng cho đức vua Người đã xức dầu tấn phong, như Người đã ban
cho vua Đa-vít.
Giống như
trường hợp danh xưng Em-ma-nu-en, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, các danh xưng
trên hình như được dành trước hết cho Thiên Chúa, nhưng cũng có thể được ứng
dụng cho ông vua tương lai sẽ là vua “của Người”, như từ Mê-si-a chúng ta
thường dùng. Cho người ta hiểu lẫn lộn Thiên Chúa và Đấng Mê-si-a của Người :
đó có phải là điều cố ý hay không ? Dù sao, sự lẫn lộn này loan báo như một sấm
ngôn điều sẽ xảy ra thật sự và điều đối với chúng ta vẫn còn là một mầu nhiệm
cao cả : Thiên Chúa sẽ đích thân ngự đến, nơi con người Đức Giê-su.
Lời loan
báo mới này về cuộc giải phóng vĩnh viễn và về một Đấng Cứu Độ không cho chúng
ta biết khi nào các biến cố này sẽ xảy ra. Trong 7,10-15, chúng tôi đã nói thời
điểm ứng nghiệm các lời Thiên Chúa hứa có thể muộn hơn là chúng ta tưởng.
CHÚNG TA KHÔNG MẤT LÒNG CẬY TRÔNG
Trong
Kinh Thánh có nhiều thí dụ cho thấy lời Thiên Chúa hứa xem như sắp được thực
hiện.
– Một đứa
con trai được Thiên Chúa hứa cho ông Áp-ra-ham, và I-xa-ác được sinh ra, nhưng
người thừa kế đích thực là Đức Ki-tô. Một miền đất được hứa cho ông Áp-ra-ham,
dành cho dòng dõi ông. Thực tế, họ sẽ chiếm hữu đất Ca-na-an, nhưng miền đất
đích thực và vĩnh viễn là Nước Thiên Chúa. Một thái tử nối ngôi được hứa cho
vua Đa-vít, với một vương quốc cũng vĩnh viễn dành cho ông ; nhưng đức vua sẽ
là Đức Ki-tô, chứ không phải vua Sa-lô-môn.
Về đề tài
này phải đọc ch. 11 của thư Híp-ri : chương này ca ngợi những người từ thế kỷ
này sang thế kỷ khác tìm kiếm thành trì vĩnh cửu.
Kinh
Thánh giáo dục đức cậy trông của chúng ta. Kinh Thánh cho chúng ta thấy những
mục đích khác nhau của cuộc sống, tất cả những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta
hy vọng, được xem như những bậc thang dẫn tới Gia Nghiệp mà chúng ta sẽ được
hưởng ở cuối cuộc đời chúng ta, và ở điểm cuối của lịch sử. Thiên Chúa đã ở với
chúng ta ngay từ những giai đoạn đầu tiên. Như thế, đứa trẻ sinh ra trong một
gia đình mang đến, cùng với bản thân nó, cả niềm vui của Nước Chúa, cả niềm xác
tín rằng Thiên Chúa đích thân đến hiến mình cho nhân loại.
* 1,26 Trình thuật truyền tin sắp cho chúng ta
thấy : so với thánh Gio-an, Chúa Giê-su vượt xa ngàn trùng về phương diện con
người cũng như sứ mạng.
Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a(c.27). Thánh Lu-ca dùng từ trinh nữ hai lần. Tại sao người không
nói : một thiếu nữ hay một thiếu phụ ? Thưa chỉ vì muốn cho nghe
vang dội lời các ngôn sứ đã từng khẳng định Thiên Chúa sẽ được trinh nữ Ít-ra-en đón nhận. Trong bao
nhiêu thế kỷ, Thiên Chúa đã chịu đựng những tội bất tín bất trung của dân Người
và đã tha thứ hết cho họ. Nhưng khi xuống thế làm Đấng Cứu Độ ở giữa chúng ta
thì Người lại muốn được dân Người đón nhận với một tấm lòng trung trinh, hoàn
toàn thuộc về Người. Thời Chúa Giê-su, khi đọc lời ngôn sứ I-sai-a 7,14, đã có
nhiều người nghĩ rằng Đấng Mê-si-a sẽ sinh làm con một người mẹ đồng trinh. Và
sách Tin Mừng nói cho ta biết : Đức Ma-ri-a chính là người
trinh nữsinh hạ Đấng Mê-si-a.
Người nữ
đã được Thiên Chúa chọn ngay từ đầu, để đón nhận Con của Người với một đức tin
hoàn hảo, tất phải là một trinh nữ. Người mẹ sắp truyền tặng cho con người
Giê-su dòng máu trong huyết quản, những nét di truyền, tính tình, giáo dục thuở
còn thơ, tất đã phải núp bóng Đấng Tối Cao mà lớn lên, tựa một đoá hoa ẩn kín
chưa hề bị chiếm hữu, biến cả đời mình thành tặng phẩm hoàn toàn hiến dâng lên
Thiên Chúa Hằng Sống.
Việc ấy sẽ xảy ra cách nào ?(c.34). Sứ thần nói rõ rằng thánh
Giu-se sẽ không can dự một chút gì trong việc bà sinh con : Đấng sinh làm con
Đức Ma-ri-a cũng là Đấng vẫn hằng ở trong Thiên Chúa, được Thiên Chúa sinh ra,
là Con của Thiên Chúa Cha (x. Ga 1,1).
Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà (c.35). Sách
Thánh vẫn nói đến đám mây toả đầy Đền Thờ (1 V 8,10), dấu chỉ sự hiện diện của
Thiên Chúa bao phủ và chở che thành thánh Giê-ru-sa-lem (Hc 24,4). Khi sử dụng
hình ảnh này, sách Tin Mừng cho thấy Đức Ma-ri-a trở thành nơi Thiên Chúa ngự.
Thánh Thần ngự đến không phải trên Chúa Con, nhưng trước hết trên Đức Ma-ri-a :
bà sẽ thụ thai do quyền năng Chúa Thánh Thần, không cần đến sự can thiệp của
nam nhân. Sự kiện Chúa Giê-su đầu thai nơi Đức Ma-ri-a là hiệu quả và biểu
hiện, trên bình diện sinh học, của một động tác đức tin có một không hai trong
lịch sử, nhờ đó Đức Ma-ri-a đã hoàn toàn đón nhận Ngôi Lời duy nhất và hằng hữu
của Thiên Chúa Cha.
Như thế,
Giao Ước giữa Thiên Chúa và nhân loại giờ đây mới được thể hiện. Giao Ước này
sẽ không chỉ là “công trình” của Chúa Giê-su : chính bản thân Người đã là Giao
Ước muôn đời. Trong một gia đình, một đứa trẻ sinh ra thuộc trọn về bên nội
cũng như bên ngoại : đứa trẻ ấy là mối giao ước nối kết hai gia đình trước đó
xa lạ với nhau. Như thế, khi sinh làm con của Chúa Cha và của Đức Ma-ri-a, Chúa
Giê-su là hiện thân của Giao Ước giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại, và đức
tin của Hội Thánh đâm rễ sâu vào đó : “Chúa Giê-su đích thực là Thiên Chúa và
đích thực là người.”
“Đức
Ma-ri-a trọn đời đồng trinh” là một lời khẳng định trong truyền thống Ki-tô
giáo, mà truyền thống này chỉ tìm cách giúp chúng ta đi vào chiều sâu những dữ
kiện đã được chép trong Kinh Thánh mà thôi. Làm sao có thể nghĩ rằng, sau khi
đã được Thiên Chúa yêu mến, viếng thăm như thế để thể hiện Giao Ước chung cuộc giữa
Người với nhân loại nơi bản thân mình, Đức Ma-ri-a lại có thể khép mình ấp ủ
một tình yêu phàm trần và hiến thân cho một đối tượng khác, cho dầu đối tượng
này là ông Giu-se, người tôi tớ hoàn hảo của Thiên Chúa đi nữa ? Đã đành là Tin
Mừng có nói đến các “anh em của Chúa Giê-su” : chúng tôi làm sáng tỏ vấn đề này
ở Mc 3,31.
Một câu
hỏi khác : trước khi được sứ thần đến viếng, Đức Ma-ri-a có chủ ý giữ mình đồng
trinh hay không ? Về chuyện đó, sách Tin Mừng không đưa ra một điều gì khác
ngoài lời thưa của Đức Ma-ri-a : Tôi
không biết đến việc vợ chồng. Nên nhớ : Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se đã
thành hôn tuy chưa về chung sống với nhau, vậy theo luật Do-thái thì hai người
được hưởng mọi quyền lợi của đời sống hôn nhân (Mt 1,18-20). Có thể lời đó chỉ
là một kiểu hành văn dẫn tới câu trả lời của sứ thần về việc Đức Ma-ri-a thụ
thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Nhưng mọi sự trở thành sáng tỏ hơn với giả
thiết Đức Ma-ri-a đã tận hiến bản thân mình cho Thiên Chúa độc nhất. Một quyết
định như thế rất xa lạ đối với não trạng người Do-thái, nhưng cũng chắc chắn
rằng Tin Mừng rực sáng với những quyết định mới mẻ, làm cho cả những người tín
hữu đương thời cũng phải ngạc nhiên.
TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MA-RI-A
Chỉ một
mình Đức Ma-ri-a mới có thể cho Hội Thánh sơ khai biết về mầu nhiệm Người thụ
thai làm mẹ Chúa Giê-su. Nhưng Người đã nói lên kinh nghiệm nội tâm ấy như thế
nào, và làm sao thuật lại được chuyện ấy ? Vậy sách Tin Mừng sẽ dùng những từ
ngữ và hình ảnh trong Kinh Thánh, quen thuộc đối với độc giả, để diễn đạt những
điều như thế.
Sứ thần Gáp-ri-en (c.26). Gáp-ri-en là tên vị sứ thần bậc nhất đã xuất hiện
trong sách Đa-ni-en để loan báo công trình cứu độ (Đn 8,16 ; 9,21). Vậy là Tin
Mừng muốn cho chúng ta biết rằng, đối với Đức Ma-ri-a, tất cả đã bắt đầu bằng
niềm xác tín rằng người đang ở tâm điểm thời gian và không gian, nơi số phận
của thế giới được quyết định.
Mừng vui lên (c.28). Đây là lời mời các ngôn sứ đã từng ngỏ với “thiếu
nữ Xi-on”, tức là cộng đoàn những người khiêm nhu đang trông đợi Vị Cứu Tinh
đến (Xp 3,14 ; Dcr 9,9).
Đấng đầy ân sủng. Từ dùng trong Tin Mừng có nghĩa chính xác là được sủng ái. Có những người khác cũng đã
được yêu mến, được tuyển chọn, sủng ái, nhưng ở đây tính từ này trở thành như
tên riêng của Đức Ma-ri-a.
Nghe lời ấy, bà rất bối rối. Khác với trường hợp ông Da-ca-ri-a
(1,12), bản văn không nói Đức Ma-ri-a sợ
hãi khi được đi sâu vào mầu nhiệm của Thiên Chúa. Người vốn luôn sống
trong ý thức có Thiên Chúa hiện diện và hướng dẫn mọi quyết định của mình,
nhưng khi được biết ơn gọi có một không hai của mình, thì không khỏi bối rối.
Bà sẽ thụ thai (c.31). Ở đây, Tin Mừng mượn lại những bản văn Cựu Ước
khác nhau : một số báo trước tương lai của một trẻ mới sinh, số khác cho thấy
Thiên Chúa giao phó một sứ mạng. X. St 16,1 ; Xh 3,11 ; Tl 6,11. Trên đây chúng
ta đã nhắc tới đoạn Is 7,14 loan báo về Đấng Em-ma-nu-en,
nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.
Đức Ma-ri-a sẽ đặt tên cho Người là Giê-su,
nghĩa là Vị Cứu Tinh.
Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời. Nhà Gia-cóp là dân
Ít-ra-en. Chúa Giê-su sẽ là Vị Cứu Tinh, thuộc dòng dõi vua Đa-vít, mà các ngôn
sứ đã báo trước : 2 Sm 7,16 ; Is 9,6.
Người sẽ nên cao cả (c.32). Tin Mừng không viết cao
cả trước mặt Chúa như viết về ông Gio-an Tẩy Giả (1,15) tuy ông chỉ là
một người phàm. Con Đấng Tối Cao và Con vua Đa-vít : hai cụm từ này chỉ
Đấng Mê-si-a (2 Sm 7,14 ; Tv 2,7). Vì thế nói rõ ông Giu-se thuộc dòng dõi vua Đa-vít là điều quan
trọng (1,27) : x. bình giải Mt 1,20.
NỮ TỲ CỦA CHÚA
Tôi đây là nữ tỳ của Chúa(c.38). Đức Ma-ri-a không tự hạ một
cách giả tạo, nhưng nói lên thái độ sãn sàng của mình. Người sẽ sinh ra Đấng
vừa là người Tôi Trung được các
ngôn sứ báo trước (Is 42,1 ; 49,5 ; 52,13), vừa là Người
Con của Thiên Chúa (Hr 1).
Từ nữ tỳ có thể làm cho nhiều người lầm
hiểu Thiên Chúa như một ông chủ lợi dụng bầy tôi nhằm đạt mục đích của mình chứ
không thật sự yêu mến họ. Những người đó cho rằng nếu Thiên Chúa trao cho Đức
Ma-ri-a một trách nhiệm thiết thực trong biến cố Nhập Thể của Con mình thì
Người đâu còn là Thiên Chúa cao cả một cách tuyệt đối nữa.
Nhưng
nghĩ như vậy là hoàn toàn trái ngược với tinh thần Kinh Thánh. Thiên Chúa đâu
cần một nữ tỳ để cho Con của Người một thể xác phàm nhân, nhưng Người muốn tìm
một người mẹ cho người Con ấy ; và để Đức Ma-ri-a thật sự trở thành người mẹ
đó, thì Chúa Cha ắt đã phải đoái nhìn và yêu mến Người hơn bất cứ thụ tạo nào
khác. Vì thế mà Người được gọi là Đấng
đầy ân sủng.
Chúng ta
gọi là ân sủng quyền năng thuộc về
Thiên Chúa có sức chữa lành tâm trí chúng ta, trợ giúp đức tin của chúng ta và
cho chúng ta biết tự động có những nghĩa cử yêu thương thật sự. Chúng ta gọi là ân sủng tất cả những gì bắt nguồn từ
Thiên Chúa Hằng Sống nhưng còn phải nẩy mầm trên trái đất chúng ta : Is 45,8 ;
Tv 85,12. Đức Ma-ri-a thật sự đầy ân
sủng, vì Chúa Giê-su đã sinh làm con của Người cũng như Người vốn sinh làm
Con Thiên Chúa Cha từ muôn thuở.
Đó là lý
do vì sao Hội Thánh tin rằng Đức Ma-ri-a có một vị trí độc nhất trong kế hoạch
Thiên Chúa cứu độ chúng ta. Người là công trình kỳ diệu vô song mà Thiên Chúa
đã thực hiện khi bắt đầu tái tạo nhân loại theo hình ảnh của Người. Bên cạnh
Chúa Ki-tô là A-đam mới (Rm 5,14 ; 1 Cr 15,45), Đức Ma-ri-a là người mẹ thật
của loài người, đối lập với bà E-và tội lỗi.
NHỮNG KẺ KHIÊM NHƯỜNG
Lời
Chúa và suy niệm T Sáu sau CN XX thường niên, 23/8/2019
"Ngươi
phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí
khôn ngươi.
Suy nghĩ: (lấy lại năm 2015)
Nếu hỏi điều răn nào chính yếu, quan trọng, cốt lõi nhất theo
luật Môi-sê và các Sách Luật Israel thì ai cũng có thể trả lời là yêu Chúa và
yêu người. Như vậy, theo đạo Chúa chẳng có khó khăn gì ngoài việc luyện 1 chữ
Yêu!
Yêu Chúa là mối tình riêng biệt, không được san sẻ cho bất cứ ‘thần’ nào hay thế lực nào khác; còn yêu người lại là mối tình phổ quát, không nên bó, không nên buộc, không nên dành riêng cho một cá nhân nào.
Tình yêu đôi lứa có thể ngập tràn hạnh phúc hoặc đắng cay, nhưng thường đắng cay nhiều hơn hạnh phúc vì vậy mới có câu “yêu là khổ!”
Chúa không bao giờ phản bội, khi yêu Chúa tôi không bao giờ sợ khổ; khi yêu riêng một ai đó, có thể ngày nào đó họ sẽ trả lại tình tôi và điều đó hẳn không làm tôi dễ chịu!
Yêu Chúa là mối tình riêng biệt, không được san sẻ cho bất cứ ‘thần’ nào hay thế lực nào khác; còn yêu người lại là mối tình phổ quát, không nên bó, không nên buộc, không nên dành riêng cho một cá nhân nào.
Tình yêu đôi lứa có thể ngập tràn hạnh phúc hoặc đắng cay, nhưng thường đắng cay nhiều hơn hạnh phúc vì vậy mới có câu “yêu là khổ!”
Chúa không bao giờ phản bội, khi yêu Chúa tôi không bao giờ sợ khổ; khi yêu riêng một ai đó, có thể ngày nào đó họ sẽ trả lại tình tôi và điều đó hẳn không làm tôi dễ chịu!
Thánh Thư:
1 Vào thời các thủ lãnh cai trị, một nạn đói xảy ra trong xứ.
Có một người cùng với vợ và hai con trai bỏ Bê-lem miền Giu-đa mà đến ở trong
cánh đồng Mô-áp.3 Rồi ông Ê-li-me-léc, chồng bà Na-o-mi, chết đi, còn lại bà
Na-o-mi và hai đứa con.4 Hai người này lấy vợ
Mô-áp, một người tên là Oóc-pa, người kia tên là Rút. Họ ở lại đó chừng mười
năm.5 Rồi Mác-lôn và Kin-giôn cả hai đều chết, còn lại bà Na-o-mi
mất chồng, mất con.6 Bà lên đường cùng với hai người con dâu, bỏ cánh đồng Mô-áp
mà trở về quê hương, vì tại cánh đồng Mô-áp, bà nghe nói là ĐỨC CHÚA đã viếng
thăm dân Người và cho họ có bánh ăn.7 Vậy
bà cùng với hai con dâu ra khỏi nơi họ đã ở mà lên đường trở về xứ Giu-đa.
8 Bà Na-o-mi nói với hai con dâu: "Thôi, mỗi người chúng con hãy trở về nhà mẹ mình. Xin ĐỨC CHÚA tỏ lòng thương chúng con, như chúng con đã tỏ lòng thương những người quá cố và mẹ!9 Xin ĐỨC CHÚA cho mỗi người chúng con tìm được cuộc sống an nhàn dưới mái nhà một người chồng! " Rồi bà ôm hôn hai con dâu. Họ oà lên khóc.10 Họ thưa: "Chúng con muốn cùng mẹ trở về với dân của mẹ."11 Bà Na-o-mi nói: "Các con ơi, về đi, theo mẹ làm gì? Trong lòng mẹ còn con trai nào nữa đâu mà gả chồng cho các con.12 Về đi, các con ơi! Đi đi! Mẹ quá già rồi, không còn tái giá được nữa. Cho dù mẹ có nói được: mẹ còn hy vọng, ngay đêm nay sẽ lấy chồng và sinh được con trai,13 thì chẳng lẽ chúng con cứ đợi mãi cho đến khi chúng lớn lên? Chẳng lẽ chúng con cứ ở vậy, không chịu lấy chồng? Không, các con ơi! Tình cảnh chúng con làm mẹ cay đắng lắm, vì tay ĐỨC CHÚA giáng phạt mẹ."14 Hai người con dâu lại oà lên khóc. Oóc-pa ôm hôn từ giã mẹ chồng, 16 Rút đáp: "Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ mà trở về, không theo mẹ nữa, vì mẹ đi đâu, con đi đó, mẹ ở đâu, con ở đó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con.
22 Thế là từ cánh đồng Mô-áp, bà Na-o-mi trở về cùng với con dâu người Mô-áp là Rút. Họ đã đến Bê-lem vào đầu mùa gặt lúa mạch.(R 1, 1.3-6.14b-16.22)
8 Bà Na-o-mi nói với hai con dâu: "Thôi, mỗi người chúng con hãy trở về nhà mẹ mình. Xin ĐỨC CHÚA tỏ lòng thương chúng con, như chúng con đã tỏ lòng thương những người quá cố và mẹ!9 Xin ĐỨC CHÚA cho mỗi người chúng con tìm được cuộc sống an nhàn dưới mái nhà một người chồng! " Rồi bà ôm hôn hai con dâu. Họ oà lên khóc.10 Họ thưa: "Chúng con muốn cùng mẹ trở về với dân của mẹ."11 Bà Na-o-mi nói: "Các con ơi, về đi, theo mẹ làm gì? Trong lòng mẹ còn con trai nào nữa đâu mà gả chồng cho các con.12 Về đi, các con ơi! Đi đi! Mẹ quá già rồi, không còn tái giá được nữa. Cho dù mẹ có nói được: mẹ còn hy vọng, ngay đêm nay sẽ lấy chồng và sinh được con trai,13 thì chẳng lẽ chúng con cứ đợi mãi cho đến khi chúng lớn lên? Chẳng lẽ chúng con cứ ở vậy, không chịu lấy chồng? Không, các con ơi! Tình cảnh chúng con làm mẹ cay đắng lắm, vì tay ĐỨC CHÚA giáng phạt mẹ."14 Hai người con dâu lại oà lên khóc. Oóc-pa ôm hôn từ giã mẹ chồng, 16 Rút đáp: "Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ mà trở về, không theo mẹ nữa, vì mẹ đi đâu, con đi đó, mẹ ở đâu, con ở đó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con.
22 Thế là từ cánh đồng Mô-áp, bà Na-o-mi trở về cùng với con dâu người Mô-áp là Rút. Họ đã đến Bê-lem vào đầu mùa gặt lúa mạch.(R 1, 1.3-6.14b-16.22)
Tin Mừng:
34 Khi nghe tin Đức
Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp
nhau lại. -35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức
Giê-su để thử Người rằng:36 "Thưa Thầy, trong sách Luật
Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?"37 Đức Giê-su
đáp: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết
linh hồn và hết trí khôn ngươi.38 Đó là điều răn quan trọng
nhất và điều răn thứ nhất.39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống
điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.40 Tất
cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy." (Mt
22, 34-40)------------
Lời
Chúa T Bảy 24/8/2019, thánh Bartôlômêô tông đồ
"Đây
đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối."
Thánh Thư:
trong số
bảy thiên thần mang bảy chén đầy bảy tai ương cuối cùng, một vị đến bảo tôi:
"Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Tân Nương, Hiền Thê của Con Chiên."10 Rồi
đang khi tôi xuất thần, thì người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ
cho tôi thấy Thành Thánh, là Giê-ru-sa-lem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà
xuống,11 chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực sáng tựa đá
quý tuyệt vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê.12 Thành có
tường rộng và cao, với mười hai cửa do mười hai thiên thần canh giữ, và trên
các cửa có ghi tên mười hai chi tộc con cái Ít-ra-en.13 Phía
đông có ba cửa, phía bắc ba cửa, phía nam ba cửa và phía tây ba cửa.14 Tường
thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con
Chiên. (Kh 21:9b-14)
Tin Mừng:
45 Ông Phi-líp-phê gặp
ông Na-tha-na-en và nói: "Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới,
chúng tôi đã gặp: đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét."46 Ông
Na-tha-na-en liền bảo: "Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được?"
Ông Phi-líp-phê trả lời: "Cứ đến mà xem!"47 Đức
Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng: "Đây
đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối."48 Ông
Na-tha-na-en hỏi Người: "Làm sao Ngài lại biết tôi?" Đức Giê-su trả
lời: "Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã
thấy anh rồi."49 Ông Na-tha-na-en nói: "Thưa Thầy,
chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en!"50 Đức
Giê-su đáp: "Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh
tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa."51 Người
lại nói: "Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các
thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người." (Ga
1:45-51)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét