Lời
Chúa và chú thích CN XXII thường niên năm C 1/9/2019
(Bản văn và chú thích
trích từ nhóm Phiên dịch CGKPV; ấn bản LCCMN)
11Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống;
Lời nguyện ngắn (TTL):
-
Lạy
Cha là chúa tể đất trời, ảnh hưởng bởi tội nguyên tổ nên mầm mống kiêu ngạo
luôn tiềm ẩn trong con, thâm tâm con luôn muốn thống trị người khác, thâm tâm
con luôn muốn có quyền phép như Cha. Xin Cha ban ơn giúp sức để chúng con có
thể sống khiêm nhượng theo Lời và theo mẫu gương Con Cha đã dạy đã sống amen.
Bài Đọc I:
18 Càng làm lớn, con càng phải tự hạ,
như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.
20 Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao:
Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường.
21 Đừng tìm những điều khó quá đối với con,
những điều vượt sức con, con đừng xét tới.
như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.
20 Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao:
Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường.
21 Đừng tìm những điều khó quá đối với con,
những điều vượt sức con, con đừng xét tới.
30 Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi.
31 Ai đền ơn đáp nghĩa là biết lo xa,
lúc sa cơ, người ấy sẽ tìm được nơi nương tựa. (Hc 3:19-21.30-31)
31 Ai đền ơn đáp nghĩa là biết lo xa,
lúc sa cơ, người ấy sẽ tìm được nơi nương tựa. (Hc 3:19-21.30-31)
Bài Đọc II:
18 Anh em đã chẳng tới một quả núi sờ thấy được, có lửa đang
cháy, mây mù, bóng tối và giông tố,19 có tiếng kèn vang dậy, và
tiếng nói thét gầm, khiến những kẻ nghe phải van xin đừng để lời ấy thốt ra với
họ nữa,22 Nhưng anh em đã tới núi Xi-on, tới thành đô Thiên
Chúa hằng sống, là Giê-ru-sa-lem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh
em đã tới dự hội vui,23 dự đại hội giữa các con đầu lòng của
Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên
Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được
nên hoàn thiện.24 Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới
là Đức Giê-su và được máu của Người rảy xuống, (Dt 12:18-19.22-24a)
Bài Tin Mừng:
1Một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ
lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa : họ cố dò xét Người.
*7Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi, nên nói
với họ dụ ngôn này : 8“Khi anh được mời đi
ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh
cũng được mời, 9và rồi người đã mời cả
anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng : ‘Xin ông nhường chỗ cho
vị này.’ Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. 10Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho
người đã mời anh phải đến nói : ‘Xin mời ông bạn lên trên cho.’ Thế là anh
sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn. 11Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ
được tôn lên.”
*12Rồi Đức Giê-su nói với kẻ đã mời Người rằng : “Khi nào
ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc
láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. 13Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn
tật, què quặt, đui mù. 14Họ không có gì đáp lễ,
và như thế, ông mới thật có phúc : vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành
sống lại.” (Lc
14,1.7-14)
Chú thích (Mt)
* 14,7 Ở đây, Chúa Giê-su triển khai một châm
ngôn Kinh Thánh khuyên người ta có thái độ khiêm nhu trong quan hệ xã giao (Cn
25,6- 7). Thái độ này phù hợp với con cái Thiên Chúa. Trong mọi lãnh vực sinh
hoạt, chúng ta đừng có ham được giống những kẻ giẫm lên người khác để trèo lên
địa vị cao. Thiên Chúa biết cách “đề cao kẻ khiêm nhường” và đặt họ ở đâu tuỳ ý
Người.
Khi chúng
ta qua khỏi đời này mà về ở bên Thiên Chúa thì sẽ có biết bao điều bất ngờ ! Có
thể là một vị giáo hoàng, một giám mục hay một nhân vật Công Giáo nổi danh nào
đó bị xếp đứng sau một bà cụ già đã từng bán báo hay một kẻ vô gia cư đã từng
ăn xin ở cửa nhà thờ.
* 14,12 Chúng ta tìm kết bạn với người trên
mình, nghĩ rằng giao du với người trên thì thú vị hơn với kẻ dưới. Thậm chí
nhiều khi người ta còn dạy trẻ con tránh chơi với những bạn “thiếu giáo dục”,
hoặc là, thành thật mà nói, tránh xa những người sẽ chẳng giúp chúng tìm được
một địa vị tốt hơn trong xã hội.
Những lời
này của Chúa Giê-su lưu ý một trong những nguyên nhân chính gây nên bất công.
Tất cả chúng ta đều có lỗi khi quyết định cấu kết với những người có thể mang
lợi ích đến cho mình ; mạnh ai nấy tìm cách vươn lên, để mặc những kẻ yếu kém
hơn trong cảnh bơ vơ, tứ cố vô thân.
THOÁI THÁC
------------
Lời Chúa, chú thích và suy niệm T
Hai sau CN XXII thường niên ngày QK 2/9/2019, cầu cho tổ quốc (Bản văn và chú thích
trích từ nhóm Phiên dịch CGKPV; ấn bản LCCMN)
“Hôm nay đã ứng nghiệm lời
Kinh Thánh quý vị vừa nghe."
Suy nghĩ (TTL, lấy lại năm 2015)
“Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." Lời Kinh Thánh đó là gì? - Là những câu đầu ở chương 62 Sách ngôn sứ Isaia (theo tôi có thể Chúa đọc từ 4 câu trở lên)
1 Thần khí của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong tôi,
sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn,
băng bó những tấm lòng tan nát,
công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm,
ngày phóng thích cho những tù nhân,
2 công bố một năm hồng ân của ĐỨC CHÚA,
một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta;
Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than,
3 tặng cho những kẻ khóc than ở Xi-on
tấm khăn đại lễ thay tro bụi,
dầu thơm hoan lạc thay tang chế,
áo ngày hội thay tâm thần sầu não.
Người ta sẽ gọi họ là cây thánh rừng thiêng,
là vườn cây ĐỨC CHÚA trồng để làm cho Người được vinh hiển.
4 Họ sẽ tái thiết những tàn tích cổ xưa,
sẽ dựng lại những hoang tàn thuở trước,
tu bổ những thành bị bỏ hoang,
những chốn hoang tàn từ bao thế hệ.(Is 62, 1-4)
Chúa xuống trần gian để cứu chuộc cà nhân loại, nhưng Chúa không quên số phận của từng con người. Chúa yêu thương từng con người nhỏ bé, nghèo hèn, đau yếu bệnh tật, tù đày, sầu khổ…
“Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." Lời Kinh Thánh đó là gì? - Là những câu đầu ở chương 62 Sách ngôn sứ Isaia (theo tôi có thể Chúa đọc từ 4 câu trở lên)
1 Thần khí của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong tôi,
sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn,
băng bó những tấm lòng tan nát,
công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm,
ngày phóng thích cho những tù nhân,
2 công bố một năm hồng ân của ĐỨC CHÚA,
một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta;
Người sai tôi đi yên ủi mọi kẻ khóc than,
3 tặng cho những kẻ khóc than ở Xi-on
tấm khăn đại lễ thay tro bụi,
dầu thơm hoan lạc thay tang chế,
áo ngày hội thay tâm thần sầu não.
Người ta sẽ gọi họ là cây thánh rừng thiêng,
là vườn cây ĐỨC CHÚA trồng để làm cho Người được vinh hiển.
4 Họ sẽ tái thiết những tàn tích cổ xưa,
sẽ dựng lại những hoang tàn thuở trước,
tu bổ những thành bị bỏ hoang,
những chốn hoang tàn từ bao thế hệ.(Is 62, 1-4)
Chúa xuống trần gian để cứu chuộc cà nhân loại, nhưng Chúa không quên số phận của từng con người. Chúa yêu thương từng con người nhỏ bé, nghèo hèn, đau yếu bệnh tật, tù đày, sầu khổ…
Chúa có thể làm phép lạ mọi nơi mọi lúc, nhưng ngay ở làng quê
Nazareth của mình, Chúa cũng đành bất lực trước thành kiến và sự cứng lòng của
những người đồng hương (x Mc 6, 5a)
Sư vụ của tôi là tiếp nối sứ vụ của Chúa, không thể cứu độ được
ai nhưng tôi phải yêu mến, giúp đỡ từng con người cụ thể, nhất là những người
nhỏ bé. Tôi có trách nhiệm đem Tin Mừng, đem niềm vui, đem sự giài thoát đến
mọi ngươi; dĩ nhiên để làm được điều đó tôi phải có Tin Mừng, niềm vui và tự
do.
-
Lạy
Chúa xin đừng để chúng con sống trong đói nghèo và lạc hậu. Xin cho chúng con
có lòng yêu chuộng hòa bình và biết phản kháng lại sự bất công, sư ức hiếp để đất
nước VN được độc lập thực sự, tự do thực sự, dân chủ thực sự. Lạy Đấng Từ bi hay
Thương xót, xin Người thương xót dân tộc chúng con, amen.
Thánh Thư:
13 Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng.14 Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su.15 Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu.16 Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên;17 rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi.18 Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau. (1 Tx 4, 13-18)
-----------
13 Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng.14 Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su.15 Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu.16 Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên;17 rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi.18 Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau. (1 Tx 4, 13-18)
-----------
Lời Chúa, chú thích T
Ba sau CN
XXII thường niên 3/9/2019 (Bản văn và chú thích
trích từ nhóm Phiên dịch CGKPV; ấn bản LCCMN)
"Câm đi, hãy xuất khỏi người này!"
Lời nguyện:
Lời nguyện:
- Lạy
Thầy hết sức kính
yêu! Lời Thầy là thuốc chữa lành các bệnh tật, Lời Thầy khiến các thần ô uế
phải khiếp sợ, chúng con xin hết lòng chúc tụng quyền năng của Thầy. Thầy là
Đấng Toàn năng, Hằng hữu và Hiển trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến
muôn muôn đời, amen
Thánh Thư:
1 Thưa
anh em, về ngày giờ và thời kỳ Chúa đến, anh em không cần ai viết cho anh em.2 Vì
chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm.3Khi
người ta nói: "Bình an biết bao, yên ổn biết bao! ", thì lúc ấy tai
hoạ sẽ thình lình ập xuống, tựa cơn đau chuyển bụng đến với người đàn bà có
thai, và sẽ chẳng có ai trốn thoát được.
4 Thưa anh em, anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em.5 Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối.6 Vậy chúng ta đừng ngủ mê như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và sống tiết độ. 9 Vì Thiên Chúa đã không định cho chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ, nhưng được hưởng ơn cứu độ, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta,10 Đấng đã chết vì chúng ta, để dầu thức hay ngủ, chúng ta cũng sống với Người.11 Vì thế, anh em hãy an ủi nhau và xây dựng cho nhau, như anh em vẫn làm. (1 Tx 5,1-6.9-11)
4 Thưa anh em, anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em.5 Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối.6 Vậy chúng ta đừng ngủ mê như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và sống tiết độ. 9 Vì Thiên Chúa đã không định cho chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ, nhưng được hưởng ơn cứu độ, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta,10 Đấng đã chết vì chúng ta, để dầu thức hay ngủ, chúng ta cũng sống với Người.11 Vì thế, anh em hãy an ủi nhau và xây dựng cho nhau, như anh em vẫn làm. (1 Tx 5,1-6.9-11)
Tin Mừng:
*31Người xuống Ca-phác-na-um, một thành miền Ga-li-lê, và
ngày sa-bát, Người giảng dạy dân chúng. 32Họ sửng sốt về cách
Người giảng dạy, vì lời của Người có uy quyền.
*33Trong hội đường, có
một người bị quỷ thần ô uế nhập, la to lên rằng : 34“Ông Giê-su Na-da-rét,
chuyện chúng tôi can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi ? Tôi biết ông
là ai rồi : ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa !” 35Nhưng
Đức Giê-su quát mắng nó : “Câm đi, hãy xuất khỏi người này !” Quỷ vật
người ấy ngã xuống giữa hội đường, rồi xuất khỏi anh ta, nhưng không làm hại gì
anh. 36Mọi người rất đỗi kinh ngạc và nói với nhau : “Lời ấy là thế nào
? Ông ấy lấy uy quyền và thế lực mà ra lệnh cho các thần ô uế, và chúng phải
xuất !” 37Và tiếng đồn về Người lan ra khắp nơi trong vùng. (Lc 4,31-37)
Chú thích:
4*31 (Lc và Mc 1,21) Khi bắt đầu rao giảng, Chúa
Giê-su giảng dạy trong các hội đường. Hội đường là nhà cầu
nguyện của người Do-thái. Mỗi ngày thứ bảy, họ họp nhau tại đây để hát thánh vịnh
và nghe đọc Sách Thánh. Ông trưởng hội đường giảng dạy và mời các người khác tiếp
lời. Chính tại hội đường mà Chúa Giê-su tỏ mình ra : Người giảng dạy không như
những người khác hay như các thầy thông luật. Họ chỉ biết lặp lại, giải thích
và dựa vào ý của ai đó, còn Chúa Giê-su giảng dạy nhân danh Người, như Đấng
có thẩm quyền : “Quả thật, tôi bảo cho các ông biết...”
* 4,33 (Lc) Tại sao Chúa Giê-su
truyền cho quỷ thần ô uế phải câm miệng ? Ở 4,41 cũng thế. Là vì Chúa Giê-su
không muốn người ta nói về Người những câu như : ông ấy là Đấng Ki-tô hay
là Mê-si-a hoặc Đấng Thánh của Thiên Chúa (tất
cả các danh hiệu này đều có nghĩa là Đấng Cứu Độ, người được Thiên Chúa “xức
dầu tấn phong”). Chúa Giê-su không tự nhận mình là Vị Cứu Tinh theo kiểu người
ta mong đợi, và ma quỷ hoan nghênh Người như thế chẳng phải là nhằm gây rối để
rồi làm hại Người đó sao ? Những lời khen ngợi từ miệng quỷ thần ô uế chỉ làm
cho Người cảm thấy ghê tởm.
Tin Mừng:
*16Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. 17Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng : 18Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19công bố một năm hồng ân của Chúa.
*16Rồi Đức Giê-su đến Na-da-rét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh. 17Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ I-sai-a. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng : 18Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, 19công bố một năm hồng ân của Chúa.
20Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội
đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. 21Người bắt đầu nói với họ : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh
quý vị vừa nghe.” 22Mọi người đều tán
thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.
Họ
bảo nhau : “Ông này không phải là con ông Giu-se đó sao ?”23Người nói với họ : “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ
: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã
làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào !” 24Người nói tiếp : “Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào
được chấp nhận tại quê hương mình.
25“Thật vậy, tôi nói cho các ông hay : vào thời ông Ê-li-a,
khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì
bà goá ở trong nước Ít-ra-en ; 26thế mà ông không được
sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến
giúp bà goá thành Xa-rép-ta miền Xi-đôn. 27Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người mắc bệnh
phong ở trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có
ông Na-a-man, người xứ Xy-ri thôi.”
28Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. 29Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên
núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. 30Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi. (Lc 4, 16-30)
Chú thích:
4,16 Sau một thời gian, khi người ta đã biết
Người là ai rồi, Chúa Giê-su ghé qua Na-da-rét, nhưng lại bị đối xử rất tệ.
Trong trình thuật của mình, thánh Lu-ca cho thấy vì sao Chúa Giê-su thu hút dân
chúng và vì sao, ít là tại Na-da-rét, Người lại bị chối bỏ.
Người gặp đoạn chép rằng(c.17). Đoạn tiếp theo sau trích từ I-sai-a
61,1-2. Ngôn sứ nói về chính sứ mạng của ông : Thiên Chúa đã sai ông đến với
những người Do-thái lưu đày để báo cho họ biết Người sắp đến viếng thăm họ.
Nhưng đem áp dụng lời này cho Chúa Giê-su thì càng đúng hơn nữa, vì Người mang
lại cho loài người tự do đích thực.
Cụm từ trả lại tự do cho người bị áp bức (c.18)
không có trong bản văn I-sai-a : thánh Lu-ca đã lấy từ một chỗ khác cũng của
ngôn sứ ấy (Is 58,6) mà đưa vào đây, bởi vì từ “trả tự do” thâu tóm rõ nhất sự
nghiệp của Chúa Giê-su.
Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh (c.21). Chúa
Giê-su đến khai mở thời đại mới, trong đó Thiên Chúa đích thân hiện diện để hoà
giải loài người với nhau. Thời xưa, cứ mỗi năm mươi năm thì Ít-ra-en mừng năm
toàn xá : trong thời gian một năm ấy, nợ nần được tha, nô lệ được phóng thích
(Lv 25,10). Giờ đây cũng vậy, năm hồng
ân của Chúa bắt đầu. Thời gian hứa hẹn và nói tiên tri đã chấm dứt, và
Thiên Chúa bắt đầu tỏ mình ra cho loài người được biết Người là ai : Chúa
Giê-su mặc khải Cha của Người và Chúa Cha mặc khải Con mình bằng những điềm
thiêng dấu lạ mà người Con ấy thực hiện.
Trả lại tự do cho người bị áp bức. Chúa Giê-su mang
lại sự giải thoát đích thực, bởi vì những việc Người làm đưa tất cả chúng ta
trở về với chân lý : Người Con giải
phóng các ông... sự thật sẽ giải phóng các ông (Ga 8,36.32). Lẽ cố
nhiên, điều mà người Do-thái lúc ấy khát mong nhất là cuộc giải phóng quốc gia.
Tại sao Chúa Giê- su không ra tay làm chuyện đó ? Phải chăng vì Người chỉ lo
“phần linh hồn” mà thôi ?
Thật ra,
Cựu Ước chưa bao giờ loan báo về “phần rỗi linh hồn” theo như kiểu một số người
ngày nay. Những người tín hữu này tưởng cứu được linh hồn mình, trong khi, bằng
thái độ giả câm giả mù, chính họ ngày ngày là kẻ tòng phạm làm cho tội lỗi thâm
nhiễm toàn bộ đời sống xã hội và kinh tế.
Cựu Ước
đã từng loan báo Chúa Giê-su sẽ là Đấng cứu độ dân tộc và nòi giống của mình.
Lời nói, việc làm của Người khơi dậy niềm hy vọng trong lòng kẻ yếu thế, và mở
đường giải phóng nhân loại ở mọi lãnh vực. Nhưng đó như là những hạt giống, và
cần phải kiên nhẫn chờ đợi mới được thấy nó chín muồi và sinh hoa trái.
Chúa
Giê-su chẳng hề ước muốn kết thân với nhóm người cuồng tín, nhóm người bạo động
trong dân tộc mình, để áp đặt trên đất nước một chủ quyền nào đó có lẽ cũng tàn
bạo không kém gì ách thống trị của người Rô-ma. Người đã làm chứng cho sự thật
và đặt nền tảng cho mọi phong trào giải phóng tương lai. Trong thời đại chúng
ta cũng vậy, nếu có những hành động giúp cho con người được giải phóng thì có
thể nói đến chuyện rao giảng Tin Mừng.
Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ
nghèo hèn (c.18) : x. phần bình giải Lc 6,17.
Trong
phần hai, thánh Lu-ca giải thích tại sao dân Na-da-rét đã chối bỏ Chúa Giê-su :
– Trước
hết, vì họ kiêu ngạo : nhiều người hăm hở chạy theo một người lạ, nhưng không
chấp nhận thấy một người cùng giới với mình tự nhiên nổi danh hoặc lên chức làm
thầy mình : Ông này không phải là con
ông Giu-se đó sao ? (x. phần bình giải Mc 6,1).
– Vì họ
ích kỷ : họ không chấp nhận thấy người khác được hưởng ơn lộc của Thiên Chúa.
Vậy Chúa Giê-su nhắc cho họ nhớ rằng các ngôn sứ thời xưa đâu chỉ làm ơn cho
những người đồng hương của các ông mà thôi (x. 1 V 17,7 và 2 V 5).
------------
Lời Chúa và chú thích T
Tư sau CN XXII thường niên 4/9/2019 (trích từ nhóm Phiên dịch CGKPV;
ấn bản LCCMN)
"Tôi
còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa,
Thánh Thư:
Thánh Thư:
1 Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được làm Tông Đồ của Đức
Ki-tô Giê-su, và anh Ti-mô-thê là người anh em, 2 kính gửi
dân thánh tại Cô-lô-xê, là những anh em tín hữu trong Đức Ki-tô. Xin Thiên Chúa
là Cha chúng ta ban cho anh em ân sủng và bình an.
3 Chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức
Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, khi cầu nguyện cho anh em.4 Thật
vậy, chúng tôi đã được nghe nói về lòng tin của anh em vào Đức Ki-tô Giê-su, và
về lòng mến của anh em đối với toàn thể dân thánh; 5lòng tin và
lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên trời, niềm trông
cậy anh em đã được nghe loan báo khi lời chân lý là Tin Mừng6 đến
với anh em; Tin Mừng này đang sinh hoa trái và lớn lên trên toàn thế giới như
thế nào, thì nơi anh em cũng vậy, từ ngày anh em được nghe nói và nhận biết ân
sủng của Thiên Chúa thực sự là gì.7 Anh em đã học hỏi điều này
với anh Ê-páp-ra là người đồng sự yêu quý của chúng tôi và là người thay thế
chúng tôi với tư cách là người phục vụ trung thành của Đức Ki-tô.8 Chính
anh đã cho chúng tôi hay về lòng mến mà Thần Khí ban cho anh em. (Cl 1:1-8)
Tin Mừng:
38 Đức Giê-su rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Si-môn. Lúc
ấy, bà mẹ vợ ông Si-môn đang bị sốt nặng. Họ xin Người chữa bà.39Đức
Giê-su cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất: tức khắc bà
trỗi dậy phục vụ các ngài.
40 Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ
thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ.41 Quỷ
cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng: "Ông là Con Thiên Chúa! "
Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Ki-tô.
42* Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm
Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi.43 Nhưng
Người nói với họ: "Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các
thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó."44 Và
Người rao giảng trong các hội đường miền Giu-đê. (Lc 4:38-44)
Chú thích:
* 1,1 (Cl) Như thường lệ, thánh Phao-lô khen ngợi độc
giả của ngài. Thật ra, lý do thúc đẩy ngài viết thư này là những tin tức mà ông
Ê-páp-ra đã thông báo cho ngài (c.7).
Ông Ê-páp-ra là người Cô-lô-xê. Khi thánh Phao-lô tổ chức công
cuộc rao giảng Tin Mừng trong tỉnh Ê-phê-xô (x. Cv 19,26 và 20,4), ngài không
đến hết mọi thành thị, nhưng gửi các trợ tá ngài tới đó. Ông Ê-páp-ra đã bắt
đầu thành lập các cộng đoàn ở Cô-lô-xê, rồi trong các thành phố lân cận là
Lao-đi-ki-a và Hi-ê-ra-pô-li (x. Cl 4,13). Chính ông đã đi Rô-ma để báo cho
thánh Phao-lô biết về các khó khăn.
Lòng tin của anh em... lòng mến của anh em... niềm trông cậy (c.4). Thánh
Phao-lô luôn gom chung lại ba “sức mạnh” Ki-tô giáo này : tin tưởng, yêu mến và
trông cậy. Trong giới Ki-tô giáo, người ta gọi đó là những “đức” (nghĩa là sức
mạnh theo từ nguyên La-tinh) “đối thần” (nghĩa là nhắm đối tượng là Thiên
Chúa). Cả ba tất phải đi chung với nhau. Hiểu theo một nghĩa nào đó thì đức cậy
đứng đầu, bởi vì khi đức cậy không còn sức sống nữa thì đức tin và đức ái sẽ vô
hiệu.
Ngay khi vào đề, thánh Phao-lô xếp đức tin Ki-tô giáo là ngoại
hạng : Tin Mừng đã được rao giảng và được tin ở khắp nơi trên thế giới (c.6)
–nói thế cũng hơi vội ; đức tin mở cho chúng ta con đường hiểu biết– mà chính
đây là cái mà dân Cô-lô-xê đang tìm kiếm (x. Dẫn Nhập) ; nhờ đức tin này, Thiên
Chúa đã đem chúng ta vào trong cõi đầy ánh sáng (c.12).
Người đã đưa chúng ta vào vương quốc Thánh Tử (c.13). Đang
lúc người Cô-lô-xê bận tâm về thế giới vô hình của những sức mạnh siêu nhiên,
nơi các quyền lực sáng láng tranh đấu với các quyền lực tối tăm (x. Dẫn Nhập và
Ep 1,21), thì thánh Phao-lô đơn giản hoá ngay tình hình : chẳng có gì khác
ngoài quyền lực của bóng tối và vương quốc của Thánh Tử.
* 4,42 (Lc)
Chúa Giê-su là mẫu mực những người được Thiên Chúa sai đi. Người vừa quy tụ
được một số người tâm phúc thì những người này liền tìm cách giữ Người lại vì
nhận thấy Người là một vị ngôn sứ chính danh. Họ ước ao được Người dạy dỗ thêm,
để hình thành một cộng đoàn được Người hướng dẫn.
Nhưng Chúa Giê-su để lại cho người khác nhiệm vụ mục tử (nghĩa
là người lãnh đạo một cộng đoàn nhất định), vì Người nghĩ tới tất cả những ai
còn chờ đợi được nghe Tin Mừng.
--------------
Lời Chúa và chú thích T Sáu sau CN
XXII thường niên 6/9/2019
(Bản văn và chú thích trích từ nhóm
Phiên dịch CGKPV; ấn bản LCCMN)
38Nhưng rượu mới thì phải đổ vào bầu mới
Thánh Thư:
15Thánh Tử
là hình ảnh Thiên Chúa vô hình,
là
trưởng tử
sinh
ra trước mọi loài thụ tạo,
16vì trong Người,
muôn
vật được tạo thành
trên
trời cùng dưới đất,
hữu
hình với vô hình.
Dẫu
là hàng dũng lực thần thiêng
hay
là bậc quyền năng thượng giới,
tất
cả đều do Thiên Chúa tạo dựng
nhờ
Người và cho Người.
17Người có trước muôn loài muôn vật,
tất
cả đều tồn tại trong Người.
18Người cũng là đầu của thân thể,
nghĩa
là đầu của Hội Thánh ;
Người
là khởi nguyên,
là
trưởng tử
trong
số những người
từ
cõi chết sống lại,
để
trong mọi sự Người đứng hàng đầu.
19Vì Thiên Chúa đã muốn
làm
cho tất cả sự viên mãn
hiện
diện ở nơi Người,
20cũng như muốn nhờ Người
mà
làm cho muôn vật
được
hoà giải với mình.
Nhờ
máu Người đổ ra trên thập giá,
Thiên
Chúa đã đem lại bình an
cho
mọi loài dưới đất
và
muôn vật trên trời. (Cl 1,15-20)
Chú thích:
* 1,15 Thánh Phao-lô cho thấy rằng các thiên
thần hay các quyền lực vô hình (c.16),
được nói tới hoặc trong Kinh Thánh hoặc trong các truyện đời xưa của các phái
“ngộ đạo”, với những dũng lực thần
thiêng, quyền năng thượng giới, v.v... đều chẳng là gì cả bên cạnh
Chúa Ki-tô. Người không phải là một trong các tác nhân hay trung gian của một
cuộc sáng tạo phiêu lưu trong đó không có một Đấng Tạo Hoá đích thực nào. Người
cũng không phải là một trong những cứu tinh ở một lịch sử trong đó cuối cùng
không có một vị nào xưng tên mình cả. Thánh Phao-lô cho thấy chỉ có Thiên Chúa
là Đấng Sáng Tạo, và trong Người thì có Chúa Ki-tô.
Trong Gl
4,1-5, thánh Phao-lô nhìn nhận rằng lịch sử của nhân loại đã mang dấu ấn sâu
đậm của những sức mạnh tự nhiên hay xã hội mà ngài không nêu tên cách chính
xác. Nhưng ngài cũng khẳng định rằng ngay từ khi sống lại, chính Chúa Giê-su đã
nắm trong tay tất cả tiến trình của lịch sử (Kh 5,3-5). Đây là điều có thể gây
ngạc nhiên cho những ai trong chúng ta nghĩ rằng lịch sử hoàn toàn ở trong tay
loài người. Họ có lý theo một nghĩa nào đó, nhưng với điều kiện là không được
quên vị trưởng tử, là Đấng đã đạt
tới hồi chung kết của lịch sử, là Đấng mà chúng ta nói Người là Chúa của lịch sử (Pl 2,11).
Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình (c.15). Toàn
thể con người và trong tất cả mọi hành động của mình, Chúa Ki-tô là hình ảnh
hoàn hảo của Chúa Cha, là hiện thân của lòng thương xót Chúa Cha ở giữa chúng
ta. Các hành động của Người tỏ cho chúng ta biết cách suy nghĩ và hành động của
Thiên Chúa. Nhưng trước khi đến trần gian, Con Thiên Chúa đã hiện hữu trong
Thiên Chúa, đã là hình ảnh vĩnh cửu và vô hình của Thiên Chúa vĩnh cửu và vô
hình, là phản ánh vinh quang của Thiên Chúa, là Tiếng Nói hay Ngôi Lời của
Thiên Chúa (Ga 1,1).
Trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo (c.15). Chúng
ta hãy dùng từ này theo nghĩa Kinh Thánh : Người không chỉ đứng đầu một loạt
những thụ tạo, nhưng còn chiếm một vị trí ngoại hạng. Theo bản tính nhân loại,
Chúa Ki-tô là một người Do-thái miền Ga-li-lê, thuộc dòng tộc Đa-vít. Nhưng bản
vị của Người thì phát sinh từ Thiên Chúa, và Người xuất hiện ở giữa chúng ta
như là gương mẫu và trưởng tử, không
phải trưởng tử loài người,
nhưng là trưởng tử mọi loài thụ
tạo.
Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người (c.16) : x. Ga
1,1 và Hr 1,2.
Người có trước muôn loài muôn vật (c.17). Thánh
Phao-lô nói rõ hơn : “Người mở đường” (x. 1 Cr 15,20 và 23). Người không chỉ
đến để chúng ta được ơn tha tội, nhưng còn để thực hiện một cuộc “Vượt Qua”,
một bước từ cõi chết ngang qua sự sống, và sau giờ phút phó thác hoàn toàn cho
Chúa Cha, sự sống lại của Người là một bước đầu tiên tất yếu để chính chúng ta
cũng nghiệm được thế nào là sống lại.
Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi
Người (c.19)
: vì Người như là chiếc cầu duy nhất giữa Thiên Chúa và vũ trụ. Tất cả những gì
thuộc thần tính đều ở nơi Người để được thông ban cho vũ trụ, và tất cả những
gì thuộc vũ trụ lại quy hồi nơi Người, khi tất cả loài người được hoà giải và
tập hợp nơi Người.
Cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải (c.20). Công
trình của Chúa Ki-tô được hiểu như một cuộc hoà giải giữa loài người (2 Cr
5,17-21), đồng thời như một cuộc hoà giải của toàn thể tạo thành.
Tin
Mừng:
33Họ nói với Người :
“Môn đệ ông Gio-an năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pha-ri-sêu cũng
thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống !” 34Đức Giê-su trả
lời : “Chẳng lẽ các ông lại có thể bắt khách dự tiệc cưới ăn chay, khi chàng rể
còn ở với họ ? 35Sẽ có ngày chàng rể bị
đem đi ; ngày đó, họ mới ăn chay.”
36Đức Giê-su còn kể cho họ nghe dụ ngôn này : “Chẳng ai
xé áo mới lấy vải vá áo cũ, vì như vậy, không những họ xé áo mới, mà miếng vải
áo mới cũng không ăn với áo cũ.
37“Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm
nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư. 38Nhưng rượu mới thì
phải đổ vào bầu mới. 39Cũng không ai uống
rượu cũ mà còn thèm rượu mới. Vì người ta nói : ‘Rượu cũ ngon hơn.’” (Lc 5,33-39)
---------------
---------------
Lời Chúa và chú thích T Bảy sau CN
XXII thường niên 7/9/2019
(Bản văn và chú thích: nhóm Phiên
dịch CGKPV; ấn bản LCCMN)
5Rồi Người nói : “Con Người làm chủ ngày
sa-bát.”
Thánh Thư:
*21Cả anh em nữa, xưa kia anh em là những người xa lạ, là thù địch
của Thiên Chúa vì những tư tưởng và hành động xấu xa của anh em. 22Nhưng nay nhờ Đức Giê-su là con người bằng
xương bằng thịt đã chịu chết, Thiên Chúa cho anh em được hoà giải với Người, để
anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người. 23Anh em chỉ cần giữ vững
đức tin, cần được xây dựng vững chắc, kiên quyết và đừng vì nao núng mà lìa bỏ
niềm hy vọng anh em đã nhận được khi nghe loan báo Tin Mừng. Tin Mừng này đã được
rao giảng cho khắp thiên hạ, và tôi, Phao-lô, tôi đã được trở nên người phục vụ Tin Mừng. (Cl 1,21-23)
Chú thích:
* 1,21 Bây giờ
thánh Phao-lô yêu cầu tín hữu Cô-lô-xê sống cho thực tế, đừng mất thời giờ
tưởng tượng những cuộc đấu tranh giữa các hữu thể tốt xấu trên thiên giới :
cuộc chiến diễn ra ở dưới trần gian này, và phải để lại xương máu mình dưới đó.
Chính do đó mà thánh Phao-lô nhắc lại cho độc giả của ngài những gì bản thân
ngài phải chịu vì Tin Mừng.
“Thân Thể Chúa Ki-tô” có
nghĩa là con người (Ki-tô) bằng xương bằng thịt, nơi mà sự hoà
giải với Thiên Chúa và giữa loài người với nhau được thể hiện (Ep
2,14).
Tôi xin mang lấy vào thân
cho đủ mức (c.24). Sau cái
chết của Chúa Ki-tô, có lẽ còn thiếu một cái gì đó trong công trình cứu độ thế
giới, nếu đến lượt mình, các môn đệ và tông đồ của Người không đương đầu với
thử thách và đau khổ. Làm việc cho Hội Thánh có nghĩa là đau khổ vì Hội Thánh ;
làm việc cho công lý ngự trị có nghĩa là đau khổ vì công lý.
Mầu nhiệm đã được giữ kín (c.26) : x. Ep 3,5. Không được quên rằng vào thời thánh
Phao-lô, không ai nghĩ đến vận mệnh chung của loài người : ngay cả từ “nhân
loại”, người ta cũng không nói đến. Thánh Phao-lô ngạc nhiên trước lòng quảng
đại của Thiên Chúa, vì các lời hứa của Người là dành cho tất cả, không phân
biệt ai (c.27). Ân huệ chúng ta được ban cho chẳng là gì khác ngoài việc chia
sẻ vinh quang Thiên Chúa, nghĩa là được tận hưởng chính bản
thân Thiên Chúa toả chiếu ra bên ngoài.
Tin Mừng:
*1Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa ; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn. 2Nhưng có mấy người Pha-ri-sêu nói : “Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát ?”
*1Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa ; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn. 2Nhưng có mấy người Pha-ri-sêu nói : “Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát ?”
3Đức Giê-su trả
lời : “Các ông chưa đọc chuyện này trong Sách sao ? Ông Đa-vít đã làm
gì khi ông và thuộc hạ đói bụng ? 4Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn.
Thứ bánh này, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi.” 5Rồi Người nói : “Con
Người làm chủ ngày sa-bát.” (Lc 6, 1-5)
Chú thích:
* 6,1 Ở đây,
Chúa Giê-su hai lần chống đối tất cả các nhóm Do-thái giáo thời bấy giờ trong
vấn đề giữ ngày sa-bát. X. phần bình giải Mc 3,1.
Xin đừng quên từ sa-bát có
nghĩa là nghỉ ngơi. Thời xưa, Thiên Chúa đã truyền phải thánh hoá
một ngày trong tuần, không hẳn để tụ họp cử hành phụng vụ cho bằng để mọi người
được nghỉ ngơi (Xh 20,10). Bởi vì Thiên Chúa Chí Thánh không muốn một dân thánh
lại làm nô lệ cho nhu cầu ăn uống hằng ngày của mình hoặc cho việc lao động của
mình.
Trong trường hợp thứ
nhất, Chúa Giê-su không tranh luận với nhóm người Pha-ri-sêu chỉ mới thấy người
ta bứt vài bông lúa và tuốt hạt đã cho là làm việc lao động rồi. Người chỉ nhắc
họ nhớ rằng có những người có đức tin rất lớn mạnh, như vua Đa-vít, đôi khi
cũng đã quanh co để tránh giữ luật. Nhưng liền sau đó Người thêm : Con
Người làm chủ ngày sa-bát (c.5). Chúa Giê-su tự cho mình là ai ? Chẳng
có người nào trong dân Do-thái, kể cả vị thượng tế, được miễn cho ai khỏi giữ
luật sa-bát.
Trong trường hợp thứ hai,
Chúa Giê-su có thể nói với người kia : Sao anh lại xin tôi làm một điều bị cấm
làm trong ngày sa-bát ? Ngày mai anh trở lại đây để được chữa bệnh. Nhưng
không, Chúa Giê-su thấy tốt hơn nên đối đầu, bởi vì Tin Mừng là để giải phóng,
và người ta được giải toả khi nhận ra rằng trong xã hội chẳng có gì là tuyệt
đối, cho dù xã hội muốn áp đặt những luật lệ nào đó với nhãn hiệu là bất khả
xâm phạm. Luật hưu lễ (hay luật ngày sa-bát) đúng là một trong những luật căn
bản trong Sách Thánh, nhưng không khỏi có những trường hợp luật đó o ép người
ta thay vì giải toả, vậy phải gác qua một bên. Những luật lệ linh thiêng nhất trong
Giáo Hội cũng thế : tất cả, một lúc nào đó, đều có thể trở thành chướng ngại
vật cho Tin Mừng, và nếu đúng như vậy thì, dưới ánh sáng của Thánh Thần, lương
tâm Ki-tô giáo phải tìm ra một giải pháp cho thời điểm ấy.
Bao lâu người ta còn lệ
thuộc vào một trật tự, vào những luật lệ và quyền hành được coi là linh thiêng
mà không có ai nghĩ tới chuyện phê bình, thì người ta chẳng tự do cũng chẳng
thật sự là con cái Thiên Chúa (x. 1 Cr 3,21-23 ; 8,4 ; Cl 2,20-23). Lòng tôn
kính Thiên Chúa mà huỷ diệt óc phê bình của chúng ta thì đâu có phù hợp với Tin
Mừng ; đạo nào ngăn cản chúng ta đi tìm chân lý và chất vấn tất cả những mối
ray rứt của con người sẽ không phải là đạo thật. Học hỏi Sách Thánh mà không
dám hấp thụ những kiến thức, không dám thu nạp những đóng góp của khoa học thời
nay, sợ rằng quan niệm quá ngây ngô của chúng ta về lịch sử thánh sẽ sụp đổ,
thì đó là một thiếu sót.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét